Chương 1. Những van dé lý luận về giám sát và phản biện xã hội về chính sách công trên báo điện tử. Thực trạng giám sát và phản biện xã hội về chính sách công trên báo điện tử Vnexpress.net và Daidoanket. Những vân đê rút ra và một sô giải pháp nâng cao vai trò giám sát và phản biện xã hội vê chính sách công của báo điện tử.
NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE GIAM SAT VÀ PHAN BIEN XÃ HOI VE CHINH SACH CONG TREN BAO DIEN TU 1. Cac khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1. Khái niệm giám sát Theo Từ điển tiếng Việt, giám sát là “theo đối, kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không” [33, tr. Cuốn sách “Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng”, giải thích: “Gidm sát là theo dõi, kiểm tra, phát hiện, đánh giá của cá nhân, tổ chức, cộng đồng người đối với cá nhân, tổ chức, cộng đồng người khác trong các lĩnh vực hoạt dộng kinh tế - xã hội, trong việc thực hiện Hiến pháp, pháp luật, đường lối, quan điền cùa Đảng, chính sách của Nhà nước, các quyên lợi, nghĩa vụ của công dân, của các tổ chức chính trị - xã hội và kiến nghị phát huy, ưu điểm, thành tựu, xứ ly đối với cá nhân, tổ chức có những hành vi sai trai” [9, tr.
Tác giả Nguyễn Tho Ánh đưa ra định nghĩa: “Gidm sát là quá trình theo dõi, quan sát, phân tích, nhận định về hành vi của đối tượng bị giám sát xem có vi phạm những chuẩn mực của chủ thể quyển lực hay không dé có những tác động điều chỉnh đối tượng thực hiện đúng các yêu câu chuẩn mực mà chủ thể quyền lực đề ra” [1, tr. Trong “Quy chế GS&PBXH của Mặt tran Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thé chính trị - xã hội” được Bộ Chính tri ban hành ngày 12/12/2013 nêu rõ: ““Gidm sat” là việc theo dõi, phát hiện, xem xét; đánh giá kiến nghị nhằm tác động đổi với cơ quan, tổ chức và cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công chức, viên chức nhà nước về việc thực hiện các chủ trương, đường lỗi của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ” [44]. Qua các quan niệm khác nhau về giám sát nêu trên, giám sát được hiêu ở một sô khía cạnh như sau: - Giám sát là hoạt động của chủ thê biểu hiện qua theo dõi, quan sát, xem xét, nhận định về việc làm của khách thê chịu sự giám sát; Là quá trình liên tục, có thể bao gôm cả giám sát từ bên trong và giám sát từ bên ngoài. 20 - Giám sát mang tính độc lập, tức là chủ thể giám sát độc lập với khách thể chịu sự giám sát; nêu thiêu giám sát độc lập, việc giám sát chỉ mang tính hình thức.
- Giám sát đem lại những giải pháp dé các hoạt động của khách thé đi đúng hướng, đúng mục đích đã đặt ra. Theo những phân tích ở trên tác giả nhận định rằng: Gidm sát là quá trình theo dõi, thu thập, phân tích, quan sát liên tục về hành vi và các hoạt động của đổi tượng bị giám sát, từ đó có những đánh giá cụ thể và có những biện pháp điều chỉnh kịp thời để các hoạt động đi đúng quỹ đạo, đúng quy chế chung. Khái niệm giảm sát xã hội Tác giả Nguyễn Văn Dững khang định: “Gidm sát xã hội (social supervison) có thể được hiểu là quá trình theo dõi, kiểm tra một hoạt động hay một quá trình xã hội nao đó có ý nghĩa xã hội, được xã hội quan tâm và có sự tham gia cua lực lượng xã hội rộng rãi, cua các thiết chế xã hội và vì mục dich, lợi ích xã hội” [5, tr. As Còn tác giả Phạm Huy Kỳ cho rằng: “gidm sát xã hội của báo chí là việc theo dõi, kiểm tra quá trình thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, kịp thời phát hiện những nơi, những việc làm đúng, làm hay để biểu dương, khích lệ và tổng kết thực tiễn; đông thời cũng sớm phát hiện những “khiếm khuyết” của các chính sách - thể chế, qua đó nâng cao chất lượng quản trị của bộ máy nhà nước” [52].
Từ những quan niệm về giám sát xã hội trên đây, giám sát xã hội được hiêu như sau: - Giám sát xã hội là các hoạt động giám sát của các chủ thé ngoài nhà nước gồm có các đảng chính tri, các tô chức chính trị - xã hội, báo chí, công dân. Có sự tham gia rộng rãi của toàn xã hội mà nòng cốt là một số tố chức của nhân dân, do nhân dân lập nên và uỷ nhiệm. - Giám sát xã hội là quá trình giám sát quá trình thực thi quyền lực, dé chống lạm dụng quyền lực. Dé phân tích, đánh giá, phê phan, chỉ trích, dau tranh, biểu dương về các vấn đề lớn có ảnh hưởng trực tiếp đến cộng đồng.
- Giám sát xã hội bao gồm theo dõi, kiểm tra dé phát hiện những biểu hiện tiêu 21 cực, sai phạm pháp luật dé kịp thời ngăn chặn, đồng thời phát hiện những yếu tố tích cực dé khuyến khích. Do vậy, mục đích của giám sát xã hội thường là giám sát quá trình hình thành và thực thi CSC. Khái niệm phản biện Học giả Nguyễn Tran Bạt cho rằng, “phản biện là một thé hiện của các phản hành động xuất hiện một cách tự nhiên trong một xã hội mà ở đó mỗi con người déu tự do bày tỏ các nguyện vọng của mình. Phản biện góp phan điều chỉnh các khuynh hướng kinh tế, văn hoá, chính trị, làm cho các khuynh hướng đó trở nên khoa học hon, dung dan hơn và gan với đời sông con người hon” [43].
Theo tác giả Nguyễn Văn Dững, phản biện theo chiết tự, có nghĩa là “biện luận ngược”. Theo đó, có thể hiểu phản biện là dùng chứng cứ, lập luận để bác bỏ chứng cứ, lập luận đã được đưa ra trước đó. Tác giả giải thích: “phản biện là đưa ra lập luận để làm rõ đúng - sai của một van dé dang quan tâm, đang tranh luận” [5, tr. Còn theo Quyết định số 14/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ nước Công hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quy định “phản biện là hoạt động dua ra nhận xét, đánh giá, phê bình và các khuyến nghị về sự phù hợp của nội dung dé án với mục tiêu và các điều kiện đã quy định hoặc thực trạng đặt ra” [60].
Qua những khái niệm được nêu trên, có thể thấy rằng, phản biện được các tác giả định nghĩa có sự thống nhất ở các điểm: Thứ nhất, phản biện là hoạt động của một chủ thể (cá nhân hay tồ chức) nhằm thẩm định, đánh giá chất lượng hay giá trị khoa học của một sản phẩm khoa học của cá nhân hay tô chức khác. Thứ hai, hoạt động phản biện diễn đạt mối quan hệ hai chiều: một bên là chủ thé phản biện và bên kia là đối tượng phản biện. 7# ba, nội dung phản biện là sản phẩm khoa học (gồm công trình, phát minh, đề án, công trình nghiên cứu, luận văn, luận án, đề tài khoa học. Thứ tư, trách nhiệm của chủ thé phản biện là phải đưa ra những lý lẽ, cơ sở khoa học đê luận chứng cho việc đánh giá, nhận xét, xác định giá trị của sản phâm khoa học.
Nhu vậy, phản biện được hiệu co bản như sau: - Phản biện dé làm rõ vân đê “đúng”, “sai” dựa trên chứng cứ khoa học; Phan biện là nhận xét, đánh giá, phê bình, phê phán dựa trên những lập luận, luận cứ khoa 22 học đê làm rõ một vân đê trong cuộc sông; Phản biện không có tính bác bỏ hay xóa bỏ hoàn toàn vân đê đang phản biện. - Phản biện xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, xuất hiện khi đối tượng phản biện thực hiện cả một quá trình tìm hiểu, nghiên cứu kỹ lưỡng dựa trên cơ sở khoa học về đối tượng được phản biện, từ đó có nhưng đánh giá, nhận xét khách quan và khoa học và chính xác nhất. Còn phản biện xuất hiện ở mục đích chủ quan của người phản biện sẽ không còn đúng với ý nghĩa của thuật ngữ phản biện này. Khái niệm phản biện xã hội Khái niệm “phản biện xã hội” được nhiêu nhà nghiên cứu xây dựng trên cơ sở nội hàm của khái niệm “phản biện”, nên có nhiêu quan niệm khác nhau.
Tác giả Nguyên Tho Anh cho răng: “Phản biện xã hội là hoạt động cua một chu thê xã hội dùng các luận chứng khoa học đê nhận xét, đánh giá, nêu quan diém dé Cơ quan có thẩm quyên xem xét khi ban hành các quyét sách chính tri” [1, tr. Trong nghiên cứu “May van dé về báo chí phản biện xã hội” của tác giả Phan Xuân Sơn và Nguyễn Văn Dững, nghiên cứu chỉ ra định nghĩa “phản biện xã hội là thái độ và hành vi bày tỏ ý kiến, đánh giá, nhận xét, phê phán, tranh luận, thảo luận, thấm định của xã hội, thông qua các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp, các cộng đông, các cá nhân, thông qua báo chí - truyền thông. đối với quá trình ban hành và thực thi các quyết sách chính trị của đảng cam quyên và của các cơ quan nhà nước nhằm thực thi dân chủ, phát huy trí tuệ của xã hội, làm cho các quyết sách chính trị phản ánh đúng quy luật khách quan, đáp ứng lợi ích của các đối tượng chịu sự tác động của quyết sách chính tri” [58]. Như vậy phản biện xã hội các CSC chính là các cuộc thảo luận (đối thoại) của các tầng lớp ngoài nhà nước (các tô chức xã hội - chính tri, báo chí, nhân dân.) về chính sách cụ thé; hơn nữa là những cuộc đối thoại lớn của nhà nước với các tâng lớp xã hội vê ban hành và thực thi chính sách.
Luận văn tiêp cận khái niệm “phản biện xã hội” theo quan điêm nghiên cứu của tác giả Phan Xuân Sơn và Nguyên Văn Dững đã nêu ở trên. Cụ thê ở các khía cạnh Sau: - Phản biện xã hội là cuộc đôi thoại giữa các nhóm xã hội (nhóm lợi ích) vê một 23 vân đê lớn trong cuộc sông, đê cân băng các lợi ích, xung đột của nhau, tìm ra “điêm” đông thuận. Trong phản biện xã hội luôn tôn tại song song quan điêm giông nhau và quan điêm trái chiêu nhau. - Phản biện xã hội là dùng đánh giá, nhận xét, phê phán, bày tỏ ý kiến, tranh luận, thảo luận, thâm định trên tinh thần phản biện các van đề lớn (chủ trương, chính sách đề án, dự án xã hội.) có ảnh hưởng trực tiếp đến các nhóm xã hội (dân chúng, tổ chức, doanh nghiép.