Luận án tiến sĩ về thông điệp gia đình trên ba tờ báo phụ nữ Việt Nam

Luận án tiến sĩ phân tích thông điệp về gia đình trên ba tờ báo phụ nữ việt nam phụ nữ thủ đô và phụ nữ thành phố hồ chí minh, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng

Chuyên ngành

Báo chí học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2023

203
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Hướng nghiên cứu về truyền thông đại chúng

1.2. Hướng nghiên cứu thông điệp truyền thông

1.3. Hướng nghiên cứu thông điệp về gia đình

1.4. Đánh giá tổng quát về các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án và đề ra hướng nghiên cứu cho luận án

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU THÔNG ĐIỆP VỀ GIA ĐÌNH TRÊN BÁO CHÍ

1.1. Các khái niệm cơ bản

1.2. Các lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu

1.3. Cơ sở chính trị và pháp lý liên quan đến vai trò của báo chí trong truyền thông về gia đình

1.4. Vai trò của thông điệp về gia đình trên báo in

1.5. Thông tin cơ bản về mẫu nghiên cứu

2. NỘI DUNG THÔNG ĐIỆP VỀ GIA ĐÌNH TRÊN BA TỜ BÁO: PHỤ NỮ VIỆT NAM, PHỤ NỮ THỦ ĐÔ VÀ PHỤ NỮ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1. Thông điệp về giá trị hôn nhân

2.2. Thông điệp về chức năng gia đình

2.3. Thông điệp về cấu trúc gia đình

2.4. Thông điệp về mối quan hệ trong gia đình

2.5. Thông điệp về các yếu tố tác động đến gia đình

3. CÁCH THỨC TỔ CHỨC THÔNG ĐIỆP VỀ GIA ĐÌNH TRÊN BA TỜ BÁO: PHỤ NỮ VIỆT NAM, PHỤ NỮ THỦ ĐÔ VÀ PHỤ NỮ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3.1. Số lượng tin bài

3.2. Chuyên mục và vị trí đăng tải

3.3. Đối tượng phản ánh, nguồn đăng tải trong bài viết

3.4. Thể loại đăng tải

3.5. Cách sử dụng tiêu đề thể hiện thông điệp

3.6. Ngôn ngữ, hình ảnh thể hiện thông điệp

4. CHƯƠNG 4: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY HIỆU QUẢ THÔNG ĐIỆP VỀ GIA ĐÌNH TRÊN BA TỜ BÁO: PHỤ NỮ VIỆT NAM, PHỤ NỮ THỦ ĐÔ VÀ PHỤ NỮ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

4.1. Những vấn đề đặt ra với thông điệp về gia đình trên ba tờ báo: Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh

4.2. Giải pháp phát huy hiệu quả thông điệp về gia đình trên báo in, cụ thể là ba tờ báo: Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh

4.3. Bảo đảm các điều kiện nâng cao hiệu quả thông điệp về gia đình trên ba tờ báo: Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

1. DANH MỤC BẢNG

2. DANH MỤC BIỂU ĐỒ

3. DANH MỤC HÌNH

4. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan về thông điệp gia đình trên báo phụ nữ Việt Nam

Gia đình là một trong những chủ đề quan trọng được đề cập trên các phương tiện truyền thông, đặc biệt là báo chí. Các tờ báo như Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh đã phản ánh nhiều khía cạnh của gia đình trong bối cảnh xã hội hiện đại. Thông điệp về gia đình không chỉ đơn thuần là thông tin mà còn chứa đựng những giá trị văn hóa, xã hội và tâm lý của người dân. Việc nghiên cứu thông điệp này giúp hiểu rõ hơn về vai trò của gia đình trong xã hội Việt Nam.

1.1. Định nghĩa và vai trò của thông điệp gia đình

Thông điệp gia đình được hiểu là những thông tin, quan điểm và giá trị liên quan đến gia đình được truyền tải qua báo chí. Vai trò của thông điệp này là rất lớn, ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi của công chúng về gia đình.

1.2. Tầm quan trọng của báo phụ nữ trong việc truyền tải thông điệp

Báo phụ nữ không chỉ là nơi cung cấp thông tin mà còn là kênh truyền tải các giá trị văn hóa, xã hội về gia đình. Các tờ báo này đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về giá trị gia đình trong xã hội.

II. Những thách thức trong việc truyền tải thông điệp gia đình

Mặc dù thông điệp gia đình được truyền tải rộng rãi, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong việc thể hiện và tiếp nhận thông điệp này. Các vấn đề như sự thay đổi trong cấu trúc gia đình, sự gia tăng bạo lực gia đình và những quan niệm truyền thống đang gây khó khăn cho việc truyền tải thông điệp một cách hiệu quả.

2.1. Sự thay đổi trong cấu trúc gia đình hiện đại

Cấu trúc gia đình đang thay đổi nhanh chóng với sự gia tăng của các gia đình đơn thân, gia đình đa văn hóa. Điều này tạo ra những thách thức trong việc truyền tải thông điệp về giá trị gia đình truyền thống.

2.2. Tác động của bạo lực gia đình đến thông điệp truyền thông

Bạo lực gia đình là một vấn đề nghiêm trọng, ảnh hưởng đến cách mà thông điệp về gia đình được truyền tải. Các tờ báo cần phải cẩn trọng trong việc đưa tin để không làm tổn thương nạn nhân.

III. Phương pháp nghiên cứu thông điệp gia đình trên báo

Để nghiên cứu thông điệp gia đình, cần áp dụng các phương pháp phân tích nội dung và khảo sát. Việc phân tích các bài viết trên ba tờ báo sẽ giúp xác định các chủ đề chính và cách thức tổ chức thông điệp.

3.1. Phân tích nội dung các bài viết

Phân tích nội dung giúp xác định các chủ đề chính liên quan đến gia đình, từ đó đưa ra những nhận định về cách thức truyền tải thông điệp.

3.2. Khảo sát ý kiến độc giả về thông điệp gia đình

Khảo sát ý kiến độc giả sẽ giúp hiểu rõ hơn về cách mà công chúng tiếp nhận thông điệp gia đình từ báo chí, từ đó có thể điều chỉnh nội dung cho phù hợp.

IV. Kết quả nghiên cứu thông điệp gia đình trên báo phụ nữ

Kết quả nghiên cứu cho thấy thông điệp về gia đình trên ba tờ báo này rất đa dạng và phong phú. Các thông điệp chủ yếu tập trung vào giá trị hôn nhân, chức năng gia đình và các mối quan hệ trong gia đình.

4.1. Giá trị hôn nhân trong thông điệp gia đình

Thông điệp về giá trị hôn nhân được nhấn mạnh, thể hiện qua các bài viết về tình yêu, sự chung thủy và trách nhiệm trong hôn nhân.

4.2. Chức năng gia đình và vai trò của phụ nữ

Các bài viết thường đề cập đến chức năng của gia đình trong việc nuôi dạy con cái và vai trò của phụ nữ trong việc duy trì hạnh phúc gia đình.

V. Giải pháp nâng cao hiệu quả thông điệp gia đình trên báo

Để nâng cao hiệu quả của thông điệp gia đình, cần có những giải pháp cụ thể như cải thiện nội dung, tăng cường sự tương tác với độc giả và sử dụng các kênh truyền thông hiện đại.

5.1. Cải thiện nội dung bài viết về gia đình

Nội dung cần được cải thiện để phản ánh đúng thực trạng và nhu cầu của gia đình hiện đại, từ đó thu hút sự quan tâm của độc giả.

5.2. Tăng cường tương tác với độc giả

Tạo ra các kênh tương tác để độc giả có thể chia sẻ ý kiến và trải nghiệm của mình về gia đình, từ đó làm phong phú thêm nội dung thông điệp.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai của thông điệp gia đình

Thông điệp gia đình trên báo phụ nữ Việt Nam có vai trò quan trọng trong việc định hình nhận thức và hành vi của công chúng. Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và cải thiện để đáp ứng nhu cầu của xã hội.

6.1. Tầm quan trọng của thông điệp gia đình trong xã hội hiện đại

Thông điệp gia đình không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân mà còn đến toàn xã hội, góp phần xây dựng một xã hội văn minh và phát triển.

6.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo về thông điệp gia đình

Cần có những nghiên cứu sâu hơn về cách mà thông điệp gia đình được tiếp nhận và tác động đến hành vi của công chúng trong bối cảnh xã hội hiện đại.

15/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu thông điệp về gia đình trên báo chí Chương 2. Nội dung thông điệp về gia đình trên 3 tờ báo: Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh Chương 3: Cách thức tổ chức thông điệp về gia đình trên 3 tờ báo: Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh Chương 4: Những vấn đề đặt ra và giải pháp phát huy hiệu quả thông điệp về gia đình trên ba tờ báo: Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh 12 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Hƣớng nghiên cứu về truyền thông đại chúng 1. Nghiên cứu trên thế giới Thuật ngữ truyền thông đại chúng lần đầu tiên được dùng trong Lời nói đầu của Hiến chương Liên Hiệp quốc về Văn hóa Khoa học và Giáo dục (UNESCO), năm 1946.

Từ đó, thuật ngữ này ngày càng trở nên thông dụng trong cả đời sống thường nhật và trong khoa học. Ngày nay, truyền thông đại chúng đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội như: báo chí học, xã hội học, tâm lý học, lịch sử học… Dưới góc độ xã hội học, truyền thông đại chúng được nghiên cứu như một quá trình xã hội, các phương tiện truyền thông đại chúng được khảo sát và phân tích như một thiết chế xã hội [34, tr. Lịch sử nghiên cứu về truyền thông đại chúng trải qua bốn giai đoạn: Ở giai đoạn đầu, các nhà xã hội học ở thời kỳ này cho rằng những thông điệp của các phương tiện truyền thông đại chúng được "chích" vào công chúng như chích một m i thuốc, đây được gọi là mô hình “m i kim tiêm” trong truyền thông đại chúng. Điều này dẫn tới hậu quả là hình thành nên một thứ “xã hội đại chúng” trong đó các cá nhân sống rời rạc nhau, không còn mối quan hệ thân thích, đáng tin cậy của cộng đồng c nữa.

Và vì thế, chỗ dựa mới nhất của họ là các phương tiện truyền thông đại chúng. Và chính xã hội đại chúng đã sản sinh ra những cá nhân không còn khả năng đề kháng trước sức thuyết phục của truyền thông đại chúng. Giai đoạn phát triển thứ hai của quá trình nghiên cứu về truyền thông đại chúng là từ năm 1940 tới đầu những năm 60 của thế kỷ 20. Nếu như giai đoạn trước, người ta nói đến truyền thông đại chúng như một m i “chích” vào công chúng hay có tác động trực tiếp, thì giai đoạn này nhà nghiên cứu đã bắt đầu nói tới những tác động gián tiếp, thông qua nhiều bước trung gian.

Ngoài ra, những quan điểm đánh giá bi quan về vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng ở giai đoạn này c ng đã hạn chế nhiều. Khi đi phân tích ảnh hưởng của truyền thông đại chúng, các nhà xã hội học như: Lazarsfeld, Bernard Berelson và Hazel Gaude, Robert Merton… đã chú ý nhấn mạnh đến vai trò của các nhóm xã hội (bạn bè, gia đình, hàng xóm, …) hay được gọi là “Opinion leaders” với ý nghĩa rằng: các thông điệp của các phương tiện truyền thông đại chúng thường được lọc qua những kênh đó rồi mới đi tới cá nhân. Ở giai đoạn ba, từ đầu những năm 1960 đến cuối thế kỷ 20, ngoài việc nghiên cứu công chúng và tác động của truyền thông đại chúng, các nhà chuyên môn còn 13 nghiên cứu về nội dung các thông điệp của truyền thông đại chúng, về quá trình truyền thông đại chúng, quá trình sản xuất các phương tiện truyền thông, nghiên cứu về đặc điểm của các nhà truyền thông và hoạt động của họ. Tiêu biểu có trường phái “Cultural studies” và lý thuyết không gian công cộng của Jurgen Habermas.

Trong giai đoạn này, một số nhà nghiên cứu đã hướng sự quan tâm vào nghiên cứu hiệu quả của truyền thông đại chúng qua từng tác động riêng rẽ của nó. Một trong những chỉ báo quan trọng cho thấy hiệu quả của truyền thông đại chúng mà các nhà nghiên cứu đã chỉ ra đó là việc công chúng nhớ được nội dung thông điệp. Giai đoạn bốn, với sự bùng nổ của công nghệ thông tin những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI đã đem đến cho truyền thông đại chúng những khái niệm mới “truyền thông đa phương tiện” với việc ra đời loại hình truyền thông mới là báo điện tử, tích hợp trong nó đầy đủ những kỹ thuật của các phương tiện truyền thông đại chúng trước đây. Và chính giai đoạn này c ng chứng minh tính đa chiều trong tương tác giữa truyền thông đại chúng và công chúng.

Trong công trình “Viết phỏng theo quyển Science de la communication của Judith Lajan, Que sais, je, Paris 1992”, tác giả đã chỉ rõ trong khoảng những năm 1930-1950 nổi lên bốn nhà nghiên cứu người Mỹ ngày nay được xem là những vị sáng lập ra truyền thông giao tiếp: Kaz-arsfeld, Lewin, Hovland, Lasswell. Điều đó cho thấy khoa học truyền thông giao tiếp gắn liền với những biến đổi quan trọng về kinh tế xã hội và nhu cầu thúc đẩy cách mạng khoa học kỹ thuật mà nước Mỹ đã có ảnh hưởng lớn trong hai cuộc đại chiến thế giới. Vào giai đoạn sau đó, năm 1962, trong công trình "Tinh thần thời đại", Edgar Morin đã coi văn hóa đại chúng như một phạm trù xã hội học và nhận định rằng nền văn hóa này tạo nên một hệ thống đặc biệt ở chỗ, nó được sản sinh ra theo những chuẩn mực của quy trình sản xuất công nghiệp và được các media phổ biến đến những đám dân cư khổng lồ. Edgar Morin c ng đã có công ở việc xác định các thời kỳ trong lịch sử hiện đại của văn hóa đại chúng.

Trong khoảng thập niên 70 - 80 “Nghiên cứu tác động của truyền thông đối với xã hội không chỉ bó hẹp trong những nghiên cứu thực nghiệm mà còn xuất hiện nghiên cứu phê phán, nghiên cứu diễn giải”. Các học giả quan tâm nhiều hơn đến mối quan hệ giữa truyền thông đại chúng đối với tri thức… c ng như ảnh hưởng của bạo lực và tình dục trên truyền thông tới công chúng, đặc biệt là giới trẻ. Các nghiên cứu chỉ ra ảnh hưởng rõ nét của truyền thông dẫn đến bệnh nghiền ti vi. Điều đó có thể dẫn đến sự “tha hóa” về niềm tin hoặc thói quen văn hóa từ các thông điệp xuất hiện trên truyền hình [22, tr.

14 Từ cuối thập niên 90 của thế kỷ trước đến thập niên đầu của thế kỷ 21, giới nghiên cứu tiến hành nhiều nghiên cứu lịch đại về mạng internet nói chung và tin tức trên internet nói riêng. Một nghiên cứu lớn của Viện Báo chí và con người PEW (Mỹ) tiến hành dự án nghiên cứu Internet và cuộc sống người Mỹ đã đưa ra những báo cáo về công chúng Internet ở Mỹ, chỉ ra khả năng tiếp cận, sử dụng và mức độ hài lòng của họ đối với tin tức trên mạng Internet. Nghiên cứu mới nhất (2006) của PEW chỉ ra những đặc điểm sau: Lượng người sử dụng mạng Internet liên tục tăng với tốc độ đáng ngạc nhiên. Tốc độ phát triển của việc sử dụng thông tin trên mạng Internet tỉ lệ thuận với số người dân có đường truyền băng thông rộng.

Tỉ lệ những người có đường truyền tốc độ cao ở nhà tiêu thụ tin tức trên mạng Internet cao hơn những người sử dụng đường truyền dial-up. 40% số người có đường truyền băng thông rộng coi tin tức trên mạng Internet là nguồn tin quan trọng. Việc sử dụng mạng Internet nói chung tỉ lệ nghịch với độ tuổi của công chúng Mỹ. Công chúng sẵn lòng đăng ký đọc tin nhưng không sẵn lòng trả tiền.

Những nghiên cứu ở giai đoạn này không chỉ dừng lại ở việc nhận thức nền tảng Internet trong mối quan hệ với các phương tiện truyền thông mới mà còn đi sâu vào việc phân tích tác động của truyền thông đối với con người. Tác giả Ien Ang (2016) cho rằng, những mục tiêu và công thức đơn tuyến cần phải dựa trên các gắn kết lâu dài đối với thực thể cộng với nỗ lực không ngừng của khái quát tri thức về hoàn cảnh thực tại. Luận điểm trên cho thấy rằng tác động của truyền thông đại chúng đối với con người hay nói hẹp hơn là với công chúng truyền thông cần góp phần vào phê phán “nạn tha hoá” của cá nhân và quan trọng hơn là áp dụng tri thức của khoa học thông qua các kênh truyền thông để thực hiện việc hoạch định chính sách [8. C ng trong mối quan tâm về tác động của truyền thông đối với con người - công chúng, tác giả Aya Hirata Kimura (2016) đã phân tích tâm thế của nhóm những người mẹ Nhật Bản trước sự rò rỉ của phóng xạ sau sự biến Fukushima 2011 những vấn đề xã hội bức thiết liên quan đến vai trò của thiết chế nhà nước của các phương tiện truyền thông đại chúng, khả năng bền vững của nhân tố kỹ thuật và tâm trạng của cộng đồng trước vấn đề an toàn của mạng sống đã trở thành chủ đề căn bản của các thông điệp truyền thông trong bối cảnh bất an của biến đổi khí hậu và sự yếu kém của các yếu tố kỹ thuật trong phát triển [9, tr.

Một tác giả khác Brian Massumi (2015) nhấn mạnh đến vai trò của truyền thông như là phương tiện của cơ chế quản trị trực tiếp thông qua các năng lực thao túng cảm giác của con người. Nhà nghiên cứu này chỉ ra rằng, trong khi truyền hình 15 có sức mạnh thị giác đặc trưng thì mạng Internet có khả năng len lỏi vào các chiều cạnh của đời sống con người in dấu ấn cá nhân hoá rất cao. Điều này dựa trên sự phát triển của công nghệ truyền thông, đặc biệt là của smartphone. Chính quá trình này đã gắn liền với hoạt động: Lao động số hay nói khác hơn là quá trình số hoá các hoạt động giao tiếp xã hội trên các lĩnh vực xã hội rộng lớn (David Kergel và Brite Heidkamp (2017) [9.

Việc quan sát các công trình trên cho thấy, lịch sự phát triển của truyền thông đại chúng luôn luôn gắn liền với sự phát triển của các phương tiện kỹ thuật: công nghệ nghe nhìn, nền tảng Internet, các cơ sở vật chất xã hội này đã tạo nên các điều kiện trong quá trình truyền thông điệp và tác động xã hội đối với công chúng. Nó làm thay đổi các đặc điểm của công chúng. Từ những nhóm xã hội lớn tiếp nhận thụ động các thông điệp truyền thông như mối lo ngại của các nhà nghiên cứu thuộc trường phái Frankfurt (Đức) là truyền thông đại chúng có thể biến công chúng thành những khối đại chúng tiếp nhận một cách thụ động trong mối liên hệ với dòng truyền thông.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu thông điệp gia đình trên báo phụ nữ Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách mà các thông điệp gia đình được truyền tải qua các bài viết trên báo phụ nữ. Nghiên cứu này không chỉ phân tích nội dung mà còn khám phá ảnh hưởng của những thông điệp này đến nhận thức và hành vi của độc giả. Một trong những điểm nổi bật là sự kết nối giữa các giá trị gia đình truyền thống và hiện đại, giúp độc giả hiểu rõ hơn về vai trò của gia đình trong xã hội hiện nay.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực báo chí và quản lý nhà nước, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí trên địa bàn tỉnh đăk lăk, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về quản lý báo chí tại một tỉnh cụ thể. Ngoài ra, Giáo trình luật báo chí và đạo đức nghề nghiệp sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các quy định và tiêu chuẩn đạo đức trong ngành báo chí. Cuối cùng, Luận văn ths khbc vấn đề định hướng dư luận xã hội trên hệ thống truyền thông thủ đô trong cơ chế thị trường sẽ cung cấp thêm thông tin về cách mà truyền thông có thể định hướng dư luận trong bối cảnh hiện đại.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở ra nhiều góc nhìn mới cho bạn trong lĩnh vực báo chí và truyền thông.