VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM VIỆN XÃ HỘI HỌC ------------------------------- ĐỀ TÀI CẤP NHÀ NƯỚC 2009 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THẾ GIỚI VỀ MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ XÃ HỘI CHUYÊN ĐỀ 4.2 LÝ LUẬN VỀ VĂN HOÁ TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI Thực hiện: TS. Trịnh Hoà Bình ThS. Thân Trung Dũng HÀ NÔI, 2009 2 MỤC LỤC 1. Tính cấp thiết của chuyên đề.
Mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề. Một số khái niệm. Khái niệm văn hoá. Một số cách tiếp cận nghiên cứu văn hoá trong xã hội học.
Tiếp cận theo thuyết chức năng – cấu trúc (Structural Fontionalisme). Tiếp cận theo thuyết xung đột. Tiếp cận phong cách sinh sống và phong cách văn hóa. Xu hướng phân tích văn hóa và xã hội học thấu hiểu của M.
Vai trò của văn hoá đối với sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh đổi mới ở Việt Nam. Những vấn đề nổi cộm trong nghiên cứu văn hoá với phát triển. Lựa chọn mô hình văn hoá cho sự phát triển ở Việt Nam. Văn hoá - Mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh đổi mới ở Việt Nam.
Kết luận và khuyến nghị .56 TÀI LIỆU THAM KHẢO .2 LÝ LUẬN VỀ VĂN HOÁ TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI 1. Tính cấp thiết của chuyên đề Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội. Quan điểm này được hình thành trên cơ sở coi văn hoá là tổng thể các giá trị mà con người đã tạo nên. Đây là khẳng định mang ý nghĩa tổng kết một cách sáng tạo tiến trình lịch sử của nhân loại.
Ở Việt Nam, chính nền tảng tinh thần của xã hội đã tạo ra sức mạnh vĩ đại của dân tộc. Vì sao Việt Nam - một nước đất không rộng, người không đông, kinh tế kém phát triển mà vẫn đứng vững trước hàng ngàn năm đô hộ của phong kiến Trung Quốc, hàng trăm năm xâm lược của thực dân Pháp và mấy chục năm xâm lược của đế quốc Mỹ, kẻ hùng mạnh nhất của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa tư bản? Phải chăng, sự cố kết dân tộc bằng truyền thống văn hoá lịch sử lâu đời, sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại đã tạo ra sức mạnh đó. Như vậy, văn hoá không chỉ là những giá trị thuộc về thượng tầng kiến trúc, không chỉ là sản phẩm của kinh tế và các chế độ kinh tế, mà văn hoá tạo nên một nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội. Trước đây, nói đến nền tảng, người ta chỉ chú ý đến cơ sở vật chất, cơ sở kinh tế (vốn, nguyên liệu, tài nguyên, hệ thống kết cấu hạ tầng) mà chưa chú ý đến một nền tảng khác, nền tảng văn hoá.
Thực tiễn và kinh nghiệm trong quá trình phát triển của nhiều nước trên thế giới đã chỉ ra rằng quan điểm đó là hết sức sai lầm. Thành công về kinh tế không phải bao giờ cũng dẫn đến việc mở mang văn hoá. Những nước phát triển nhanh trong mấy thập kỷ vừa qua, kể cả Nhật Bản, Mỹ hiện đang phải đương đầu với hiện tượng suy thoái đạo đức và sự đổ vỡ những giá trị truyền thống. Trong khi đó, có những nước phát triển kinh tế chậm hơn lại làm được khá nhiều cho việc xây dựng một môi trường văn hoá lành mạnh.
Như vậy, không phải cứ có thu nhập theo đầu người cao là có văn hoá cao. Vì lẽ đó mà Liên Hợp Quốc đã đưa ra chỉ số phát triển con người, căn cứ không chỉ vào mức thu nhập mà còn cả tỷ lệ sống sau khi sinh, tỷ 4 lệ biết đọc, biết viết và số năm đi học. Cho đến nay, quan điểm phiến diện trước đây đã bị đẩy lùi để nhường chỗ cho một quan điểm toàn diện: vừa coi trọng nền tảng vật chất, vừa coi trọng nền tảng văn hoá của xã hội. Văn hoá không những là nền tảng tinh thần của xã hội, nền tảng của phát triển mà văn hóa đã trở thành mục tiêu của sự phát triển kinh tế, hình thành nên quan niệm mới về phát triển coi trọng các yếu tố nhân văn, xã hội, coi trọng các yếu tố về văn hoá, con người, vốn xã hội, văn hoá doanh nghiệp, văn hoá công sở.
những thứ đó là nền tảng để tạo ra kinh tế, tạo nên sự phát triển bền vững cho xã hội. Như vậy, có thể thấy rõ ràng trong thời đại ngày nay, văn hoá không thể tách rời khỏi sự phát triển kinh tế. Những vấn đề về lý luận văn hoá cần được tiếp tục nghiên cứu và phát triển hơn nữa nhằm xây dựng cơ sở khoa học đề xuất những giải pháp phát triển kinh tế gắn với phát triển văn hoá, hoặc dùng phát triển văn hoá để quản lý tốt xã hội. Trên cơ sở đó cũng giúp chúng ta lựa chọn cho mình một mô hình phát triển phù hợp với Việt Nam.
Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu của đề tài: “Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thế giới về mô hình phát triển xã hội và quản lý xã hội” và những vấn đề lý luận và thực tiễn trên, việc triển khai nghiên cứu chuyên đề: “Lý luận văn hoá Việt Nam trong bối cảnh đổi mới” với tính cách là một chuyên đề trong hệ thống các chuyên đề của đề tài có ý nghĩa hết sức sâu sắc. Mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề - Tìm hiểu một số vấn đề lý luận văn hoá Việt Nam trong bối cảnh đổi mới. - Phân tích những vấn đề nổi cộm của văn hoá giai đoạn đổi mới, vị trí, vai trò của văn hoá đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam, bước đầu lựa chọn mô hình văn hoá cho sự phát triển ở Việt Nam. - Đề xuất giải pháp xây dựng nền văn hoá Việt Nam phù hợp với sự phát triển của xã hội.
Một số khái niệm 3. Khái niệm văn hoá Văn hoá là một khái niệm đa nghĩa. Cho đến nay văn hoá vẫn là một khái niệm phức tạp và khó xác định. Về mặt thuật ngữ khoa học, văn hoá được bắt đầu từ chứ La tinh “Cultus” – nghĩa gốc là gieo trồng thường được dùng ghép với hai từ Agri - đất, ruộng đất và Animi – tinh thần.
Vậy, Cultus Agri là “gieo trồng ruộng đất” và Cultus Animi là “gieo trồng tinh thần” hay “canh tác tinh thần” tức là “sự giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người” Cho đến nay, có tới hơn 400 định nghĩa khác nhau về văn hoá. Mỗi định nghĩa đều xuất phát từ những góc độ riêng, mục đích riêng phù hợp với vấn đề mà họ quan tâm nghiên cứu. Trong lịch sử, định nghĩa được ghi nhận một cách rộng rãi đầu tiên là định nghĩa của E. Tylor, trong tác phẩm “Văn hóa nguyên thủy”, xuất bản tại Luân Đôn vào năm 1881.
Nối tiếp Tylor, người ta đã đưa ra vô số những định nghĩa khác nhằm chuẩn xác hóa định nghĩa của ông. Có thể nói hầu như mỗi ngành, mỗi lĩnh vực, mỗi trường phái, thậm chí là mỗi nhà khoa học đều có các định nghĩa riêng của mình về văn hóa. Vào năm 1952, hai nhà nhân học Mỹ là A. Kluckhohn (1905 - 1960) đã dành riêng một cuốn sách có tên là Văn hóa.
Trong cuốn sách nổi tiếng đó, các ông tập hợp được 161 định nghĩa về văn hóa (trong đó định nghĩa được công bố sớm nhất vào năm 1871, muộn nhất là năm 1951). Cho đến nay, số lượng định nghĩa về văn hóa đã tăng lên nhiều lần, sau Kroeber và Kluckhohn, vẫn có nhiều người tiếp tục sưu tầm, phân loại và phân tích các định nghĩa về văn hóa với mục đích ngày càng hiểu sâu hơn về bản chất, chức năng và những biểu hiện vốn đa dạng và sinh động của nó. Dựa vào cách phân loại của Kroeber và Kluckhohn, cũng như của những người nối tiếp các ông sau đó như L. Belick (2000), Phạm Khiêm Ích (2001), có thể gộp các định nghĩa về văn hóa thành 6 nhóm như sau: Một là, các định nghĩa liệt kê: Đại diện cho nhóm này là định nghĩa của E.
Đây là một định nghĩa chiếm vị trí quan trọng đặc biệt trong truyền thống các khoa học nghiên cứu về văn hóa, nhất là ở phương Tây. Với định nghĩa này, lần đầu tiên văn hóa không còn hiểu bó hẹp ở trường nghĩa “vun trồng cho trí óc” hay “giáo hóa bằng văn” nữa, mà - với các hiện tượng cụ thể được tác giả liệt kê, văn hóa hiện lên như là kết quả trong các lĩnh vực hoạt động của con người, bất luận là các hoạt động đó ở trình độ nào trong các bậc thang tiến hóa. Trên tinh thần đó, định nghĩa của Tylor không những đã chỉ ra sự khác biệt giữa tự nhiên và văn hóa, mà còn tạo ra một cơ sở vững chắc cho thuyết tương đối văn hóa về sau này – một thuyết cho rằng chỉ có sự khác biệt giữa các văn hoá, chứ không coi nền văn hóa nào cao hơn nền văn hóa nào. Hạn chế có tính lịch sử trong định nghĩa của Tylor là ở chỗ nó chưa nói được rõ ràng về văn hóa vật chất và cũng chưa làm rõ được mối liên hệ giữa các yếu tố của văn hóa với tư cách là một chỉnh thể.
Mặt khác, ở định nghĩa này, tác giả chưa có sự phân biệt giữa văn hóa với văn minh - ông coi hai khái niệm chỉ là một. Hai là, các định nghĩa lịch sử: Thuộc nhóm này, có thể viện dẫn định nghĩa của B. Malinowski (1884-1942): “Văn hóa bao gồm các quá trình kế thừa về kỹ thuật, tư tưởng, tập quán và giá trị”. Sapir (1884 - 1939 ) có cùng một quan điểm như vậy: văn hóa là “tổ hợp những phương thức hoạt động và niềm tin tạo thành trụ cột của cuộc sống chúng ta, được kế thừa về mặt xã hội”.
(1) C¸c ®Þnh nghÜa mµ chóng t«i trích dÉn ë phÇn nµy ®Òu ®îc trÝch l¹i trong s¸ch cña c¸c t¸c gi¶ trªn. 7 Mặc dầu khắc phục được những hạn chế trong định nghĩa của Tylor, song các định nghĩa thuộc nhóm này lại dựa trên giả định về sự ổn định của văn hóa, do đó biến văn hóa thành một mô hình cứng nhắc và tĩnh tại. Kiểu định nghĩa này thường bỏ qua tính tích cực của con người trong phát triển và cải biến văn hóa. Ba là, các định nghĩa chuẩn mực: Minh họa cho nhóm này, có thể chọn hai định nghĩa sau làm ví dụ.
Định nghĩa thứ nhất của C. Wissler: “Lối sống mà một công xã hay bộ lạc tuân thủ được gọi là văn hóa”. Định nghĩa thứ hai của W. Thomas (1863-1947), nhà xã hội học Mỹ, là hội viên sáng lập trường phái Chicago.