Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hoá học (mã số: 9229040) với đề tài "Vấn đề quốc học và quốc văn ở Việt Nam đầu thế kỷ XX" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Đoàn Nguyễn Thuỳ Trang tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2022), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Văn Hiệu và TS. Nguyễn Ngọc Quận. Hội đồng chấm luận án ghi nhận phản biện độc lập của TS. Tôn Thị Thảo Miên cùng hai phản biện là PGS.TS. Ngô Minh Oanh và PGS.TS. Lê Quang Trường.

  • Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Vào cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp hoàn thành việc bình định quân sự và bắt đầu triển khai các chương trình khai thác thuộc địa tại Việt Nam cũng như Đông Dương. Chính sách này đã làm biến đổi căn bản cơ cấu kinh tế tự nhiên truyền thống, làm phá sản chính sách bế quan tỏa cảng của triều đình nhà Nguyễn, biến Việt Nam từ một quốc gia quân chủ độc lập thành một xã hội thực dân nửa phong kiến. Quá trình tiếp xúc văn hoá Đông – Tây diễn ra trong điều kiện "công nghiệp hoá cưỡng bức". Cùng với sự xuất hiện của tầng lớp trí thức Tây học (trí thức tân học) và lớp trí thức Nho học có tiếp thu tân học, hệ thống ngôn ngữ văn tự trải qua biến động sâu sắc khi chữ Quốc ngữ dần thay thế chữ Hán và chữ Nôm. Báo chí phát triển trở thành công cụ thiết yếu cho việc truyền bá tri thức mới.

Trước sức mạnh văn minh phương Tây và sự bộc lộ yếu kém của học thuật Nho giáo cũ, giới trí thức Việt Nam tiếp nhận tư tưởng dân chủ tư sản qua luồng tân thư, tân văn, hình thành ý thức mới về quốc gia – dân tộc. Nhu cầu xây dựng một nền học thuật mới, nền quốc học mới nhằm bảo tồn truyền thống và thích ứng với tiến trình văn minh thời đại trở thành tâm điểm của đời sống học thuật trong ba thập niên đầu thế kỷ XX. Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là: các công trình trước đây thường chỉ tập trung vào tiến trình hoàn thiện chữ Quốc ngữ, hiện đại hóa văn học hoặc các loại hình nghệ thuật đơn lẻ; chưa có một công trình chuyên khảo chuyên biệt nào lý giải đầy đủ nguyên nhân sâu xa làm nảy sinh vấn đề quốc học và quốc văn dưới góc độ văn hóa học, đặc biệt là tác động của ý thức mới về quốc gia – dân tộc đối với tiến trình kiến tạo bản sắc và hiện đại hóa văn hóa dân tộc.

  • Mục tiêu nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu của luận án là tìm hiểu vấn đề quốc học, quốc văn đầu thế kỷ XX, góp phần làm rõ đặc điểm của văn hoá Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX. Để thực hiện mục đích này, luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến vấn đề quốc học và quốc văn ở Việt Nam.
  2. Xác lập các cơ sở lý luận, cách tiếp cận đối với vấn đề quốc học, quốc văn.
  3. Làm rõ nguyên nhân và quá trình xuất hiện vấn đề quốc học và quốc văn ở Việt Nam đầu thế kỷ XX.
  4. Phân tích những đặc điểm chính của vấn đề quốc học và quốc văn giai đoạn đầu thế kỷ XX trong so sánh với tư tưởng học thuật truyền thống của Việt Nam và vấn đề quốc học, quốc văn ở một số nước khu vực Đông Á.
  5. Rút ra ý nghĩa lịch sử – văn hoá của vấn đề quốc học và quốc văn ở Việt Nam đối với lịch sử văn hoá giai đoạn đầu thế kỷ XX cũng như bài học trong bối cảnh hội nhập hiện nay.
  • Câu hỏi nghiên cứu:
  1. Quá trình tiếp xúc văn hoá Đông – Tây, bối cảnh thuộc địa và sự tiếp thu các tư tưởng mới tác động ra sao đối với sự xuất hiện vấn đề quốc học, quốc văn ở Việt Nam đầu thế kỷ XX?
  2. Vấn đề quốc học, quốc văn Việt Nam có đặc điểm chung nào so với các nước khu vực Đông Á và có những đặc điểm riêng gì mang tính đặc thù lịch sử?
  3. Vấn đề quốc học và quốc văn đầu thế kỷ XX có liên hệ gì với quá trình kiến tạo bản sắc, hiện đại hoá văn hoá dân tộc?
  • Giả thuyết nghiên cứu:
  1. Vào giai đoạn đầu quốc tế hoá, hiện đại hoá văn hoá, việc tiếp nhận tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây làm xuất hiện ý thức mới về quốc gia – dân tộc (nationalism), từ đó làm nảy sinh vấn đề quốc học, quốc văn ở Việt Nam.
  2. Vấn đề quốc học Việt Nam khởi xướng từ quốc sử và quốc văn, có sự tiếp nối giữa các thế hệ trí thức, gắn với các phong trào cải cách – xã hội, phản ánh xu hướng chung của thời đại và mang tính dung hợp Đông – Tây.
  3. Quá trình nhận thức và tổ chức các hoạt động liên quan đến quốc học và quốc văn là quá trình tham gia kiến tạo bản sắc, hiện đại hoá văn hoá dân tộc.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
  • Đối tượng nghiên cứu chính: Nguyên nhân, quá trình xuất hiện, đặc điểm và ý nghĩa của vấn đề quốc học, quốc văn ở Việt Nam đầu thế kỷ XX. Đối tượng khảo sát cụ thể là các bài viết trên sách, báo chí Việt Nam đầu thế kỷ XX có đề cập đến vấn đề này.
  • Phạm vi không gian: Các tài liệu, bài viết trên sách báo phân bổ khắp ba miền Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ.
  • Phạm vi thời gian: Khoảng hơn ba thập niên đầu thế kỷ XX, xác định từ năm 1900 đến năm 1932.
  • Phạm vi nội dung: Khảo sát quốc học và quốc văn như một hiện tượng văn hóa tổng thể, trong đó quốc học là tinh thần/nội dung và quốc văn là biểu hiện/hình thức.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng quan hệ thống tư liệu nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài:

  • Tình hình nghiên cứu ngoài nước:
  • Nghiên cứu về quốc học tại Đông Á: Tại Nhật Bản, phong trào Kokugaku phát triển từ thời Edo đến thời Minh Trị được phân tích qua các công trình của Uchino Goro (1983) và Susan L. Burns (2003). Tại Trung Quốc, vấn đề Guoxue từ cuối triều Thanh gắn với Chương Thái Viêm, Hồ Thích được khảo cứu qua các nghiên cứu của Gan Chunsong (2009), Arif Dirlik (2011), John Makeham (2011), Liu Dong (2011) và Qingshen Tong (2017). Tại Triều Tiên, phong trào "Triều Tiên học" đầu thế kỷ XX được ghi nhận qua nghiên cứu của Imai Akio (2012), Kim, J. (2017), Nguyễn Lệ Thu và Trần Tùng Ngọc (2020).
  • Nghiên cứu về lịch sử, văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam: David G. Marr trong Vietnamese Anticolonialism (1971) và Vietnamese Tradition on Trial, 1920-1945 (1981); Eugene John Johnston (1973) với Evolution of Vietnamese nationalism; Philippe Papin (2001) với Việt Nam hành trình một dân tộc.
  • Nghiên cứu trực tiếp về quốc học, quốc văn Việt Nam: Bài viết của Imai Akio (2012) trên Tạp chí Nghiên cứu văn học; luận án tiến sĩ của Yufen Chang (2013) tại Đại học Michigan về sự phát triển của chữ Quốc ngữ, quốc văn, quốc học thời thuộc địa 1900-1945; luận văn thạc sĩ của Mimi H. Do (2002) tại Đại học Hawaii; bài viết của Dao Tuyet Thao (2017) về bản sắc văn hóa qua ba hệ thống chữ viết; bài viết của John D. Phan (2018) về ý thức dân tộc và tái xác lập vị thế ngôn ngữ ở Bắc Kỳ.
  • Tình hình nghiên cứu trong nước:
  • Giai đoạn trước năm 1975: Thời kỳ trước 1945 có Thiếu Sơn với Phê bình và cảo luận (1933, bài "Nói chuyện quốc học"), Dương Quảng Hàm với Việt Nam văn học sử yếu (1941), Vũ Ngọc Phan với Nhà văn hiện đại (1942-1945), và bản Đề cương văn hoá Việt Nam (1943) của Đảng Cộng sản Đông Dương. Ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 có Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (1965), Thanh Lãng trong Bảng lược đồ văn học Việt Nam (1967) và Phê bình văn học thế hệ 1932 (1972, 1973), Kim Định với Vấn đề quốc học (1971), Nguyễn Khắc Xuyên với Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong 1917-1934 (1968), Phạm Thị Ngoạn với Tìm hiểu tạp chí Nam Phong 1917-1934 (1973/1993), Huỳnh Văn Tòng với Báo chí Việt Nam từ khởi thuỷ đến 1945 (1973).
  • Giai đoạn từ sau năm 1975 đến nay: Các công trình lịch sử tư tưởng và văn hóa của Chương Thâu (1997, 2015), Trần Văn Giàu (1998), Phan Ngọc (1998, 2018), tuyển tập Luận về quốc học do Mai Quốc Liên chủ biên (1999), Trần Thị Hạnh (2012), Nguyễn Đình Thống chủ biên (2017), Đỗ Quang Hưng và Trần Viết Nghĩa (2019). Các bài viết chuyên luận của Trần Nghĩa (1997), Trần Viết Nghĩa (2007, 2014), Nguyễn Quốc Vương (2016), Nguyễn Văn Hiệu (2016), Trần Đình Hượu và Lê Chí Dũng (1988), Phong Lê (1998), Võ Văn Nhơn (2007), Phạm Đức Dương (2002), Phạm Xuân Thạch (2009), Lã Trọng Đại (2012), Nguyễn Duy Bình (2015), Lê Thị Vân Anh (2017), Phạm Phú Phong (2017), Nguyễn Hữu Sơn (2017), Nguyễn Đức Thuận (2006, 2008) và luận án tiến sĩ của Tạ Anh Thư (2016).
  • Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận vấn đề từ góc độ văn học sử, báo chí học hoặc lịch sử chính trị đơn thuần. Luận án đặt vấn đề quốc học và quốc văn vào trung tâm nghiên cứu chuyên khảo dưới góc nhìn Văn hóa học liên ngành, lý giải căn nguyên hình thành từ ý thức quốc gia – dân tộc trong bối cảnh thuộc địa, đồng thời phân tích tính quy luật khu vực Đông Á và tính đặc thù lịch sử của Việt Nam giai đoạn 1900-1932.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

  • Lý thuyết, khái niệm và khung phân tích:
  • Khái niệm Quốc học: Văn hoá học thuật của một nước, phân biệt với văn hoá học thuật nước ngoài (Mai Quốc Liên, Trần Nghĩa). Luận án đối chiếu sự phân loại thư tịch cổ của Trung Quốc (Kinh, Sử, Tử, Tập từ đời Tấn - Đường; Nghĩa lý, Khảo chứng, Từ chương, Kinh thế thời Minh) với cách phân loại cổ tịch Việt Nam của Lê Quý Đôn (Hiến chương, Thi văn, Truyện ký, Phương kỹ) và Phan Huy Chú (Hiến chương, Thi văn, Truyện ký, Kinh sử).
  • Khái niệm Quốc văn: Văn tự và văn chương nước nhà, trọng tâm là chữ Quốc ngữ trong quá trình xã hội hoá, thay thế chữ Hán – Nôm.
  • Quốc gia – dân tộc (Nation) và Bản sắc văn hoá: Tiếp cận khái niệm quốc gia dân tộc của Đặng Nghiêm Vạn, H. Bhabha, S. Hall; bản sắc văn hoá gồm hai bình diện đặc trưng và ý thức về bản sắc (Nguyễn Văn Hiệu, Chris Barker, Zdzislaw Mach); khái niệm "cộng đồng trong tâm tưởng" (imagined community) của Benedict Anderson; tư tưởng chủ nghĩa dân tộc của Lương Khải Siêu, Hearn, Tonnesson và Antlov.
  • Tính hiện đại (Modernity) và Hiện đại hoá: Quan niệm của Alain Touraine, Max Weber (duy lý hoá và thế tục hoá), Anthony Giddens, Đỗ Quang Hưng và Trần Viết Nghĩa.
  • Loại hình văn hoá Đông – Tây: Loại hình văn hoá gốc nông nghiệp trọng tĩnh và gốc du mục trọng động của Trần Ngọc Thêm; nguồn gốc văn minh Địa Trung Hải và phương Đông của Phạm Đức Dương.
  • Lý thuyết đa hệ thống (Polysystem theory): Lý thuyết của Itamar Even-Zohar về cấu trúc động, quan hệ giữa trung tâm và ngoại vi, phân tầng chuẩn và phi chuẩn trong sự vận động văn hóa, văn học và dịch thuật.
  • Lý thuyết tiếp xúc và tiếp biến văn hoá (Acculturation): Quan niệm của Franz Boas; 4 chiến lược tiếp biến của J.W. Berry (đồng hoá, phân hoá, hội nhập, ngoại vi hoá); quan hệ văn hóa của Phan Ngọc.
  • Tiếp cận văn hoá nhận thức (Cognitive culture): Quan niệm của E.B. Tylor, Trần Ngọc Thêm, R. Nisbett và Lý Toàn Thắng về hệ thống tri nhận văn hóa.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tế:
  • Phương pháp liên ngành văn hoá học: Kết hợp góc nhìn triết học (diễn biến tư tưởng), xã hội học (cấu trúc xã hội thuộc địa), giáo dục học (hình thức và nội dung truyền bá tri thức) và tâm lý học (sự thích ứng, tiếp nhận của trí thức).
  • Phương pháp lịch sử và phương pháp logic: Tái hiện quá trình hình thành, phát triển và quy luật vận động của vấn đề quốc học, quốc văn.
  • Phương pháp so sánh: So sánh nội văn hoá (với học thuật truyền thống) và so sánh xuyên văn hoá (với Nhật Bản, Trung Quốc, Triều Tiên).
  • Phương pháp phân tích nội dung (Content analysis): Khảo sát các diễn ngôn mô thức lặp lại trên sách báo đầu thế kỷ XX.
  • Phương pháp thống kê: Thống kê tần suất các bài báo giới thiệu tư tưởng học thuật phương Đông, phương Tây, hoạt động dịch thuật, sáng tác, phê bình văn học trên 4 ấn phẩm báo chí lớn (Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, Tiếng dân, Phụ Nữ tân văn); khảo sát toàn bộ các ý kiến của giới trí thức về quốc văn được Nam Phong tạp chí sưu tập và đăng tải trong 3 số: số 149 (tháng 4/1930, tr. 311-330), số 168 (tháng 1/1932, tr. 27-44) và số 170 (tháng 3/1932, tr. 284-300).
  • Nguồn tư liệu: Khảo sát hệ thống 6 cơ quan báo chí tiêu biểu: Nông Cổ mín đàm (1901-1904), Đăng Cổ tùng báo (3-11/1907), Đông Dương tạp chí (1913-1919), Nam Phong tạp chí (1917-1932), Tiếng dân (1927-1932) và Phụ Nữ tân văn (1929-1932); kết hợp trước tác, văn thơ của các sĩ phu phong trào Duy tân và Đông Kinh Nghĩa Thục (Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền, Đào Nguyên Phổ...).

Nội dung chính theo từng chương

Bố cục luận án gồm phần Mở đầu (9 trang), 3 Chương nội dung, phần Kết luận (6 trang), Tài liệu tham khảo (14 trang) và Phụ lục (26 trang với 7 bản phụ lục chi tiết cùng 2 bảng danh mục).

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận của vấn đề

Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề quốc học, quốc văn tại Việt Nam và khu vực Đông Á. Luận án chỉ ra rằng vấn đề quốc học, quốc văn nảy sinh có tính quy luật tại các xã hội Đông Á trong bước chuyển tiếp từ thời kỳ truyền thống (cận đại) sang hiện đại, gắn chặt với sự thức tỉnh ý thức quốc gia – dân tộc và yêu cầu xác lập bản sắc văn hóa. Bên cạnh đó, chương này thiết lập khung lý luận văn hóa học với hệ thống khái niệm công cụ (quốc học, quốc văn, quốc gia – dân tộc, tính hiện đại, phương Đông, phương Tây) và 4 hướng tiếp cận lý thuyết nền tảng: văn hóa nhận thức, bản sắc văn hóa, lý thuyết đa hệ thống và lý thuyết tiếp xúc – tiếp biến văn hóa.

Chương 2: Nguyên nhân xuất hiện và quá trình diễn biến của vấn đề quốc học, quốc văn ở Việt Nam đầu thế kỷ XX

Chương 2 làm rõ ba nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự xuất hiện của vấn đề:

  1. Sự tiếp xúc văn hoá Đông – Tây: Cuộc tiếp xúc diễn ra dưới tác động của chính sách thuộc địa, phá vỡ thế bế quan tỏa cảng truyền thống, thúc đẩy xã hội Việt Nam tiếp xúc trực tiếp với văn minh phương Tây.
  2. Bối cảnh thuộc địa và quá trình hiện đại hoá xã hội: Sự phân hóa cơ cấu xã hội, sự ra đời của tầng lớp trí thức mới và sự chuyển dịch hệ thống chữ viết sang chữ Quốc ngữ tạo nhu cầu cấp thiết về việc biên soạn, dịch thuật tri thức mới.
  3. Ảnh hưởng từ các luồng tư tưởng mới: Tác động sâu rộng của phong trào Khai sáng phương Tây, tư tưởng duy tân qua tân thư, tân văn Trung Quốc (Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu) và bài học cải cách Minh Trị Nhật Bản.

Về tiến trình lịch sử, luận án chia diễn biến thành hai giai đoạn:

  • Thập niên đầu tiên của thế kỷ XX (1900-1910): Khởi đầu với phong trào Duy tân, hoạt động của Đông Kinh Nghĩa Thục và các ấn phẩm báo chí buổi đầu (Nông Cổ mín đàm, Đăng Cổ tùng báo), tập trung vào việc cổ động học chữ Quốc ngữ, nâng cao dân trí, mở mang thực nghiệp và bài trừ hủ tục.
  • Giai đoạn từ đầu thập niên 1910 đến năm 1932: Giai đoạn phát triển mạnh mẽ của báo chí và học thuật với Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, Tiếng dân, Phụ Nữ tân văn. Đây là thời kỳ diễn ra các hoạt động dịch thuật, trước thuật quy mô và đỉnh điểm là các cuộc luận chiến học thuật về khái niệm, vai trò và phương pháp xây dựng quốc học, quốc văn giữa các học giả như Phan Khôi, Phạm Quỳnh, Lê Dư, Nguyễn Trọng Thuật.
Danh mục bảng thống kê trong Chương 2 Vị trí trang Nội dung khảo sát chính
Bảng 2.6 Trang 97 Quan niệm của trí thức về quốc học
Bảng 2.7 Trang 105 Ý kiến của trí thức về quốc văn

Hệ thống tư liệu thống kê được phân loại chi tiết qua 7 phụ lục của luận án:

  • Phụ lục 1 (tr. 196): Bài báo giới thiệu tư tưởng học thuật phương Tây trên Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, Phụ Nữ tân văn, Tiếng dân.
  • Phụ lục 2 (tr. 202): Bài báo giới thiệu tư tưởng học thuật phương Đông trên 4 tờ báo trên.
  • Phụ lục 3 (tr. 204): Tác phẩm văn học phương Tây được dịch và đăng tải.
  • Phụ lục 4 (tr. 207): Tác phẩm văn chương Trung Quốc được dịch và đăng tải.
  • Phụ lục 5 (tr. 210): Tác phẩm văn chương sáng tác đăng trên 4 tờ báo.
  • Phụ lục 6 (tr. 217): Bài phê bình văn chương trên 4 tờ báo.
  • Phụ lục 7 (tr. 222): Những bài báo có liên quan trực tiếp đến cuộc tranh luận quốc học.

Chương 3: Đặc điểm và ý nghĩa của vấn đề quốc học, quốc văn ở Việt Nam đầu thế kỷ XX

Chương 3 tổng kết 5 đặc điểm chính của vấn đề quốc học và quốc văn Việt Nam đầu thế kỷ XX:

  1. Quốc học khởi xướng từ quốc sử và quốc văn: Khác với việc bắt đầu từ triết học thuần túy, giới trí thức Việt Nam dùng lịch sử dân tộc (quốc sử) và ngôn ngữ văn tự dân tộc (quốc văn) làm phương tiện nền tảng để xây dựng tinh thần quốc học.
  2. Phản ánh xu hướng chung của thời đại: Nằm trong quy luật chuyển đổi hệ hình văn hóa chung của các quốc gia khu vực Đông Á thời cận – hiện đại.
  3. Gắn liền với các cuộc vận động dân chủ, cải cách văn hoá – xã hội: Vấn đề học thuật không tách rời các phong trào nâng cao dân trí, cải cách phong tục và vận động xã hội đương thời.
  4. Sự tiếp nối giữa các thế hệ trí thức: Có sự chuyển giao và kết hợp giữa thế hệ Nho sĩ duy tân yêu nước (Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh...) với thế hệ trí thức tân học Tây học (Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Phan Khôi...).
  5. Xu hướng dung hợp Đông – Tây: Vừa tìm về các giá trị tinh hoa của Nho giáo, Phật giáo và văn hóa cổ truyền, vừa chủ động tiếp thu phương pháp luận khoa học, tư tưởng dân chủ và văn minh phương Tây.

Về ý nghĩa, luận án chỉ ra hai bình diện:

  • Ý nghĩa đối với văn hoá Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX: Thúc đẩy quá trình hoàn thiện chữ Quốc ngữ, đặt nền móng cho nền văn xuôi và văn học hiện đại, định hình ý thức bản sắc quốc gia dân tộc, mở rộng tri thức xã hội.
  • Ý nghĩa đối với văn hoá Việt Nam trong bối cảnh hiện nay (trang 174): Rút ra bài học về xử lý mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, giữa văn hóa nội sinh và văn hóa ngoại sinh trong quá trình hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa.

Kết quả và những đóng góp mới

  • Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học:
  • Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu về vấn đề quốc học và quốc văn ở Việt Nam đầu thế kỷ XX dưới góc nhìn Văn hóa học.
  • Vận dụng thành công khung lý thuyết liên ngành (văn hóa nhận thức, bản sắc văn hóa, lý thuyết đa hệ thống và tiếp biến văn hóa) để làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa biến đổi cấu trúc xã hội thuộc địa, sự hình thành ý thức mới về quốc gia – dân tộc với sự xuất hiện của nền quốc học và quốc văn.
  • Xác lập các đặc điểm bản chất của phong trào quốc học Việt Nam trong thế so sánh đối sánh nội văn hóa (với học thuật truyền thống) và xuyên văn hóa (với Nhật Bản, Trung Quốc, Triều Tiên).
  • Đóng góp mới về mặt thực tiễn:
  • Khảo sát, xử lý và thống kê định lượng một khối lượng tư liệu báo chí lớn từ 6 tờ báo, tạp chí tiêu biểu phân bố ở cả ba miền Bắc – Trung – Nam trong giai đoạn 1900-1932.
  • Cung cấp 7 bản phụ lục thư mục chuyên đề và 2 bảng phân loại ý kiến trí thức, tạo nguồn tư liệu khoa học phục vụ công tác nghiên cứu lịch sử văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX.
  • Đề xuất các bài học thực tiễn về ứng xử văn hóa, tiếp nhận có chọn lọc văn hóa ngoại sinh và phát huy nội lực bản sắc dân tộc trong bối cảnh hội nhập văn hóa quốc tế hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn về tư liệu và mục tiêu chuyên khảo của một luận án tiến sĩ, phạm vi khảo sát thực tế tập trung vào 6 cơ quan báo chí tiêu biểu (Nông Cổ mín đàm, Đăng Cổ tùng báo, Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, Tiếng dân, Phụ Nữ tân văn) và mốc thời gian từ năm 1900 đến năm 1932; chưa thể bao quát toàn bộ các ấn phẩm báo chí địa phương nhỏ lẻ khác hoặc mở rộng khảo sát giai đoạn sau năm 1932 đến năm 1945.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát tiến trình vận động của quốc học và quốc văn trong giai đoạn 1932-1945; nghiên cứu sâu hơn về sự phân hóa trường phái tư tưởng giữa các nhóm trí thức tại các vùng miền; đẩy mạnh các công trình so sánh đối chiếu chi tiết mô hình quốc học Việt Nam với các mô hình quốc học cụ thể ở các quốc gia Đông Bắc Á.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên, giảng viên và các nhà nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Văn hóa học, Lịch sử văn hóa Việt Nam, Việt Nam học, Ngôn ngữ học, Văn học Việt Nam và Báo chí truyền thông.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao:
  • Khung phân tích lý thuyết liên ngành về tiếp xúc, tiếp biến văn hóa và kiến tạo bản sắc dân tộc.
  • Phương pháp kết hợp nghiên cứu định tính phân tích nội dung với phương pháp thống kê tần suất tư liệu báo chí.
  • Toàn bộ hệ thống 7 phụ lục tư liệu (trang 196-222) và các bảng khảo sát ý kiến trí thức về quốc học, quốc văn (Bảng 2.6 và Bảng 2.7), giúp người nghiên cứu dễ dàng truy xuất các bài viết học thuật, dịch thuật và tranh luận văn hóa giai đoạn 1900-1932.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm "quốc học" và "quốc văn" được luận án định nghĩa và xác định mối quan hệ như thế nào?
Luận án định nghĩa quốc học là nền văn hoá học thuật của một nước nhằm phân biệt với văn hoá học thuật nước ngoài. Quốc văn là văn tự và văn chương nước nhà (cụ thể đầu thế kỷ XX là chữ Quốc ngữ). Về mối quan hệ, quốc học là tinh thần/nội dung, quốc văn là biểu hiện/hình thức. Quốc văn là một thành tố cấu thành của quốc học; hai yếu tố này gắn kết hữu cơ và không tách rời nhau trong tiến trình hiện đại hóa văn hóa.

2. Giới trí thức đầu thế kỷ XX tiếp nhận những luồng tư tưởng mới nào để làm nảy sinh vấn đề quốc học, quốc văn?
Giới trí thức tiếp nhận tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây qua phong trào Khai sáng Pháp, các luồng tư tưởng duy tân cải cách từ phong trào Duy tân Minh Trị ở Nhật Bản, và trào lưu tân thư, tân văn của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu thời kỳ biến pháp Mậu Tuất ở Trung Quốc.

3. Quá trình diễn biến của vấn đề quốc học và quốc văn giai đoạn 1900-1932 được chia thành những thời kỳ nào?
Luận án phân chia thành hai thời kỳ chính: (1) Thập niên đầu tiên của thế kỷ XX (1900-1910) với hoạt động của phong trào Duy tân, Đông Kinh Nghĩa Thục, báo Nông Cổ mín đàm và Đăng Cổ tùng báo; (2) Giai đoạn từ đầu thập niên 1910 đến năm 1932 với sự phát triển của Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, Tiếng dân, Phụ Nữ tân văn cùng các cuộc tranh luận học thuật giữa Phan Khôi, Phạm Quỳnh, Lê Dư, Nguyễn Trọng Thuật.

4. Luận án sử dụng những tờ báo và số báo cụ thể nào để thống kê tư liệu nghiên cứu?
Luận án khảo sát 6 tờ báo, tạp chí: Nông Cổ mín đàm (1901-1904), Đăng Cổ tùng báo (1907), Đông Dương tạp chí (1913-1919), Nam Phong tạp chí (1917-1932), Tiếng dân (1927-1932) và Phụ Nữ tân văn (1929-1932). Riêng về ý kiến quốc văn, luận án khảo sát toàn bộ ý kiến đăng trên Nam Phong tạp chí ở 3 số: số 149 (4/1930), số 168 (1/1932) và số 170 (3/1932).

5. Luận án chỉ ra những đặc điểm bản chất nào của vấn đề quốc học, quốc văn ở Việt Nam?
Có 5 đặc điểm chính: Quốc học khởi xướng từ quốc sử và quốc văn; phản ánh xu hướng chung của thời đại; gắn liền với các cuộc vận động dân chủ, cải cách văn hóa – xã hội; có sự tiếp nối giữa các thế hệ trí thức (Nho sĩ duy tân và trí thức Tây học); và mang xu hướng dung hợp Đông – Tây.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Vấn đề quốc học và quốc văn ở Việt Nam đầu thế kỷ XX" của tác giả Đoàn Nguyễn Thuỳ Trang là một chuyên khảo văn hóa học phân tích hệ thống về nguyên nhân, quá trình vận động, đặc điểm và ý nghĩa của quốc học và quốc văn giai đoạn 1900-1932. Công trình làm sáng tỏ sự hình thành ý thức mới về quốc gia – dân tộc và tiến trình tiếp biến văn hóa Đông – Tây trong việc kiến tạo bản sắc và hiện đại hóa văn hóa dân tộc buổi đầu thế kỷ XX. Nguồn tư liệu báo chí phong phú cùng hệ thống lý thuyết liên ngành được xác lập trong luận án mang lại giá trị khoa học vững chắc cho nghiên cứu lịch sử văn hóa Việt Nam và gợi mở các bài học thực tiễn đối với công cuộc hội nhập văn hóa đương đại.