Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Giáo dục Chính trị với đề tài "Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng" được tác giả Nguyễn Thị Hiền thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Lê Thanh Hà, hoàn thành vào tháng 05 năm 2005.
Về bối cảnh thực tiễn và lý do chọn đề tài, tác giả khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của đất nước, kế thừa truyền thống dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại. Trong hệ thống lý luận đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng giữ vị trí đặc biệt quan trọng, vừa là tài sản tinh thần vô giá, vừa đóng vai trò là cơ sở phương pháp luận cho toàn bộ hoạt động báo chí nước nhà qua các thời kỳ lịch sử. Trong công cuộc đổi mới và hội nhập, trước những biến động phức tạp của thời đại và sự tác động của cơ chế thị trường, việc nghiên cứu có hệ thống các quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về báo chí trở thành điều kiện tiên quyết để đảm bảo sự phát triển vững vàng, giữ đúng định hướng chính trị của nền báo chí nước nhà.
Về tình hình nghiên cứu vấn đề, khóa luận điểm lại các công trình tiêu biểu đã được xuất bản trước đó, bao gồm:
- Công trình Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng của PGS. Tạ Ngọc Tấn (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003).
- Ấn phẩm Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng do Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương phối hợp cùng Hội Nhà báo Việt Nam biên soạn (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004).
- Công trình Mác - Ăngghen, Lênin, Hồ Chí Minh bàn về báo chí cách mạng do TS. Vũ Duy Thông sưu tập và biên soạn (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2004).
- Các bài nghiên cứu chuyên đề đăng tải trên các tạp chí lý luận đầu ngành như Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Triết học, Tạp chí Xây dựng Đảng.
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là góp phần tìm hiểu có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng và việc vận dụng hệ tư tưởng này trong giai đoạn hiện nay. Để hiện thực hóa mục đích trên, tác giả xác định hai nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tìm hiểu sự nghiệp báo chí và những quan niệm, quan điểm làm báo căn bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
- Tìm hiểu và phân tích thực tiễn vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng trong tình hình hiện nay.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là toàn bộ hệ thống quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng. Phạm vi nghiên cứu được xác định trên ba bình diện:
- Sự nghiệp báo chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh (tập trung từ năm 1919 đến năm 1969).
- Hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh về bản chất, chức năng, tính chiến đấu và phong cách báo chí cách mạng.
- Thực tiễn học tập, vận dụng tư tưởng của Người vào đời sống báo chí Việt Nam từ thời kỳ đổi mới đến mốc thời gian khóa luận được bảo vệ (năm 2005).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng trên nền tảng cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về văn hóa, ý thức xã hội và công tác báo chí vô sản (với các trích dẫn lý luận trực tiếp từ C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin). Cùng với đó là hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh và các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác tư tưởng - văn hóa và quản lý báo chí xuất bản.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả phối hợp liên ngành các thao tác nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn:
- Phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic nhằm tái hiện tiến trình hoạt động báo chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn liền với từng giai đoạn cách mạng.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp để khái quát các luận điểm cốt lõi về bản chất, chức năng, phong cách báo chí từ khối lượng tác phẩm đồ sộ của Người.
- Phương pháp so sánh và phân tích hệ thống nhằm đối chiếu lý luận với thực trạng hoạt động báo chí, hệ thống văn bản pháp lý và định hướng phát triển báo chí Việt Nam thời kỳ mở cửa.
Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm các tác phẩm báo chí, bài nói chuyện, thư từ chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh in trong bộ Hồ Chí Minh Toàn tập; các văn kiện Đại hội Đảng, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, chỉ thị của Bộ Chính trị và Ban Bí thư; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước (các sắc lệnh từ năm 1945, Luật Báo chí năm 1957, Luật Báo chí năm 1989 và Luật sửa đổi, bổ sung năm 1999); cùng các tư liệu thống kê về mạng lưới truyền thông của cơ quan quản lý báo chí xuất bản trung ương.
Nội dung chính theo từng chương
Bố cục của khóa luận gồm phần mở đầu, hai chương nội dung chính (chia thành 5 mục) và phần kết luận.
Chương 1: Những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng
Chương này tập trung phân tích di sản báo chí hơn 50 năm hoạt động sáng tạo (1919 - 1969) của Chủ tịch Hồ Chí Minh với khối lượng khoảng trên dưới 2.000 bài báo viết bằng nhiều thứ tiếng (Việt, Pháp, Hán, Anh), dưới nhiều bút danh khác nhau nhưng nhất quán một tôn chỉ chính trị là chống thực dân đế quốc, chống phong kiến, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nội dung chương được triển khai qua ba vấn đề lớn:
1. Quan điểm về vị trí, vai trò, chức năng và nhiệm vụ của báo chí cách mạng:
Tác giả phân tích nhận thức sâu sắc của Nguyễn Ái Quốc về vũ khí báo chí ngay từ những năm 1920 tại Đại hội Tua và trong tác phẩm Đông Dương (1921), lên án chế độ kiểm duyệt hà khắc của thực dân Pháp tước đoạt quyền tự do ngôn luận của nhân dân An Nam. Báo chí cách mạng được xác định là cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và là diễn đàn dân chủ tin cậy của nhân dân. Về chức năng, nhiệm vụ, báo chí có nhiệm vụ "tuyên truyền, cổ động, huấn luyện, giáo dục, và tổ chức dân chúng để đưa dân chúng đến mục đích chung" (thư gửi lớp dạy viết báo Huỳnh Thúc Kháng, tháng 6/1949). Tác giả dẫn chứng quan điểm của Người: tuyên truyền là đem việc nói cho "dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm"; nếu không đạt mục đích đó là tuyên truyền thất bại.
2. Quan điểm về tính chiến đấu của báo chí cách mạng:
Tính chiến đấu được khẳng định là linh hồn, bản chất của báo chí cách mạng. Tác giả phân tích bốn biểu hiện chủ yếu của tính chiến đấu trong tư tưởng Hồ Chí Minh:
- Lên án mạnh mẽ kẻ thù và thức tỉnh toàn dân tộc: Thể hiện qua các bài viết sắc sảo như Tâm địa thực dân, Đông Dương, Tội ác của chủ nghĩa thực dân và tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp.
- Đề cao chính nghĩa, làm rõ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước: Từ tác phẩm Đường kách mệnh (1927), Tuyên ngôn độc lập (1945), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946) đến lời kêu gọi Không có gì quý hơn độc lập, tự do (1966).
- Biểu dương cái đúng, cái tốt, cái mới; phê phán cái sai, cái xấu, cái lạc hậu: Khẳng định phương châm "lấy xây để chống, chống để xây", cổ vũ phong trào thi đua "người tốt, việc tốt", đồng thời kiên quyết phê phán chủ nghĩa cá nhân - thứ "giặc nội xâm", "giặc ở trong lòng".
- Đấu tranh chống các quan điểm sai trái và các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch: Nhấn mạnh sứ mệnh của báo chí trong việc đập tan âm mưu "diễn biến hòa bình", bảo vệ nền tảng tư tưởng và Cương lĩnh của Đảng.
3. Quan điểm về phong cách làm báo:
Hồ Chí Minh khẳng định: "Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ". Người yêu cầu người làm báo trước hết phải xác định lập trường chính trị vững chắc và đạo đức cách mạng trong sáng. Về nghệ thuật ngôn từ, người viết phải tự trả lời bốn câu hỏi cốt lõi: Viết cho ai xem? Viết để làm gì? Viết cái gì? Viết như thế nào? Bác phê phán nghiêm khắc lối viết dài dòng "rau muống", "trường giang đại hải", "bệnh hay nói chữ", "nói không ai hiểu", đồng thời chỉ rõ phương pháp thu thập tài liệu thực tế qua quy trình: "Nghe - Hỏi - Thấy - Xem - Ghi" và yêu cầu viết xong phải đọc đi sửa lại cẩn thận nhiều lần, cầu thị lắng nghe ý kiến quần chúng.
| Ấn phẩm báo chí |
Thời điểm sáng lập / Chỉ đạo |
Vai trò và ý nghĩa lịch sử |
| Le Paria (Người cùng khổ) |
Năm 1921 (truyền đơn cổ động năm 1923) |
Cơ quan ngôn luận của các dân tộc bị áp bức, vạch trần tội ác thực dân Pháp. |
| Thanh niên |
Ra số đầu ngày 21/06/1925 |
Khai sinh nền báo chí cách mạng Việt Nam, Bác trực tiếp chỉ đạo 88 số đầu. |
| Công Nông, Lính Kách Mệnh |
Giai đoạn hoạt động tại Trung Quốc |
Cơ quan tuyên truyền, huấn luyện cán bộ cách mạng tiền phong. |
| Thân Ái |
Giai đoạn hoạt động tại Thái Lan |
Tuyên truyền, giác ngộ cộng đồng kiều bào yêu nước hướng về Tổ quốc. |
| Báo Đỏ |
Hoạt động tại Trung Quốc |
Cơ quan ngôn luận của chi bộ An Nam Cộng sản Đảng. |
| Việt Nam độc lập |
Đầu năm 1941 tại Pác Bó (Cao Bằng) |
Kêu gọi, tổ chức quần chúng tham gia Mặt trận Việt Minh đánh Pháp, đuổi Nhật. |
| Cứu quốc |
Năm 1942 |
Cơ quan tuyên truyền Tổng bộ Việt Minh trong thời kỳ chuẩn bị khởi nghĩa. |
| Nhân Dân |
Năm 1951 |
Cơ quan Trung ương của Đảng Lao động Việt Nam trong kháng chiến và xây dựng. |
Chương 2: Học tập, vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng trong điều kiện hiện nay
Nội dung chương 2 gồm hai phần chính: phân tích thực trạng phát triển cùng hệ thống pháp lý báo chí nước nhà và đề xuất các phương hướng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh:
1. Thực trạng phát triển và tiến trình xây dựng hệ thống pháp luật báo chí:
Báo chí Việt Nam đạt được nhiều thành tựu lớn: giữ vững định hướng chính trị, thông tin phong phú, phản bác quan điểm sai trái, đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, áp dụng tiến bộ công nghệ thông tin. Tuy nhiên, mặt trái của kinh tế thị trường cũng làm nảy sinh tình trạng chạy theo lợi nhuận, giật gân, vi phạm tôn chỉ, thương mại hóa báo chí. Khóa luận hệ thống hóa các mốc pháp lý trọng yếu điều chỉnh lĩnh vực này:
| Văn bản quy phạm pháp luật / Văn kiện |
Cơ quan ban hành & Thời gian |
Nội dung cốt lõi |
| Sắc lệnh về duy trì luật lệ |
Chủ tịch Hồ Chí Minh (10/10/1945) |
Tạm thời duy trì luật lệ hiện hành sau Cách mạng Tháng Tám. |
| Sắc lệnh số 41 |
Chính phủ ban hành ngày 29/03/1946 |
Quy định chế độ kiểm duyệt báo chí trong bối cảnh khẩn cấp. |
| Sắc lệnh 282 / Luật số 100/SL-L-002 |
Quốc hội thông qua ngày 20/05/1957 |
Bãi bỏ chế độ kiểm duyệt, ban hành Luật về Chế độ báo chí đầu tiên. |
| Nghị định số 297/TTg và 298/TTg |
Thủ tướng Chính phủ (09/07/1957) |
Quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí và quyền lợi người làm báo chuyên nghiệp. |
| Luật Báo chí năm 1989 |
Quốc hội thông qua 28/12/1989 (công bố 02/01/1990) |
Thay thế Luật 1957, tạo hành lang pháp lý toàn diện trong thời kỳ đổi mới. |
| Luật sửa đổi, bổ sung Luật Báo chí |
Quốc hội thông qua 12/06/1999 (hiệu lực 01/09/1999) |
Bổ sung quy định quản lý thông tin trong bối cảnh hội nhập quốc tế. |
| Nghị định 133/HĐBT và 384/HĐBT |
Hội đồng Bộ trưởng ban hành năm 1992 |
Quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí và quản lý báo chí - xuất bản. |
| Chỉ thị 22-CT/TW |
Bộ Chính trị khóa VIII (17/10/1997) |
Tiếp tục đổi mới và tăng cường lãnh đạo, quản lý báo chí - xuất bản. |
| Chỉ thị 37-CT/TW |
Ban Bí thư Trung ương Đảng (18/03/2004) |
Nâng cao vai trò, chất lượng hoạt động của Hội Nhà báo Việt Nam. |
| Quy ước đạo đức nghề nghiệp |
Đại hội Hội Nhà báo Việt Nam lần VI (1995) |
Chuẩn mực đạo đức người làm báo cách mạng, chống suy thoái, tiêu cực. |
Khóa luận ghi nhận bức tranh phát triển của hệ thống báo chí cả nước tại thời điểm nghiên cứu thông qua bảng số liệu thực tế:
| Loại hình / Cấp quản lý |
Quy mô số lượng (thời điểm năm 2005) |
| Cơ quan báo chí |
Gần 500 cơ quan |
| Sản phẩm báo in |
Hơn 600 sản phẩm |
| Đài phát thanh, truyền hình quốc gia |
01 Đài Tiếng nói Việt Nam, 01 Đài Truyền hình Việt Nam |
| Đài phát thanh, truyền hình khu vực |
02 đài phát thanh khu vực, 03 đài truyền hình khu vực |
| Đài phát thanh - truyền hình cấp tỉnh, thành phố |
64 đài phát thanh - truyền hình |
| Đài truyền thanh cấp quận, huyện, thị xã |
606 đài (trong đó có 288 đài phát sóng FM) |
| Trạm phát, tiếp sóng truyền hình cơ sở |
830 trạm dẫn tiếp truyền hình |
| Đội ngũ người làm báo được cấp thẻ nhà báo |
Hơn 10.000 người |
2. Học tập, vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng:
Tác giả đề xuất các yêu cầu vận dụng mang tính quy luật:
- Giữ vững và phát huy các nguyên tắc báo chí cách mạng:
- Đảm bảo tính khuynh hướng: Nhận thức báo chí là hàng hóa đặc biệt, không lấy lợi nhuận làm mục tiêu cao nhất; kiên quyết ngăn chặn xu hướng thương mại hóa xa rời tôn chỉ mục đích chính trị.
- Nêu cao tính đảng: Khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nguyên tắc hàng đầu quyết định sinh mệnh chính trị của báo chí.
- Đảm bảo tính nhân dân, dân chủ: Báo chí phải bám sát đời sống thực tế của quần chúng nhân dân, là diễn đàn phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân.
- Đảm bảo tính chân thực, khách quan và đa dạng: Quán triệt nguyên lý "Sự thật là sức mạnh của báo chí chúng ta" (Lênin); không bịa đặt, không tô hồng bôi đen; đa dạng hóa nội dung theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX.
- Xây dựng đội ngũ người làm báo:
- Bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Nâng cao trình độ nghiệp vụ, tri thức khoa học tổng hợp và năng lực ngoại ngữ (thực hiện lời dạy của Bác: người làm báo ít nhất phải biết một ngoại ngữ).
- Rèn luyện đạo đức nghề nghiệp và tác phong lối sống theo Quy ước năm 1995, giữ tâm sáng, lòng trong, sống hòa mình vào đời sống công nhân, nông dân và chiến sĩ.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể gắn với các dữ liệu được chứng minh trong văn bản:
- Hệ thống hóa toàn diện các luận điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng thành một chỉnh thể khoa học gồm: bản chất chính trị, chức năng tuyên truyền - tổ chức, tính chiến đấu sắc bén, phong cách ngôn từ đại chúng và chuẩn mực đạo đức người làm báo.
- Cung cấp bức tranh dữ liệu xác thực về mạng lưới báo chí - truyền thông Việt Nam thời điểm 2005 (gần 500 cơ quan, hơn 600 ấn phẩm in, hơn 10.000 nhà báo được cấp thẻ, hệ thống phát thanh truyền hình phủ rộng 64 tỉnh thành và 606 huyện thị).
- Khái quát đầy đủ tiến trình lập pháp và thể chế hóa đường lối của Đảng về báo chí từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến các văn bản luật và chỉ thị năm 1999 - 2004.
- Đề xuất các giải pháp mang tính ứng dụng nhằm chấn chỉnh tình trạng thương mại hóa, vi phạm chuẩn mực đạo đức trong nền kinh tế thị trường, đồng thời đề ra tiêu chí xây dựng đội ngũ nhà báo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
- Khóa luận đóng góp tài liệu tham khảo có hệ thống, phục vụ công tác giảng dạy và học tập chuyên ngành Giáo dục Chính trị, làm sáng tỏ giá trị thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ mới.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, tác giả tự nhìn nhận kiến thức và kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn hẹp nên công trình khó tránh khỏi thiếu sót. Toàn văn khóa luận chủ yếu tiếp cận theo phương pháp lý luận chính trị và tổng kết tư liệu văn kiện; chưa triển khai các cuộc khảo sát điều tra xã hội học định lượng sâu về mức độ tiếp nhận thông tin báo chí của từng đối tượng độc giả, cũng như chưa có các nghiên cứu trường hợp (case study) phân tích định lượng cụ thể các sai phạm đạo đức nghề nghiệp trên các ấn phẩm cụ thể.
Về hướng nghiên cứu tiếp, từ giới hạn thời gian (năm 2005) và phạm vi nghiên cứu, các đề tài tiếp theo có thể mở rộng khảo sát sự tác động của internet và các loại hình báo chí điện tử, truyền thông đa phương tiện đối với việc vận dụng phong cách làm báo Hồ Chí Minh; hoặc nghiên cứu việc bổ sung, hoàn thiện Luật Báo chí trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Giảng viên và sinh viên ngành Giáo dục Chính trị, Sư phạm Lịch sử, Triết học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và Xây dựng Đảng khi tiếp cận chuyên đề về công tác tư tưởng - văn hóa.
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Báo chí học, Truyền thông đại chúng và Luật học (học phần Luật Báo chí).
- Các nhà báo trẻ, biên tập viên các cơ quan thông tấn, báo chí đang tìm kiếm phương pháp luận về kỹ năng viết tin bài giản dị, đại chúng, và việc rèn luyện đạo đức người làm báo cách mạng.
Các phần có giá trị tham khảo cao nhất gồm:
- Mục phân tích nghệ thuật ngôn từ, phương pháp làm việc của nhà báo ("Nghe - Hỏi - Thấy - Xem - Ghi", tránh lối viết "rau muống").
- Bảng tổng hợp tiến trình văn bản pháp luật và các chỉ thị lãnh đạo của Đảng về báo chí từ năm 1945 đến năm 2004.
- Luận cứ khẳng định báo chí là hàng hóa đặc biệt, không để cơ chế thị trường làm biến chất mục tiêu chính trị của nền báo chí cách mạng.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo khóa luận, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp sáng lập và chỉ đạo những cơ quan báo chí tiêu biểu nào trong sự nghiệp của Người?
Theo thống kê trong khóa luận, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập tờ Le Paria (1921); sáng lập báo Thanh niên (21/06/1925) - mốc khai sinh nền báo chí cách mạng Việt Nam và trực tiếp chỉ đạo 88 số đầu; sáng lập báo Công Nông và Lính Kách Mệnh (ở Trung Quốc), báo Thân Ái (ở Thái Lan); trực tiếp chỉ đạo báo Đỏ (An Nam Cộng sản Đảng); sáng lập báo Việt Nam độc lập (1941), báo Cứu quốc (1942) và báo Nhân Dân (1951). Trong suốt cuộc đời (1919 - 1969), Người đã viết khoảng trên dưới 2.000 bài báo.
2. Hồ Chí Minh đưa ra các yêu cầu cụ thể nào về nghệ thuật ngôn từ và quy trình chuẩn bị tư liệu viết báo?
Người căn dặn trước khi viết phải trả lời bốn câu hỏi: "Mình vì ai mà viết?", "Mục đích viết làm gì?", "Viết cho ai?", "Viết cái gì?". Về thu thập tài liệu, người viết phải thực hiện nghiêm túc quy trình: "Nghe - Hỏi - Thấy - Xem - Ghi". Khi hành văn, phải viết giản dị, thiết thực, dễ hiểu, tránh lối viết "rau muống" lòng thòng, tránh dùng chữ nghĩa bác học xa rời tiếng nói của quần chúng, viết xong phải đọc lại nhiều lần và nhờ quần chúng góp ý sửa chữa.
3. Tiến trình hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý về báo chí được khóa luận ghi nhận qua các mốc thời gian nào?
Khóa luận liệt kê các mốc pháp lý chính: Sắc lệnh ngày 10/10/1945; Sắc lệnh 41 ngày 29/03/1946; Sắc lệnh 282 ngày 14/12/1956 và Luật số 100/SL-L-002 ngày 20/05/1957 quy định chế độ báo chí; các Nghị định 297/TTg và 298/TTg năm 1957; Luật Báo chí ngày 28/12/1989 (công bố 02/01/1990); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí ngày 12/06/1999; cùng các Nghị định 133/HĐBT và 384/HĐBT năm 1992.
4. Quy mô mạng lưới truyền thông nước ta được tác giả phản ánh qua những con số nào tại thời điểm nghiên cứu?
Số liệu ghi nhận trong văn bản gồm: Cả nước có gần 500 cơ quan báo chí với hơn 600 sản phẩm báo in; 01 đài phát thanh và 01 đài truyền hình quốc gia; 02 đài phát thanh và 03 đài truyền hình khu vực; 64 đài phát thanh - truyền hình tỉnh, thành phố; 606 đài truyền thanh cấp huyện (có 288 đài phát sóng FM và 830 trạm dẫn tiếp truyền hình cơ sở); đội ngũ những người làm báo được cấp thẻ đạt hơn 10.000 người.
5. Khóa luận giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa tính kinh tế thị trường và bản chất của báo chí cách mạng như thế nào?
Tác giả khẳng định báo chí hoạt động trong cơ chế thị trường nhưng là một loại "hàng hóa đặc biệt". Tính chất đặc biệt thể hiện ở chỗ báo chí không lấy lợi nhuận tài chính làm mục tiêu cao nhất và duy nhất, mà đặt lợi ích chính trị, văn hóa, tinh thần của đất nước và nhân dân lao động lên hàng đầu; chệch khỏi mục tiêu phục vụ nhiệm vụ chính trị là rơi vào thương mại hóa tiêu cực.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hiền là một công trình nghiên cứu lý luận chính trị nghiêm túc, hệ thống hóa một cách khoa học di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng trên các phương diện vị trí, chức năng, tính chiến đấu và phong cách nghề nghiệp. Tác phẩm đã phân tích sâu sắc bức tranh thực tiễn của báo chí Việt Nam giai đoạn đầu những năm 2000, đối chiếu chặt chẽ giữa quan điểm lý luận kinh điển với hệ thống chính sách, pháp luật và thực trạng hoạt động truyền thông. Những luận điểm và giải pháp được tác giả đúc rút giữ nguyên giá trị phương pháp luận đối với việc xây dựng đội ngũ người làm báo bản lĩnh, kiên định định hướng chính trị trong thời kỳ hội nhập.