mở đầu cho một nền phê bình văn học chuyên nghiệp ở Việt Nam, Thiếu Sơn cho rằng cần dùng quốc văn để chấn hƣng quốc học, rằng vận mệnh nƣớc Nam nằm ở văn Quốc ngữ. Việc tranh luận về vấn đề quốc học ở nƣớc ta 17 trong thời điểm bấy giờ đƣợc Thiếu Sơn đề cập trong bài “Nói chuyện quốc học”. Ông khẳng định chắc chắn: nƣớc ta có nền quốc học! Bởi theo ông, quốc học là gì nếu chẳng phải là “cái học thuật riêng của một nƣớc, nó đặc biệt cho nƣớc ấy”. Quốc học sẽ có ảnh hƣởng trực tiếp đến văn học và gián tiếp đến xã hội, “gồm những cái phong trào tƣ tƣởng triết học của một nƣớc, nó có thể chịu ảnh hƣởng của triết học nƣớc ngoài mà vẫn phải có phần khác biệt hẳn ra vậy” (Thiếu Sơn, 1933, tr.
Trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu xuất bản năm 1941, một bộ sách giáo khoa văn học Việt Nam với tƣ liệu tập hợp khá phong phú và chính xác theo phƣơng pháp của môn lịch sử văn học hiện đại, Dƣơng Quảng Hàm đã góp phần tích cực vào việc giới thiệu văn học Việt Nam, trong đó có đề cập vấn đề ngôn ngữ, văn tự nƣớc nhà. Trong công trình này, Dƣơng Quảng Hàm đã ghi nhận sự xuất hiện của quốc văn, đồng thời chỉ ra những đặc trƣng (mà ông gọi là “tính cách”) của nền quốc văn mới. Theo Dƣơng Quảng Hàm, các nhà Nho và trí thức Việt Nam chịu ảnh hƣởng của trào lƣu tân học Trung Quốc với những tác giả nhƣ Khang Hữu Vi và Lƣơng Khải Siêu, và đã hấp thụ các tƣ tƣởng mới do “tiếp xúc với nền Pháp học” trong thời thuộc địa, vì vậy “đã biết trọng quốc văn, biết quan sát và mô tả các cảnh vật sát thực, biết để ý đến cuộc sinh hoạt của ngƣời bình dân” (Dƣơng Quảng Hàm, 1968 [1941], tr. Các nghiên cứu trƣớc năm 1945 cũng đã mô tả diễn trình phát triển của nền văn học Quốc ngữ và đánh giá vai trò của một số trí thức có đóng góp cho việc khởi xƣớng chủ trƣơng và thúc đẩy quốc học, quốc văn.
Sử dụng phƣơng pháp phê bình xã hội học, Thiếu Sơn đánh giá rất cao những đóng góp của Phạm Quỳnh – chủ bút Nam Phong tạp chí - là một trong ba nhân vật có ảnh hƣởng đến văn phong thời bấy giờ (theo Thiếu Sơn gồm Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh và Tản Đà), góp phần làm cho báo chí Việt Nam, đƣợc thực hiện bởi những nhà báo tâm huyết, trở thành tiền đề xây dựng nên nền văn học. Các đánh giá của Thiếu Sơn về Phạm Quỳnh và Phan Khôi cho thấy quan điểm ủng hộ của một ngƣời đƣơng thời đối với vấn đề thời sự đầu thế kỷ XX là quốc học và quốc văn, giúp hiểu rõ hơn bối cảnh xuất hiện của vấn đề cũng nhƣ ảnh hƣởng của những ngƣời chủ trƣơng vấn đề quốc học đối 18 với tình hình văn hoá – xã hội. Tƣơng tự, Dƣơng Quảng Hàm đánh giá Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh là những học giả có công xây dựng nền quốc văn mới. Tuy nhiên, Dƣơng Quảng Hàm chƣa đề cập đến vấn đề quốc học trong công trình này, vì vậy, hoàn toàn không nhắc đến Lê Dƣ, Phan Khôi, Nguyễn Trọng Thuật.
cũng nhƣ vai trò của Phạm Quỳnh ở khía cạnh chủ trƣơng quốc học. Cuốn Nhà văn hiện đại (1942-1945) của Vũ Ngọc Phan phác thảo khá đầy đủ quá trình hình thành và phát triển của nền văn học Quốc ngữ từ thời kỳ phôi thai với Trƣơng Vĩnh Ký, qua các nhà văn vào đầu thế kỷ XX trong nhóm Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, cho đến giai đoạn trƣởng thành với Nguyễn Tuân, Tô Hoài… Với phƣơng pháp vừa tổng hợp vừa phân tích, một mặt dựa trên văn bản, mặt khác dựa trên sự tiến hoá của văn học trong một bối cảnh xã hội nhất định, Vũ Ngọc Phan đã đƣa ra những đánh giá khách quan về vai trò, đóng góp của nhiều trí thức cho nền quốc học, quốc văn nhƣ Phạm Quỳnh, Lê Dƣ, Nguyễn Trọng Thuật. Đó là những ý kiến khá xác đáng về những ngƣời có chủ trƣơng xây dựng nền quốc học, quốc văn mới cùng với các đóng góp cụ thể của họ cho sự nghiệp này. Công trình Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan, mặc dù còn những hạn chế nhất định về cách đánh giá, cách sắp xếp, cách chọn tác phẩm, nhƣng đây là tài liệu quan trọng về quốc học và quốc văn, phản ánh cách nhìn của một ngƣời sống giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, khá gần với thời điểm xuất hiện vấn đề quốc học, quốc văn.
Nhìn chung, các công trình của Thiếu Sơn, Vũ Ngọc Phan, Dƣơng Quảng Hàm chủ yếu quan tâm đến hoạt động và thành tựu của “các nhà văn đi tiên phong” (chữ dùng của Vũ Ngọc Phan) trên các lĩnh vực biên tập, dịch thuật hay khảo cứu. Các công trình trên cung cấp nguồn tài liệu phong phú cho luận án, tuy nhiên, các tác giả không đặt nhiệm vụ giải quyết vấn đề cụ thể là quốc học hay quốc văn. Vai trò chủ yếu của các công trình này đối với luận án trƣớc hết là tài liệu giới thiệu sự đóng góp của các cá nhân văn hoá buổi đầu quốc văn Quốc ngữ mới trong vai trò học giả, ngƣời dịch thuật, nhà biên khảo. Năm 1943, Đề cương văn hoá Việt Nam ra đời.
Trong tài liệu này, văn hoá đƣợc tác giả khái quát ở phạm vi rộng, gồm cả tƣ tƣởng, học thuật, nghệ thuật. 19 Công trình này không phải là một khảo cứu khoa học nhƣng cũng có thể xem là một trong những tài liệu về vấn đề quốc học, quốc văn của Việt Nam theo phƣơng pháp luận duy vật biện chứng; trong đó, có ba “công việc phải làm” gồm: tranh đấu về học thuật, tƣ tƣởng; tranh đấu về tông phái văn nghệ; tranh đấu về tiếng nói, chữ viết. Tuy tác giả không bàn luận trực tiếp đến chủ trƣơng vấn đề quốc học, quốc văn của giai đoạn trƣớc; nhƣng vẫn có sự kế thừa, tiếp nối về vấn đề quốc văn, trong đó đề cập việc cần làm là “thống nhất và làm giầu thêm tiếng nói; ấn định mẹo văn ta; và cải cách chữ Quốc ngữ”. Theo chúng tôi, tinh thần dân tộc chính là nhân tố tạo nên sự tƣơng đồng này.
Từ sau 1946 đến năm 1954, hoàn cảnh chiến tranh kéo dài khiến cho vấn đề quốc văn, quốc học gần nhƣ không còn đƣợc quan tâm nghiên cứu trong giai đoạn này. Đến giai đoạn từ 1954 đến năm 1975, ở miền Bắc hầu nhƣ không có nghiên cứu nào liên quan đến vấn đề quốc học. Ở miền Nam trong giai đoạn này vấn đề quốc học, quốc văn vẫn đƣợc một số nhà nghiên cứu đề cập. Các chuyên khảo và công trình văn học sử đáng chú ý nhƣ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (1965) của Phạm Thế Ngũ, Bảng lược đồ văn học Việt Nam (1967) của Thanh Lãng, Vấn đề quốc học (1971) của Kim Định, Phê bình văn học thế hệ 1932 tập I và tập II xuất bản năm 1972, 1973 của Thanh Lãng.
Trong đó, Phạm Thế Ngũ (1965) đã phân tích những đặc điểm của văn học giai đoạn 1907-1932, trong đó ông đánh giá sự xuất hiện của vấn đề quốc học nhƣ một sự đổi mới quan trọng của giai đoạn này. Các công trình khác ít nhiều cũng đề cập đến cuộc tranh luận về quốc học ở thập niên 1930. Trong chuyên khảo Vấn đề quốc học, Kim Định (1971) tiếp tục đặt vấn đề: Việt Nam có quốc học hay không? Ông nhắc đến câu chuyện tranh luận về quốc học đầu thế kỷ XX và cho rằng việc khẳng định hay phủ định có quốc học hay không “đều hữu lý” và để giải quyết vấn đề này, cần “xây dựng những gì còn thiếu sót”. Tuy Kim Định chỉ nhắc qua cuộc tranh luận về quốc học để làm tiền đề triển khai ý tƣởng của ông về quốc học trong bối cảnh mới nhƣng việc ông trở lại “vấn đề quốc học” sau hơn 40 năm kể từ thập kỷ 1930 cho thấy vấn đề này vẫn là một 20 trong những mối quan tâm lâu dài của trí thức Việt Nam trong hành trình tìm kiếm và vun đắp những giá trị văn hoá học thuật cho đất nƣớc.
Trong khi đó, với cuốn Phê bình văn học thế hệ 1932 tập I và tập II (1972, 1973), Thanh Lãng đã sƣu tập, phân tích các cuộc luận chiến văn chƣơng, văn hoá đầu thế kỷ XX theo từng chủ đề mà ông gọi là “vụ án”, trong đó có mô tả chi tiết diễn biến cuộc tranh luận về quốc học trên báo chí giữa Phan Khôi với Lê Dƣ, Phạm Quỳnh, Nguyễn Trọng Thuật. Qua mô tả của Thanh Lãng, chúng tôi nhận thấy rằng các bên tranh luận vẫn không thể đi đến thống nhất với nhau về khái niệm quốc học cũng nhƣ phƣơng pháp để phát triển quốc học. Trong công trình này, Thanh Lãng tuyên bố sử dụng phƣơng pháp “đặt sự kiện văn học vào những “lúc lịch sử quyết liệt”, nhƣng kỳ thực ông chỉ mô tả các sự kiện tranh luận theo tiến trình thời gian. Tuy vậy, một vài nhận định hiếm hoi của Thanh Lãng về cuộc luận chiến quốc học cũng rất đáng tham khảo.
Nhƣng tƣơng tự một số công trình nghiên cứu lịch sử văn hoá khác, các hiện tƣợng chƣa thật sự đƣợc lý giải dƣới góc nhìn văn hoá để nêu bật các đặc điểm văn hoá của giai đoạn này. Một số công trình nghiên cứu về báo chí Việt Nam đầu thế kỷ XX cũng có đề cập đến vấn đề quốc học, quốc văn nhƣ cuốn Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong 1917-1934 của Nguyễn Khắc Xuyên (1968), Tìm hiểu tạp chí Nam Phong 1917- 1934 của Phạm Thị Ngoạn (1973), Báo chí Việt Nam từ khởi thuỷ đến 1945 của Huỳnh Văn Tòng (1973, tái bản 2000, 2016). Trong đó, Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong 1917-1934 là một tài liệu thƣ mục học khá quan trọng. Nguyễn Khắc Xuyên đã nhận định khá xác đáng về chủ trƣơng quốc học, quốc văn trên Nam Phong tạp chí.
Dù còn những hạn chế nhất định trong cách phân loại thƣ mục học, công trình của Nguyễn Khắc Xuyên là nguồn tƣ liệu quan trọng để nghiên cứu và là nguồn tài liệu có giá trị để tham khảo về vấn đề quốc học và quốc văn trên báo chí giai đoạn đầu thế kỷ XX. Bên cạnh đó, công trình Tìm hiểu tạp chí Nam Phong 1917-1934 của Phạm Thị Ngoạn, con gái học giả Phạm Quỳnh, cũng là một tài liệu đáng quan tâm. Tài liệu này nguyên tác bằng tiếng Pháp, đăng trong tập Kỷ yếu đệ nhị và đệ tam cá nguyệt 1973 của Hội Nghiên cứu các vấn đề Đông Dƣơng, đƣợc 21 Phạm Trọng Nhân dịch ra tiếng Việt và Ý Việt xuất bản năm 1993.