Chương 1: Thân thế, sự nghiệp báo chí của Phan Khôi những năm đầu thế kỷ XX. Chương 2: Quan điểm chính trị - xã hội trong các tác phẩm báo chí của Phan Khôi. Chương 3: Những đóng góp của Phan Khôi về phát triển ngôn ngữ tiếng Việt trong báo chí. Chương 4: Những đóng góp của Phan Khôi về phát triển thể loại tác phẩm báo chí và kỹ năng làm báo.
9 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHAN KHÔI 1. Tình hình nghiên cứu về Phan Khôi ở trong nước 1. Phan Khôi trong các sách nghiên cứu về lịch sử báo chí, văn học đầu thế kỷ XX - Cuốn sách của Vu Gia “Phan Khôi - Tiếng Việt, Báo chí và thơ mới” (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2003), gồm 15 bài viết về Phan Khôi, đề cập đến nhiều vấn đề: Phan Khôi, huyền thoại của một thời; người làm chủ được bản ngã; người bảo vệ ngôn ngữ dân tộc; về những nội dung nổi bật trong các các tác phẩm văn chương, báo chí của Phan Khôi, như: Vấn đề đấu tranh nữ quyền; cuộc tranh luận về Nho giáo; vụ án Truyện Kiều; người đi nhặt những niềm vui; cuộc tranh luận về duy tâm, duy vật; cuộc tranh luận về Quốc học; thi sĩ có tài năng vững chãi; truyện ngắn; dịch thuật; vấn đề Nhân Văn Giai Phẩm; truyện dài và người tạo dấu ấn rõ nét trong lòng bạn đọc. Trong cuốn sách này, cùng với những bài viết của mình, tác giả còn giới thiệu một số tác phẩm của Phan Khôi và những nhận định, đánh giá về Phan Khôi của một số cây bút nổi tiếng, tiêu biểu như: Nhà phê bình văn học Hoài Thanh cho rằng: Hồi bấy giờ Phụ nữ tân văn đương thời cực thịnh.
Những lời nói của ông Phan được truyền bá đi khắp nơi. Cái bài thơ mới “Tình già” được ông dẫn ra làm thí dụ, không rõ có được ai thích không, nhưng một số đông thanh niên trong nước bỗng thấy mở ra một góc trời vì cái táo bạo dấu diếm của mình đã được một bực đàn anh trong văn giới công nhiên thừa nhận [35, tr. Khẳng định những đóng góp của Phan Khôi với tiếng Việt, Lưu Trọng Lư viết: “Tiên sinh thật là người trong những người tôi quen và tôi đã đọc, quả là người viết quốc ngữ đứng đắn hơn hết, yêu chữ quốc ngữ với tất cả sự 10 từng trải của một người đã sống khắp ba kỳ, quen thuộc với những lỗi phát âm, với những thổ ngữ. Còn Vũ Ngọc Phan cho rằng: Lối bút chiến là lối ông sở trường nhất.
Ông bút chiến về người, ông bút chiến về việc, rồi ông bút chiến cả về những chữ dùng sai (.) Phan Khôi mà đóng vai ngự sử đàn văn thì thật là xứng, vì không mấy người kiêm được nhiều điều như ông: có óc tỉ mỉ, soi mói, lại dùng chữ rất đúng, học rộng, kinh nghiệm nhiều (.) Trong văn giới Việt Nam, dù thuộc về phái già hay trẻ, tuy có nhiều người không đồng ý kiến với Phan Khôi, nhưng ai ai cũng phải công nhận ông là một tay kiện tướng [35, tr. Thanh Lãng đánh giá rất cao: Phan Khôi là khuôn mặt đẹp đẽ nhất của thời đại ta, một tổng hợp kỳ diệu được hình thành do những gì tinh túy nhất của nền cổ học vô cùng tế nhị Đông phương và nền học thuật minh bạch khúc triết của Tây phương (.) Hình như Phan Khôi không muốn người ta xếp ông vào một biên thùy nào, là Trung ông không chịu, là Nam ông không ưng, là Bắc ông cũng chẳng thích; có lẽ ông chỉ muốn người ta gọi ông là người Việt Nam, ông muốn xóa bỏ cái biên thùy địa phương chật hẹp. Tác giả Nguyễn Văn Xuân khẳng định: Từ 1918 đến 1945, ông Phan Khôi hoạt động cho báo chí, đã đóng vai trò ký giả, học giả. Nêu cái gương sáng của một người thức thời, biết cựu học không đủ để thực hiện công cuộc đổi mới (Duy Tân) nên đã ra sức học Pháp văn và nhờ đó theo kịp Tân trào.
Ông đã không chấp nhận cái hư vinh bậc đại khoa cũ để dấn thân vào con đường chông gai, mới mẻ của báo chí. Ông có công với báo chí suốt giai đoạn từ 1918 đến 1936, nhất là thời Phụ nữ tân văn tạp chí dẫn đầu cho loại tuần báo nổi tiếng [35, tr. 11 - Cuốn sách “Thiếu Sơn, Nghệ thuật và Nhân sinh” (Lê Quang Hưng sưu tầm và chỉnh lý), Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội, năm 2000, gồm nhiều bài phê bình nhân vật - các tác giả, nhà văn, nhà báo, chính khách nổi tiếng đầu thế kỷ XX của nhà văn, nhà phê bình văn học Thiếu Sơn. Với thái độ công bằng, thẳng thắn, những nhận xét sắc sảo, Thiếu Sơn viết về các tác giả nổi tiếng: Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Khôi, Hồ Biểu Chánh, Hoàng Ngọc Phách… Trong đó, với “Bài học Phan Khôi”, Thiếu Sơn khắc họa: Ông đã viết cho những tờ Đăng Cổ Tùng báo, Nam Phong, Hữu Thanh, Thực nghiệp dân báo, Lục tỉnh tân văn v.
Ông đã làm thơ ký cho công ty Bạch Thái Bưởi, dịch Thánh kinh cho đạo Tin lành. Nhưng người ta chỉ biết tới ông khi ông viết cho Đông Pháp Thời báo, Thần chung và nhứt là Phụ nữ Tân văn”. Ông Diệp Văn Kỳ là con người sành điệu đã để ý tới ông, mời ông hợp tác nhưng lúc đó nhiều ngôi sao sáng đã gặp nhau ở một chỗ nên Phan Khôi chưa nổi bật. Ông chỉ nổi bật khi ông được mời tới viết cho Phụ nữ Tân Văn của ông bà Nguyễn Đức Nhuận.
Hồi đó, vào khoảng 1930 một bài văn được trả 5 đồng tiền nhuận bút là hậu lắm rồi. Vậy mà Phụ nữ Tân Văn dám trả 25 đồng một bài cho ông Phan. Một tháng bốn bài, 100 đồng tức là hơn lương công chức ngạch cao cấp ở huyện, phủ. Như vậy thì đâu phải văn chương hạ giới rẻ như bèo.
Phải nói là mắc như vàng mới đúng. Nhưng cũng phải nói thêm là chỉ có văn chương của Phan Khôi mới được giá đến thế và chỉ có ông bà Nguyễn Đức Nhuận mới dám trả tới giá đó mà thôi. Trả như vậy mà tôi còn cho rằng chưa tới mức vì hầu hết độc giả bỏ 15 xu ra mua Phụ nữ Tân Văn đều chỉ muốn được coi bài của Phan Khôi hay Chương Dân, những bài viết gãy gọn, sáng sủa, đanh thép 12 với những đề tài mới mẻ, những lý luận thần tình làm cho người đọc say mê mà thống khoái. Cái đặc biệt ở Phan Khôi là chống công thức (non conformiste) [35, tr.
- Cuốn sách: “Báo chí Việt Nam từ khởi thủy đến 1945”, của Huỳnh Văn Tòng, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2000. Là người dày công nghiên cứu lịch sử báo chí Việt Nam, khi đề cập đến sự ra đời và phát triển của tờ Phụ nữ tân văn, nhà báo, học giả Huỳnh Văn Tòng khẳng định: “Chủ bút Phụ nữ Tân văn là Đào Trinh Nhất, một người làm báo nhà nghề, lừng danh. Phải nhìn nhận rằng báo này được mọi giới chú ý nhờ sự hợp tác của nhà văn Phan Khôi, ký giả lão thành, học rộng, có lối lập luận sắc bén” [106, tr. Phan Khôi trong các hồi ký - Hồi ký: “Nhớ cha tôi - Phan Khôi”, của Phan Thị Mỹ Khanh, Nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 2001.
Cuốn sách giới thiệu gia cảnh và những chặng đường đời của Phan Khôi; những chuyện đời thường, chuyện văn nghiệp của ông (trong đó có những nội dung đã được tác giả ghi lại trong bài “Cha tôi: ông Phan Khôi”, được đăng 2 kỳ trên Tạp chí Phổ thông số 29 ra ngày 01-3-1960 và số 30 ra ngày 15-3-1960, nhân dịp một năm sau ngày mất của Phan Khôi); một số tác phẩm của Phan Khôi và một số bình luận, nhận định của các nhà văn, nhà nghiên cứu, nhà báo viết về Phan Khôi. Cuốn sách được hoàn thành vào mùa Thu năm 1999. Những dòng khép lại đoạn kết, tác giả viết: Năm nay tròn 40 năm ngày cha tôi đi vào cõi vĩnh hằng. Nhìn lại cuộc đời thăng trầm của ông, những năm tháng vinh quang thời tráng niên, rồi chuỗi ngày lận đận tuổi xế chiều, tôi không khỏi ngậm ngùi vừa thương, vừa tiếc.
Với đôi điều hiểu biết còn nông cạn, với mớ kỷ niệm buồn vui lẫn lộn, tôi xin trân trọng gởi đến bạn đọc những trang hồi ức trung thực mà tôi ấp ủ từ lâu, qua đó, bạn đọc sẽ hiểu thêm về con người của cha tôi [43, tr. 13 - Hồi ký:“Nắng được thì cứ nắng”, tác giả: Phan An Sa, Nhà xuất bản Tri thức, năm 2013. Nếu như, năm 2001, Phan Thị Mỹ Khanh, người con gái của Phan Khôi xuất bản cuốn “Nhớ cha tôi - Phan Khôi” là cuốn sách đầu tiên phác thảo về tiểu sử, thân thế sự nghiệp của ông giai đoạn từ trước năm 1975 ở miền Nam, thì, năm 2013, “Nắng được thì cứ nắng” - cuốn sách do người con trai út của ông viết là cuốn sách thứ hai. Có thể nói, “Nắng được thì cứ nắng” là cuốn sách chứa đựng rất nhiều thông tin về Phan Khôi, mặc dù sách chỉ giới hạn ở giai đoạn 1936 đến cuối đời ông - thời kỳ Phan Khôi từ vai trò chủ nhiệm tuần báo Sông Hương đến vai trò chủ nhiệm tuần báo Nhân văn rồi đi vào văn học sử Việt Nam với tư cách một trong số những tác gia trọng yếu của phong trào Nhân văn - Giai phẩm.
Những mốc thời gian quan trọng trong hai mươi ba năm cuối đời của Phan Khôi (1936-1959), được tác giả Phan An Sa ghi lại trong cuốn "Nắng được thì cứ nắng": - 1936-1937: Phan Khôi ở Huế, sáng lập báo Sông Hương, xuất bản 32 số. - 1937: Phan Khôi về quê Quảng Nam, sau đó vào Sài Gòn, dạy trường tư thục Chấn Thanh; viết tiểu thuyết “Trở vỏ lửa ra”. - 1939: Phan Khôi ra Hà Nội, viết cho Tạp chí Tao đàn; cộng tác với Phổ thông bán nguyệt san để in “Trở vỏ lửa ra”. - Cuối tháng 8-1939: Phan Khôi về quê Quảng Nam rồi vào Sài Gòn, dạy trường Chấn Thanh, viết cho một số tờ báo Bắc, Nam.
- Giữa năm 1941: Phan Khôi cùng cả gia đình về quê Bảo An, Quảng Nam; - Tháng 6-1946: Phan Khôi ra Hà Nội, dự Hội nghị văn hóa toàn quốc. - 19-12-1946: Phan Khôi đi từ Hà Nội về phía Hà Đông, gặp đoàn văn hóa kháng chiến, ông nhập đoàn, đi Việt Bắc; làm việc trong cơ quan Hội Văn nghệ Việt Nam. - Tháng 10-1954: Phan Khôi cùng Ban Văn, Sử, Địa về Hà Nội.