Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu thông điệp về gia đình trên báo chí Chương 2. Nội dung thông điệp về gia đình trên 3 tờ báo: Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh Chương 3: Cách thức tổ chức thông điệp về gia đình trên 3 tờ báo: Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh Chương 4: Những vấn đề đặt ra và giải pháp phát huy hiệu quả thông điệp về gia đình trên ba tờ báo: Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh 12 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Hƣớng nghiên cứu về truyền thông đại chúng 1. Nghiên cứu trên thế giới Thuật ngữ truyền thông đại chúng lần đầu tiên được dùng trong Lời nói đầu của Hiến chương Liên Hiệp quốc về Văn hóa Khoa học và Giáo dục (UNESCO), năm 1946.
Từ đó, thuật ngữ này ngày càng trở nên thông dụng trong cả đời sống thường nhật và trong khoa học. Ngày nay, truyền thông đại chúng đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội như: báo chí học, xã hội học, tâm lý học, lịch sử học… Dưới góc độ xã hội học, truyền thông đại chúng được nghiên cứu như một quá trình xã hội, các phương tiện truyền thông đại chúng được khảo sát và phân tích như một thiết chế xã hội [34, tr. Lịch sử nghiên cứu về truyền thông đại chúng trải qua bốn giai đoạn: Ở giai đoạn đầu, các nhà xã hội học ở thời kỳ này cho rằng những thông điệp của các phương tiện truyền thông đại chúng được "chích" vào công chúng như chích một m i thuốc, đây được gọi là mô hình “m i kim tiêm” trong truyền thông đại chúng. Điều này dẫn tới hậu quả là hình thành nên một thứ “xã hội đại chúng” trong đó các cá nhân sống rời rạc nhau, không còn mối quan hệ thân thích, đáng tin cậy của cộng đồng c nữa.
Và vì thế, chỗ dựa mới nhất của họ là các phương tiện truyền thông đại chúng. Và chính xã hội đại chúng đã sản sinh ra những cá nhân không còn khả năng đề kháng trước sức thuyết phục của truyền thông đại chúng. Giai đoạn phát triển thứ hai của quá trình nghiên cứu về truyền thông đại chúng là từ năm 1940 tới đầu những năm 60 của thế kỷ 20. Nếu như giai đoạn trước, người ta nói đến truyền thông đại chúng như một m i “chích” vào công chúng hay có tác động trực tiếp, thì giai đoạn này nhà nghiên cứu đã bắt đầu nói tới những tác động gián tiếp, thông qua nhiều bước trung gian.
Ngoài ra, những quan điểm đánh giá bi quan về vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng ở giai đoạn này c ng đã hạn chế nhiều. Khi đi phân tích ảnh hưởng của truyền thông đại chúng, các nhà xã hội học như: Lazarsfeld, Bernard Berelson và Hazel Gaude, Robert Merton… đã chú ý nhấn mạnh đến vai trò của các nhóm xã hội (bạn bè, gia đình, hàng xóm, …) hay được gọi là “Opinion leaders” với ý nghĩa rằng: các thông điệp của các phương tiện truyền thông đại chúng thường được lọc qua những kênh đó rồi mới đi tới cá nhân. Ở giai đoạn ba, từ đầu những năm 1960 đến cuối thế kỷ 20, ngoài việc nghiên cứu công chúng và tác động của truyền thông đại chúng, các nhà chuyên môn còn 13 nghiên cứu về nội dung các thông điệp của truyền thông đại chúng, về quá trình truyền thông đại chúng, quá trình sản xuất các phương tiện truyền thông, nghiên cứu về đặc điểm của các nhà truyền thông và hoạt động của họ. Tiêu biểu có trường phái “Cultural studies” và lý thuyết không gian công cộng của Jurgen Habermas.
Trong giai đoạn này, một số nhà nghiên cứu đã hướng sự quan tâm vào nghiên cứu hiệu quả của truyền thông đại chúng qua từng tác động riêng rẽ của nó. Một trong những chỉ báo quan trọng cho thấy hiệu quả của truyền thông đại chúng mà các nhà nghiên cứu đã chỉ ra đó là việc công chúng nhớ được nội dung thông điệp. Giai đoạn bốn, với sự bùng nổ của công nghệ thông tin những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI đã đem đến cho truyền thông đại chúng những khái niệm mới “truyền thông đa phương tiện” với việc ra đời loại hình truyền thông mới là báo điện tử, tích hợp trong nó đầy đủ những kỹ thuật của các phương tiện truyền thông đại chúng trước đây. Và chính giai đoạn này c ng chứng minh tính đa chiều trong tương tác giữa truyền thông đại chúng và công chúng.
Trong công trình “Viết phỏng theo quyển Science de la communication của Judith Lajan, Que sais, je, Paris 1992”, tác giả đã chỉ rõ trong khoảng những năm 1930-1950 nổi lên bốn nhà nghiên cứu người Mỹ ngày nay được xem là những vị sáng lập ra truyền thông giao tiếp: Kaz-arsfeld, Lewin, Hovland, Lasswell. Điều đó cho thấy khoa học truyền thông giao tiếp gắn liền với những biến đổi quan trọng về kinh tế xã hội và nhu cầu thúc đẩy cách mạng khoa học kỹ thuật mà nước Mỹ đã có ảnh hưởng lớn trong hai cuộc đại chiến thế giới. Vào giai đoạn sau đó, năm 1962, trong công trình "Tinh thần thời đại", Edgar Morin đã coi văn hóa đại chúng như một phạm trù xã hội học và nhận định rằng nền văn hóa này tạo nên một hệ thống đặc biệt ở chỗ, nó được sản sinh ra theo những chuẩn mực của quy trình sản xuất công nghiệp và được các media phổ biến đến những đám dân cư khổng lồ. Edgar Morin c ng đã có công ở việc xác định các thời kỳ trong lịch sử hiện đại của văn hóa đại chúng.
Trong khoảng thập niên 70 - 80 “Nghiên cứu tác động của truyền thông đối với xã hội không chỉ bó hẹp trong những nghiên cứu thực nghiệm mà còn xuất hiện nghiên cứu phê phán, nghiên cứu diễn giải”. Các học giả quan tâm nhiều hơn đến mối quan hệ giữa truyền thông đại chúng đối với tri thức… c ng như ảnh hưởng của bạo lực và tình dục trên truyền thông tới công chúng, đặc biệt là giới trẻ. Các nghiên cứu chỉ ra ảnh hưởng rõ nét của truyền thông dẫn đến bệnh nghiền ti vi. Điều đó có thể dẫn đến sự “tha hóa” về niềm tin hoặc thói quen văn hóa từ các thông điệp xuất hiện trên truyền hình [22, tr.
14 Từ cuối thập niên 90 của thế kỷ trước đến thập niên đầu của thế kỷ 21, giới nghiên cứu tiến hành nhiều nghiên cứu lịch đại về mạng internet nói chung và tin tức trên internet nói riêng. Một nghiên cứu lớn của Viện Báo chí và con người PEW (Mỹ) tiến hành dự án nghiên cứu Internet và cuộc sống người Mỹ đã đưa ra những báo cáo về công chúng Internet ở Mỹ, chỉ ra khả năng tiếp cận, sử dụng và mức độ hài lòng của họ đối với tin tức trên mạng Internet. Nghiên cứu mới nhất (2006) của PEW chỉ ra những đặc điểm sau: Lượng người sử dụng mạng Internet liên tục tăng với tốc độ đáng ngạc nhiên. Tốc độ phát triển của việc sử dụng thông tin trên mạng Internet tỉ lệ thuận với số người dân có đường truyền băng thông rộng.
Tỉ lệ những người có đường truyền tốc độ cao ở nhà tiêu thụ tin tức trên mạng Internet cao hơn những người sử dụng đường truyền dial-up. 40% số người có đường truyền băng thông rộng coi tin tức trên mạng Internet là nguồn tin quan trọng. Việc sử dụng mạng Internet nói chung tỉ lệ nghịch với độ tuổi của công chúng Mỹ. Công chúng sẵn lòng đăng ký đọc tin nhưng không sẵn lòng trả tiền.
Những nghiên cứu ở giai đoạn này không chỉ dừng lại ở việc nhận thức nền tảng Internet trong mối quan hệ với các phương tiện truyền thông mới mà còn đi sâu vào việc phân tích tác động của truyền thông đối với con người. Tác giả Ien Ang (2016) cho rằng, những mục tiêu và công thức đơn tuyến cần phải dựa trên các gắn kết lâu dài đối với thực thể cộng với nỗ lực không ngừng của khái quát tri thức về hoàn cảnh thực tại. Luận điểm trên cho thấy rằng tác động của truyền thông đại chúng đối với con người hay nói hẹp hơn là với công chúng truyền thông cần góp phần vào phê phán “nạn tha hoá” của cá nhân và quan trọng hơn là áp dụng tri thức của khoa học thông qua các kênh truyền thông để thực hiện việc hoạch định chính sách [8. C ng trong mối quan tâm về tác động của truyền thông đối với con người - công chúng, tác giả Aya Hirata Kimura (2016) đã phân tích tâm thế của nhóm những người mẹ Nhật Bản trước sự rò rỉ của phóng xạ sau sự biến Fukushima 2011 những vấn đề xã hội bức thiết liên quan đến vai trò của thiết chế nhà nước của các phương tiện truyền thông đại chúng, khả năng bền vững của nhân tố kỹ thuật và tâm trạng của cộng đồng trước vấn đề an toàn của mạng sống đã trở thành chủ đề căn bản của các thông điệp truyền thông trong bối cảnh bất an của biến đổi khí hậu và sự yếu kém của các yếu tố kỹ thuật trong phát triển [9, tr.
Một tác giả khác Brian Massumi (2015) nhấn mạnh đến vai trò của truyền thông như là phương tiện của cơ chế quản trị trực tiếp thông qua các năng lực thao túng cảm giác của con người. Nhà nghiên cứu này chỉ ra rằng, trong khi truyền hình 15 có sức mạnh thị giác đặc trưng thì mạng Internet có khả năng len lỏi vào các chiều cạnh của đời sống con người in dấu ấn cá nhân hoá rất cao. Điều này dựa trên sự phát triển của công nghệ truyền thông, đặc biệt là của smartphone. Chính quá trình này đã gắn liền với hoạt động: Lao động số hay nói khác hơn là quá trình số hoá các hoạt động giao tiếp xã hội trên các lĩnh vực xã hội rộng lớn (David Kergel và Brite Heidkamp (2017) [9.
Việc quan sát các công trình trên cho thấy, lịch sự phát triển của truyền thông đại chúng luôn luôn gắn liền với sự phát triển của các phương tiện kỹ thuật: công nghệ nghe nhìn, nền tảng Internet, các cơ sở vật chất xã hội này đã tạo nên các điều kiện trong quá trình truyền thông điệp và tác động xã hội đối với công chúng. Nó làm thay đổi các đặc điểm của công chúng. Từ những nhóm xã hội lớn tiếp nhận thụ động các thông điệp truyền thông như mối lo ngại của các nhà nghiên cứu thuộc trường phái Frankfurt (Đức) là truyền thông đại chúng có thể biến công chúng thành những khối đại chúng tiếp nhận một cách thụ động trong mối liên hệ với dòng truyền thông.