CHƯƠNG I VAI TRÒ CHÍNH TRI CUA BAO CHÍ MOT SO VAN DE CHUNG 1. BAO CHÍ TRONG HE THONG CHÍNH TRI 1. Một số khái niệm co bản + Chính trị Theo quan điểm của chủ nghĩa Mac-Lénin, chính tri về thực chất bắt nguồn từ quan hệ về lợi ích giữa các giai cấp, các nhóm xã hội, các quốc gia dân tộc. Trong đó trước hết va cơ bản nhất là lợi ích kinh tế.
Cái chi phối trực tiếp chính trị chính là quan hệ giai cấp và vấn đề trung tâm then chốt nhất trong chính trị là van đề quyền lực Nhà nước. Quyền lực nhà nước là công cụ cơ ban dé thực hiện quan hệ với các giai cấp, các nhóm xã hội theo hướng có lợi cho lực lượng năm quyên. Trong cuộc đấu tranh giai cấp ngày càng khốc liệt, những người có sức mạnh kinh tế - những người thuộc giai cấp thống trị dan dan liên kết, gắn bó lại với nhau để bảo vệ địa vị của họ, chống lại những người bị thong tri trong xã hội. Do nhu cầu nội tai của nó (mà trước hết và cơ bản là bảo vệ, tăng cường lợi ích kinh tế), giai cấp thống trị buộc phải tìm cách duy tri sự ôn định của xã hội, ép buộc giai cấp đối kháng và toàn xã hội phải chấp nhận sống trong vòng trật tự có lợi cho giai cấp thống trị, phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị.
Dé thực hiện được mục tiêu này, giai cấp thống tri đã lập ra bộ máy bạo lực và sử dụng nó cho việc tô chức lại xã hội trong một khuôn khổ, theo một trật tự có lợi cho bản thân họ. Xã hội được tô chức lại theo cách thức tổ chức như thế được gọi là Nhà nước. Vì vậy, nói đến chính trị không thé không nói đến nhà nước. Theo Lénin, chính tri là sự tham gia vào những công việc nhà nước, là việc vạch hướng di cho nhà nước, là việc xác định những hình thức, nhiệm vụ, nội dung cho hoạt động của nhà nước.
12 Từ sự phân tích trên có thé định nghĩa: “Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, các quốc gia, các dân tộc, các lực lượng xã hội trong việc giành, giữ và thực thi quyên lực nhà nước ” [58, 8]. Tuy nhiên, nói đến chính trị nếu chỉ nói đến giai cấp và nhà nước là chưa đủ, mặc dù vấn đề giai cấp và vấn đề nhà nước là hai vẫn đề cơ bản nhất của chính trị, nhất là trong thời đại ngày nay khi mà hoà bình, độc lập, dân tộc, dân chủ, tự do, bình đăng đã trở thành mệnh lệnh sống của nhân loại. Gan đây, sự phát triển của khoa học chính trị phương Tây đã bổ sung và làm cho khái niệm về chính trị trở nên phong phú hơn. Theo đó, chính trị được hiểu là “tat cả các hoạt động của con người nhằm xác lập những chế định bắt buộc chung đối với nhóm hoặc giữa các nhóm người” [56, 58].
Chúng tôi xem đây là một cách hiểu có giá trị tham khảo đối với nghiên cứu này. + Hệ thống chính trị, hiểu theo cách chung nhất theo quan niệm chính trị học phương Tây hiện đại là “một tiểu hệ thong của xã hội đảm nhiệm chức năng tao ra các chế định bắt buộc cho xã hội đó. Về nguyên tắc hệ thống chính trị bao gôm hệ thong chính quyên, nghị viện, các Đảng phái, các nhóm lợi ích, truyền thông đại chúng và các thiết chế quản lý hành chính” [56, 64]. Hiểu theo cách cụ thể hơn phù hợp đặc điểm tình hình nước ta thì hé thống chính trị là tổ hop có tính chỉnh thé các thể chế chính trị (các cơ quan quyên lực nhà nước, các Đảng chính trị các tổ chức và các phong trào xã hội.) được xây dựng trên các quyên và các chuẩn mực xã hội, phân bố theo một kết cấu chức năng nhất định, vận hành theo những nguyên tắc, cơ chế và quan hệ cụ thể, nhằm thục thi quyên lực chính trị [58, 262].
Hệ thống chính trị của các quốc gia trên thế giới rất khác nhau, phần lớn các quốc gia tồn tại nhiều Đảng chính trị, nhưng có những quốc gia chỉ có một Đảng chính trị duy nhất, ví dụ như ở Việt Nam. Hệ thống chính tri ở nước ta, về mặt thé chế bao gồm: Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tô chức thành viên 13 (gồm Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, Hội cựu chiến binh Việt Nam) là cơ sở của chính quyền nhân dân. Mỗi bộ phận trong hệ thống chính trị có vị trí, vai trò nhất định. Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo hệ thống chính tri nước ta.
Hiến pháp 1992 tại Điều 4 quy định “Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyên lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác Lê nin và tu tưởng Hồ Chỉ Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội ”. Như vậy, Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo, hướng dẫn xã hội, là hạt nhân của hệ thống chính trỊ, các cơ quan và tổ chức xã hội ở nước ta. + Quyên lực chính trị hiểu theo nghĩa khoa học chính trị hiện đại là cơ hội mà người ta xác lập được những chế định bắt buộc cho xã hội bat chấp Sự phản kháng của người khác. Hiểu theo nghĩa hep hơn thì đó là quyên lực của một giai cấp hay liên minh giai cấp để thực hiện sự thống trị chính trị trên cơ sở thực hiện chức năng công quyên, cơ bản bang quyên lực nhà nước, là năng lực áp đặt và thực thi các giải pháp phân bồ giá trị xã hội có lợi cho giai cấp mình và đảm bảo mức độ nhất định sự công bằng xã hội [58, 219].
Trên thực tế quyền lực chính trị hiểu một cách cụ thé nhất, được thé hiện ở ba loại quyền gắn với những bộ phận cốt lõi của hệ thống chính trị đó là quyền lập pháp, tư pháp và hành pháp. Trong các hệ thống chính trị phương Tây, báo chí được coi là quyền lực thứ tư - quyền giám sát ba quyền trên. Trong điều kiện Việt Nam, ba quyền đó không phân biệt rạch ròi mà được tích hợp vào nhau đưới một sự lãnh đạo cao nhất đó là vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Do vậy quyên lực chính trị trong hệ thống chính trị Việt Nam phải được hiểu là quyền lực của nhân dân, nói như Hô Chí Minh thì “tât cả mọi quyên lực thuộc vê 14 nhân dân”.
Quyền lực chính trị của nhân dân được thể chế hóa thông qua vai trò lãnh đạo của Đảng, các cơ quan dân cử, hệ thống chính quyền và các bộ phận khác của hệ thong chinh tri. Trong hé thống chính tri nước ta, các quan hệ chính trị được xác lập do một cơ chế chủ đạo (và cũng là quan hệ chủ đạo): Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý. Đảng lãnh đạo bằng các cương lĩnh, đường lối, chủ trương, thông qua các nghị quyết của các tô chức Đảng, từ nghị quyết đại hội Đảng đến nghị quyết chỉ bộ cơ sở. Đường lối cương lĩnh của Dang được thé chế hóa trong hiến pháp và pháp luật, trong hệ thống văn bản pháp quy của nhà nước.
Lãnh đạo băng giáo dục, tuyên truyền, vận động, nêu gương, bằng công tác tô chức và cán bộ, bằng công tác kiểm tra. Nhân dân làm chủ, trước hết được xác định ở địa vị chủ thể quyền lực Nhà nước. Chỉ nhân dân mới có chủ quyền đối với quyền lực Nhà nước, nhưng nhân dân ủy quyền ấy cho các đại biểu của minh và giám sát đại biéu đó trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước. Nhân dân cũng còn làm chủ băng các hình thức trực tiếp và gián tiếp thông qua các đại biểu, các cơ quan dân cử và các đoàn thể của dân.
Quyền làm chủ của nhân dân ở nước ta không chỉ được đảm bảo bằng Hiến pháp, pháp luật, mà còn bằng hệ thống truyền thông, các phương tiện thông tin đại chúng, các cuộc vận động, thông qua thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, thực hiện dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Nhà nước quản lý xã hội trước hết bằng hệ thống quy phạm pháp luật, băng hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước từ các Bộ đến các cơ sở, trong đó không loại trừ các biện pháp cưỡng chế dé đảm bảo thực hiện sự nghiêm minh của pháp luật. Nhà nước thực hiện quản lý trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, quản lý theo ngành hoặc lãnh thô theo cấp vi mô hoặc vi mô. Nha nước thực hiện sự quản lý bang cả chính sách, các công cụ đòn bay khác.
Mục tiêu là phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân, phát huy 15 quyền làm chủ của nhân dân, đảm bảo cho nhân dân được làm tất cả những gì mà pháp luật không cam. + Xã hội hóa chính trị: Trong khoa học chính tri hiện đại nói chung thì xã hội hóa chính trị là một khái niệm rất quan trọng. Nó được hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa thứ nhất, về tâm lý học và xã hội học: Một con người sinh ra lúc đầu là trẻ con, chưa tham gia nhiều vào quá trình tương tác xã hội, thì xã hội hóa chính tri là quá trình làm cho con người xã hội cua nó ngảy cảng lớn lên trong mối tương tác với xã hội, làm quen với các chế định bắt buộc - đó là quá trình xã hội hóa của một cá nhân. Nghĩa thứ hai, về góc độ chính tri thi xã hội hóa chính tri là làm cho các chế định bắt buộc bao gồm các quy ước, quy định, tiêu chí ứng xử chính trị, đường lối lãnh đạo của Đảng, pháp luật của nhà nước.
được người dân, xã hội nhận thức, hiểu đúng và làm theo. Thực ra đó là quá trình tuyên truyền, pho biến nhận thức của hệ thống chính trị đối với xã hội, giải thích vì sao người ta phải tuân theo cái này mà không tuân theo cái kia. Do vậy cái cốt lõi của xã hội hóa chính trị hiện đại chính là quá trình tuyên truyền, cô động hay vận động và cưỡng chế xã hội. đó là chiều xuôi từ phía hệ thống chính trị.