Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Nâng cao năng lực giáo dục, thuyết phục của đội ngũ chính trị viên ở các sư đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Quốc Trị, thuộc chuyên ngành Xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước (mã số khoa học chính trị). Luận án tiếp cận vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội trong Quân đội nhân dân Việt Nam, đặt trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 51-NQ/TW ngày 20 tháng 7 năm 2005 của Bộ Chính trị (khóa IX) về việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Theo luận giải của tác giả, giáo dục, thuyết phục và nêu gương là phương pháp công tác cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong quân đội, đội ngũ chính trị viên (CTV) ở các sư đoàn bộ binh là người chủ trì về chính trị tại đơn vị cấp phân đội (đại đội, tiểu đoàn), trực tiếp tiến hành công tác đảng, công tác chính trị (CTĐ, CTCT), giữ vai trò nòng cốt trong việc xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị. Giai đoạn từ năm 1982 đến năm 2005, việc thực hiện chế độ một người chỉ huy theo Nghị quyết số 27-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa V) đã bộc lộ những bất cập, làm suy giảm vị trí của cán bộ chính trị và khiến năng lực giáo dục, thuyết phục (GD, TP) bị suy giảm ở một bộ phận cán bộ phân đội.

Sau khi Nghị quyết số 51-NQ/TW khôi phục chế độ chính ủy, CTV, năng lực của đội ngũ này từng bước được cải thiện. Tuy nhiên, đội ngũ CTV tại các sư đoàn bộ binh hiện nay phần lớn sinh ra trong thời bình, tuổi đời trẻ (tỷ lệ dưới 30 tuổi chiếm 65,5%), chưa trải qua thử thách chiến đấu thực tế. Một bộ phận CTV còn lúng túng trong ứng xử, ngại đối thoại trực tiếp, giải quyết các mối quan hệ máy móc hoặc thiên về mệnh lệnh hành chính, cưỡng chế kỷ luật. Bên cạnh đó, các tác động từ mặt trái kinh tế thị trường, sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các tệ nạn xã hội và âm mưu "diễn biến hòa bình" đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực GD, TP cho đội ngũ này. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu trực tiếp, hệ thống và chuyên sâu về năng lực GD, TP của đội ngũ CTV ở các sư đoàn bộ binh dưới góc độ chuyên ngành Xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là luận giải làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực tiễn về nâng cao năng lực GD, TP của đội ngũ CTV; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao năng lực GD, TP của đội ngũ CTV ở các sư đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.

Để thực hiện mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án.
  2. Luận giải làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn về năng lực GD, TP và nâng cao năng lực GD, TP của đội ngũ CTV ở các sư đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
  3. Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân, khái quát một số kinh nghiệm nâng cao năng lực GD, TP của đội ngũ CTV ở các sư đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
  4. Đề xuất yêu cầu và những giải pháp nâng cao năng lực GD, TP của đội ngũ CTV ở các sư đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Nâng cao năng lực GD, TP của đội ngũ CTV ở các sư đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
  • Khách thể và không gian nghiên cứu: Đội ngũ CTV ở các sư đoàn bộ binh đủ quân thuộc các quân khu, quân đoàn. Tác giả tiến hành khảo sát bằng phiếu trưng cầu ý kiến đối với cấp trên, đồng cấp, hạ sĩ quan, binh sĩ tại một số sư đoàn bộ binh đủ quân và học viên đào tạo CTV tại Trường Sĩ quan Chính trị.
  • Phạm vi thời gian: Các số liệu điều tra, khảo sát thực tế được giới hạn chủ yếu từ năm 2006 đến năm 2019; các giải pháp đề xuất có giá trị ứng dụng định hướng đến năm 2025.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã phân tích, hệ thống hóa khối lượng lớn tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan trực tiếp và gián tiếp đến đề tài, chia thành các nhóm nội dung:

Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

  1. Nghiên cứu về lý luận giáo dục và nghệ thuật thuyết phục:

    • John Dewey trong tác phẩm Dân chủ và giáo dục luận giải bản chất xã hội của môi trường giáo dục, xem giáo dục là hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng và định hình dạng thức hoạt động xã hội.
    • Ph.Gô-nô-bô-lin với Những phẩm chất tâm lý của người giáo viên khẳng định giáo dục mang tính đảng, gắn liền với chính trị và yêu cầu người dạy phải có năng lực truyền đạt, thuyết phục, tổ chức.
    • A.S. Ma-ca-ren-cô trong Giáo dục trong thực tiễn nhấn mạnh vai trò của mục tiêu giáo dục, tính chân thành và phương pháp lao động tập thể.
    • V.Lê-Bê-Đép (Tâm lý xã hội trong quản lý) phân tích yếu tố tâm lý xã hội và phương pháp thuyết phục bình đẳng trong hoạt động quản lý nhằm tránh hiện tượng tự vệ tâm lý.
    • James H. Stronge (Những phẩm chất của người giáo viên hiệu quả) xác định các kỹ năng giảng dạy, giao tiếp hai chiều, quản lý lớp học và đánh giá người học.
    • Trần Long Văn (Nghệ thuật lãnh đạo), Raymond De Saint Laurent (Nghệ thuật nói trước công chúng) và Kurt W. Mortensen (IQ trong nghệ thuật thuyết phục) đi sâu vào kỹ năng giao tiếp, nghệ thuật hùng biện, sự kết hợp giữa tư duy tích cực, thấu hiểu tâm lý và năng lực tạo lập sự tin tưởng.
  2. Nghiên cứu về công tác chính trị và người chính trị viên trong quân đội nước ngoài:

    • A.I.X-rê-đin (Công tác đảng, công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang Liên Xô 1918-1973), I.R.Lô-su-nốp (Lênin bàn về giáo dục chiến sĩ Xô viết) và V.Mi-Khai-Lốp (Lênin, Đảng Cộng sản Liên Xô bàn về công tác đảng-công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang) làm rõ vị trí hàng đầu của phương pháp thuyết phục trong giáo dục cộng sản chủ nghĩa và vai trò của CTV Hồng quân.
    • Vấn đề Đảng lãnh đạo quân đội ở một số nước xã hội chủ nghĩa tổng hợp tư liệu từ Liên Xô, CHDC Đức, Cuba, Triều Tiên khẳng định CTV là những đảng viên được lựa chọn để giác ngộ bộ đội.
    • Chương Tư Nghị (Giáo trình công tác đảng, công tác chính trị trong học viện, nhà trường Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc trong thời kỳ mới) và Điều lệ công tác chính trị Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (2003) quy định chức trách của CTV với tư cách người chủ trì công việc thường ngày của cấp ủy.
    • Các luận án tiến sĩ khoa học chính trị của Thim Sảo Đuông ChămPa (về giáo dục chính trị cho hạ sĩ quan, binh sĩ QĐND Lào), Sẻng Thoong UnNang (về bản lĩnh chính trị cán bộ tiểu đoàn QĐND Lào) và Neang Phat (về xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội Hoàng gia Campuchia) tiếp cận phương pháp giáo dục, nêu gương và xây dựng phẩm chất của người cán bộ quân sự.

Các công trình nghiên cứu ở trong nước

  1. Nghiên cứu về phương pháp công tác tư tưởng và phong cách lãnh đạo:

    • Đào Duy Quát (chủ biên, Công tác tư tưởng), Đặng Xuân Kỳ (Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh), Lê Thị Bừng (Phương tiện giao tiếp trong hoạt động quản lý), Trần Đình Tuấn (Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục) tập trung làm rõ phương pháp thuyết phục, nêu gương, nghệ thuật giao tiếp và việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào công tác đào tạo cán bộ.
  2. Nghiên cứu về xây dựng đội ngũ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam:

    • Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự (Chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam), Nguyễn Quang Phát (Xây dựng đội ngũ chính ủy, chính trị viên trong quân đội hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh; đề tài Tổng kết thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên theo Nghị quyết 51-NQ/TW), Hoàng Văn Thanh (Bồi dưỡng nhân cách chính trị viên cho đội ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội hiện nay), Phạm Xuân Hảo (Vị thế xã hội của chính trị viên Quân đội nhân dân Việt Nam), Đỗ Mạnh Tôn (Uy tín của chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam), Phạm Hồng Cư (Kinh nghiệm công tác chính ủy, chính trị viên).
    • Các bài viết học thuật của Tô Xuân Sinh, Nguyễn Chính Lý, Lê Huy Bình, Hồ Kiếm Việt khẳng định tính tất yếu của chế độ chính ủy, CTV và chuẩn mực phẩm chất chính trị của người chủ trì.
  3. Nghiên cứu về năng lực giáo dục, thuyết phục của cán bộ chính trị:

    • Phạm Văn Huynh (Bồi dưỡng phương pháp công tác tư tưởng của đội ngũ chính trị viên đơn vị cơ sở trong quân đội hiện nay), Nguyễn Văn Hữu (Nâng cao năng lực giáo dục chính trị của đội ngũ cán bộ chính trị ở đơn vị cơ sở Quân đội nhân dân Việt Nam), Đoàn Khắc Mạnh (Luận án TS về năng lực giảng dạy chính trị của CTV trung đoàn bộ binh), Tô Xuân Sinh (Bồi dưỡng năng lực công tác đảng, công tác chính trị của đội ngũ chính trị viên ở các đơn vị huấn luyện sẵn sàng chiến đấu...), Nguyễn Chính Lý (Bồi dưỡng năng lực thực hành công tác đảng, công tác chính trị của học viên đào tạo chính trị viên hiện nay).
    • Dưới góc độ Tâm lý học có Luận án TS của Nguyễn Văn Kiên (Năng lực thuyết phục của chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam) và Nhữ Văn Thao (Kỹ năng giao tiếp của chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam).
    • Các công trình chuyên ngành khác của Tạ Minh Hưng (CTV ban chỉ huy quân sự huyện), Đỗ Hoàng Ngân (năng lực công tác thanh niên), Nhâm Cao Thành (phong cách làm việc chính ủy trung đoàn), Trần Thu Truyền (phương pháp, tác phong công tác của CTV theo tư tưởng Hồ Chí Minh), cùng các bài báo của Phạm Minh Thụ, Hoàng Mạnh Hưng, Lê Văn Làm, Nguyễn Đình Minh, Đỗ Ngọc Hanh.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây tiếp cận người CTV dưới các góc độ tâm lý học, giáo dục học quân sự hoặc nghiên cứu các mặt năng lực thành phần riêng lẻ (năng lực giảng dạy, kỹ năng giao tiếp, công tác thanh niên). Chưa có công trình nào nghiên cứu chỉnh thể, chuyên sâu về năng lực GD, TP của đội ngũ CTV tại các sư đoàn bộ binh dưới góc độ chuyên ngành Xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước. Luận án lựa chọn giải quyết trực tiếp khoảng trống này thông qua việc xác lập cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng giai đoạn 2006–2019 và đề xuất hệ thống giải pháp ứng dụng đến năm 2025.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị. Khung pháp lý và chỉ đạo nghiệp vụ dựa trên:

  • Nghị quyết số 51-NQ/TW ngày 20/7/2005 của Bộ Chính trị (khóa IX) và Nghị quyết số 513-NQ/ĐUQSTW của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương).
  • Quyết định số 1723/QĐ-CT ngày 01/12/2007 của Tổng cục Chính trị về chức trách, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của chính ủy, CTV.
  • Quyết định số 1151-QĐ/QUTW ngày 30/11/2017 của Quân ủy Trung ương.
  • Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2014) và Điều lệ CTĐ, CTCT trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Luận án xác định khái niệm: Năng lực GD, TP của đội ngũ CTV ở các sư đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam là tổng hòa tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo, phẩm chất, vị thế, uy tín, năng khiếu, tố chất của CTV, được thể hiện bằng lời nói, hành động, tác động đến đối tượng nhằm làm chuyển biến tích cực về nhận thức, quan điểm, tư tưởng, thái độ, hành vi, phát triển các phẩm chất nhân cách, giúp cho đối tượng tự khẳng định, tiến bộ, trưởng thành, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Cấu trúc năng lực GD, TP của CTV được xác định gồm 7 yếu tố cấu thành:

  1. Hệ thống tri thức (lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương của Đảng, pháp luật Nhà nước và tri thức quân sự, xã hội).
  2. Kinh nghiệm thực tiễn (kinh nghiệm hoạt động xã hội và thực tiễn hoạt động quân sự).
  3. Kỹ năng, kỹ xảo giao tiếp, ứng xử, giải quyết các mối quan hệ xã hội.
  4. Kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn nghiệp vụ CTĐ, CTCT.
  5. Phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, phẩm chất tâm lý, phẩm chất nghề nghiệp quân sự.
  6. Vị thế và uy tín xã hội.
  7. Tố chất, năng khiếu cá nhân.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp nghiên cứu liên ngành:

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp, lôgic và lịch sử: Sử dụng để hệ thống hóa tài liệu, xây dựng khung lý thuyết và phân tích các văn bản quy định.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Thực hiện điều tra, khảo sát thực tế bằng phiếu trưng cầu ý kiến đối với các nhóm đối tượng (cán bộ cấp trên, đồng cấp, hạ sĩ quan, binh sĩ tại các sư đoàn bộ binh đủ quân và học viên tại Trường Sĩ quan Chính trị).
  • Phương pháp thống kê mô tả, so sánh: Phân tích, tổng hợp dữ liệu khảo sát thực tế về thực trạng năng lực và cơ cấu đội ngũ CTV.
  • Phương pháp tổng kết thực tiễn và chuyên gia: Tiếp thu ý kiến đóng góp từ các nhà khoa học, cán bộ chỉ huy và cán bộ chính trị có kinh nghiệm trong quân đội.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Hệ thống văn kiện Đại hội Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị.
  • Báo cáo tổng kết công tác đảng, công tác chính trị hằng năm của các đơn vị sư đoàn bộ binh, các quân khu, quân đoàn giai đoạn 2006–2019.
  • Dữ liệu khảo sát xã hội học thực tế từ phiếu trưng cầu ý kiến do tác giả trực tiếp thiết kế và thu thập.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 thực hiện tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước. Tác giả phân chia các tài liệu đã công bố thành các mảng nghiên cứu: lý luận chung về giáo dục, thuyết phục; công tác giáo dục chính trị trong quân đội nước ngoài; các nghiên cứu trong nước về chế độ chính ủy, CTV và các công trình về năng lực chuyên môn của cán bộ chính trị. Từ việc đánh giá ưu điểm và giới hạn của các công trình đi trước, tác giả xác lập tính độc lập của đề tài và làm rõ 6 vấn đề trọng tâm cần giải quyết:

  • Làm rõ đặc điểm đội ngũ CTV ở các sư đoàn bộ binh.
  • Xác định quan niệm và 7 yếu tố cấu thành năng lực GD, TP của CTV.
  • Xác định các vấn đề có tính nguyên tắc và tiêu chí đánh giá nâng cao năng lực GD, TP.
  • Đánh giá thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra các bài học kinh nghiệm.
  • Dự báo các yếu tố tác động và xác định yêu cầu nâng cao năng lực.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao năng lực GD, TP có tính khả thi đến năm 2025.

Chương 2: Những vấn đề lý luận, thực tiễn nâng cao năng lực giáo dục, thuyết phục của đội ngũ chính trị viên ở các sư đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam

Chương 2 tập trung phân tích vị trí, chức năng, nhiệm vụ của sư đoàn bộ binh đủ quân (gồm Ban chỉ huy sư đoàn, 4 cơ quan chức năng, 3 trung đoàn bộ binh, 7 tiểu đoàn binh chủng kỹ thuật bảo đảm và các đại đội trực thuộc). Đơn vị thực hiện 3 chức năng của quân đội (chiến đấu, công tác, lao động sản xuất) và 6 nhiệm vụ chủ yếu (huấn luyện sẵn sàng chiến đấu; xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện; phòng chống "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ, cứu hộ cứu nạn; làm công tác dân vận; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và chính sách hậu phương quân đội; thực hiện các nhiệm vụ đột xuất khác).

Yếu tố phân tích Nội dung chi tiết trong luận án
Vị trí, vai trò của CTV Là người chủ trì về chính trị ở cấp phân đội (đại đội, tiểu đoàn), chịu trách nhiệm trước cấp ủy cấp trên và cấp ủy cấp mình về toàn bộ hoạt động CTĐ, CTCT; cùng người chỉ huy quản lý, điều hành đơn vị.
4 đặc điểm của đội ngũ CTV 1. Đào tạo từ nhiều nguồn, tuổi đời trẻ (dưới 30 tuổi chiếm 65,5%), sức khỏe tốt.
2. Trực tiếp cùng ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt và tiến hành CTĐ, CTCT với bộ đội.
3. Sinh ra và lớn lên trong hòa bình, ít kinh nghiệm thực tiễn và chiến đấu gian khổ.
4. Chịu ảnh hưởng bởi tâm lý, văn hóa vùng miền (xuất thân nông thôn chiếm khoảng 70%).
Biểu hiện năng lực GD, TP 1. Thể hiện ở khả năng nhận thức lý luận, đường lối và thực tiễn đơn vị.
2. Thể hiện qua năng lực tiến hành các hoạt động CTĐ, CTCT (thông báo thời sự, giáo dục chính trị, giáo dục truyền thống, phổ biến pháp luật, giáo dục riêng đối tượng cá biệt, tổ chức thi đua khen thưởng).
Cấu trúc 7 yếu tố tạo thành Hệ thống tri thức; Kinh nghiệm thực tiễn; Kỹ năng giao tiếp, ứng xử; Kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ CTĐ, CTCT; Phẩm chất chính trị, đạo đức, tâm lý, nghề nghiệp; Vị thế và uy tín xã hội; Tố chất, năng khiếu cá nhân.

Bên cạnh đó, chương 2 luận giải các vấn đề có tính nguyên tắc và xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá việc nâng cao năng lực GD, TP của đội ngũ CTV.

Chương 3: Thực trạng và một số kinh nghiệm nâng cao năng lực giáo dục, thuyết phục của đội ngũ chính trị viên ở các sư đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam

Chương 3 trình bày kết quả điều tra, khảo sát thực tế giai đoạn 2006–2019:

  • Ưu điểm: Đại bộ phận CTV có bản lĩnh chính trị vững vàng, nắm vững chức trách, nhiệm vụ; nắm được nội dung, hình thức CTĐ, CTCT; bước đầu phát huy được năng lực vận động, GD, TP bộ đội, góp phần duy trì nền nếp chính quy, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong đơn vị.
  • Hạn chế: Năng lực GD, TP chưa đồng đều; một số CTV mới ra trường còn lúng túng khi xử lý tình huống tư tưởng phát sinh, ngại tiếp xúc đối thoại trực tiếp với chiến sĩ; phương pháp giáo dục còn xơ cứng, nặng về áp đặt mệnh lệnh hành chính, xử phạt theo điều lệnh mà chưa phát huy được tính thuyết phục, cảm hóa.
  • Nguyên nhân: Do công tác đào tạo tại nhà trường có thời điểm chưa sát thực tế đơn vị; công tác bồi dưỡng tại chỗ của cấp ủy, chỉ huy cấp trên chưa thường xuyên; ý thức tự học tập, tự rèn luyện của một số CTV chưa cao; tác động tiêu cực từ đời sống xã hội.
  • Kinh nghiệm rút ra: Tổng kết các bài học kinh nghiệm về sự lãnh đạo của cấp ủy đảng, việc kết hợp giữa bồi dưỡng tập trung với rèn luyện trong thực tiễn công tác và phát huy vai trò chủ thể tự rèn luyện của CTV.

Chương 4: Yêu cầu và những giải pháp nâng cao năng lực giáo dục, thuyết phục của đội ngũ chính trị viên ở các sư đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

Chương 4 dự báo các yếu tố tác động và xác lập hệ thống giải pháp cơ bản có giá trị ứng dụng đến năm 2025:

  • Yếu tố tác động và yêu cầu: Phân tích bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội, sự chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa; yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất:
    1. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, phát huy trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng trong nâng cao năng lực GD, TP của đội ngũ CTV.
    2. Đổi mới, nâng cao chất lượng nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng năng lực GD, TP cho CTV ở các học viện, nhà trường quân đội (trọng tâm là Học viện Chính trị, Trường Sĩ quan Chính trị).
    3. Đẩy mạnh hoạt động thực tiễn CTĐ, CTCT tại đơn vị cơ sở gắn với thực hiện các nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, quản lý bộ đội để rèn luyện kỹ năng, phương pháp GD, TP.
    4. Phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác học tập, tu dưỡng, rèn luyện nâng cao năng lực GD, TP của bản thân đội ngũ CTV.
    5. Xây dựng môi trường văn hóa quân sự lành mạnh, bảo đảm tốt đời sống vật chất, tinh thần, tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ CTV thực hiện chức trách, nhiệm vụ.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án đã xây dựng và luận giải làm rõ quan niệm khoa học về năng lực GD, TP của đội ngũ CTV và quan niệm về nâng cao năng lực GD, TP của đội ngũ CTV ở các sư đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam dưới góc độ chuyên ngành Xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước.
  2. Xác lập cấu trúc hệ thống gồm 7 yếu tố cấu thành năng lực GD, TP của người CTV (tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng chuyên môn CTĐ, CTCT, phẩm chất chính trị - đạo đức - tâm lý nghề nghiệp, vị thế - uy tín và tố chất năng khiếu).
  3. Làm rõ các đặc điểm đặc thù, các biểu hiện cụ thể, những vấn đề có tính nguyên tắc và xác định hệ thống tiêu chí đánh giá nâng cao năng lực GD, TP của đội ngũ CTV cấp phân đội.

Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp

  1. Cung cấp bức tranh thực trạng toàn diện, có căn cứ số liệu khảo sát thực tế giai đoạn 2006–2019 về năng lực và công tác nâng cao năng lực GD, TP của đội ngũ CTV ở các sư đoàn bộ binh đủ quân.
  2. Khái quát các bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn từ hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo và tiến hành bồi dưỡng cán bộ chính trị phân đội.
  3. Đề xuất hệ thống yêu cầu và giải pháp đồng bộ, có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại nhà trường, bồi dưỡng tại đơn vị và phát huy vai trò tự rèn luyện của CTV định hướng đến năm 2025.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Theo giới hạn phạm vi nghiên cứu mà tác giả đã xác định, luận án tập trung khảo sát chủ yếu ở các sư đoàn bộ binh đủ quân thuộc các quân khu, quân đoàn và Trường Sĩ quan Chính trị. Luận án chưa bao quát, khảo sát thực tế đối với đội ngũ CTV ở các đơn vị binh chủng, quân chủng kỹ thuật đặc thù, các sư đoàn bộ binh khung thường trực (KTT) hoặc sư đoàn rút gọn. Dữ liệu khảo sát thực tế được giới hạn trong giai đoạn 2006–2019 và hệ thống giải pháp được xác định khung thời gian ứng dụng đến năm 2025.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu năng lực GD, TP của đội ngũ chính trị viên sang các loại hình đơn vị chuyên môn kỹ thuật, quân chủng Hải quân, Phòng không - Không quân, hoặc nghiên cứu chuyên sâu về phương thức vận dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động giáo dục chính trị tại đơn vị cơ sở trong giai đoạn tiếp theo.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho cấp ủy đảng, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp trong quân đội; đội ngũ giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên chuyên ngành Xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước; cán bộ quản lý và học viên đào tạo chính trị viên tại Học viện Chính trị và Trường Sĩ quan Chính trị.
  • Phần nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Khung lý thuyết và cấu trúc 7 yếu tố tạo thành năng lực GD, TP cùng hệ thống tiêu chí đánh giá (Chương 2).
    • Kết quả khảo sát thực trạng và các bài học kinh nghiệm thực tiễn trong công tác quản lý cán bộ phân đội (Chương 3).
    • Các biện pháp bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp, xử lý tình huống tư tưởng và quy trình tự rèn luyện của người chính trị viên (Chương 4).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa năng lực giáo dục, thuyết phục của đội ngũ chính trị viên sư đoàn bộ binh như thế nào?

Luận án xác định: Năng lực GD, TP của đội ngũ CTV ở các sư đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam là tổng hòa tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo, phẩm chất, vị thế, uy tín, năng khiếu, tố chất của CTV, được thể hiện bằng lời nói, hành động, tác động đến đối tượng nhằm làm chuyển biến tích cực về nhận thức, quan điểm, tư tưởng, thái độ, hành vi, phát triển các phẩm chất nhân cách, giúp cho đối tượng tự khẳng định, tiến bộ, trưởng thành, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

2. Cấu trúc năng lực giáo dục, thuyết phục của người chính trị viên gồm những yếu tố nào?

Năng lực GD, TP của CTV được tạo thành từ 7 yếu tố:

  1. Hệ thống tri thức (lý luận chính trị, tri thức xã hội, kiến thức chuyên môn quân sự).
  2. Kinh nghiệm thực tiễn trong đời sống xã hội và hoạt động quân sự.
  3. Kỹ năng, kỹ xảo giao tiếp, ứng xử, giải quyết các mối quan hệ xã hội.
  4. Kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn nghiệp vụ CTĐ, CTCT.
  5. Phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, phẩm chất tâm lý, phẩm chất nghề nghiệp quân sự.
  6. Vị thế và uy tín xã hội của chức vụ CTV.
  7. Tố chất, năng khiếu cá nhân của người cán bộ.

3. Đội ngũ chính trị viên ở các sư đoàn bộ binh có những đặc điểm cơ bản nào theo khảo sát của luận án?

Luận án chỉ ra 4 đặc điểm:

  • Được hình thành từ nhiều nguồn đào tạo khác nhau; tuổi đời trẻ (tỷ lệ dưới 30 tuổi chiếm 65,5%), sức khỏe tốt, có trình độ năng lực CTĐ, CTCT cơ bản.
  • Thường xuyên tiếp xúc, cùng ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt và trực tiếp chỉ đạo, tiến hành CTĐ, CTCT với cán bộ, chiến sĩ phân đội.
  • Sinh ra và lớn lên trong thời bình, kinh nghiệm hoạt động quân sự và thực tế chiến đấu còn hạn chế.
  • Chịu ảnh hưởng bởi đặc điểm tâm lý, phong tục tập quán vùng miền nơi sinh ra (trong đó xuất thân từ khu vực nông thôn chiếm tỷ lệ khoảng 70%).

4. Phạm vi khảo sát thực tế và thời gian ứng dụng giải pháp của luận án được xác định như thế nào?

Số liệu điều tra, khảo sát thực tế bằng phiếu trưng cầu ý kiến phục vụ cho luận án được thu thập chủ yếu từ năm 2006 đến năm 2019 tại các sư đoàn bộ binh đủ quân thuộc các quân khu, quân đoàn và Trường Sĩ quan Chính trị. Hệ thống các giải pháp nâng cao năng lực được thiết kế có giá trị ứng dụng định hướng đến năm 2025.

5. Vì sao sau năm 2005 vấn đề nâng cao năng lực giáo dục, thuyết phục của chính trị viên lại được đặt ra cấp thiết?

Do giai đoạn 1982–2005 thực hiện chế độ một người chỉ huy (Nghị quyết 27-NQ/TW) đã bộc lộ bất cập, làm suy giảm năng lực CTĐ, CTCT và khiến một bộ phận cán bộ phân đội quen dùng mệnh lệnh hành chính, cưỡng chế. Tháng 7 năm 2005, Nghị quyết số 51-NQ/TW của Bộ Chính trị khôi phục chế độ chính ủy, chính trị viên, xác lập lại vị trí chủ trì về chính trị của CTV, đòi hỏi phải nâng cao năng lực GD, TP tương xứng với yêu cầu chức trách mới.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Quốc Trị đã giải quyết một vấn đề vừa có ý nghĩa lý luận vừa mang tính cấp thiết trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị quân đội. Bằng việc kết hợp phương pháp luận khoa học chính trị với khảo sát thực tiễn tại các sư đoàn bộ binh đủ quân giai đoạn 2006–2019, luận án đã làm sáng tỏ bản chất, cấu trúc 7 yếu tố tạo thành và các tiêu chí đánh giá năng lực giáo dục, thuyết phục của chính trị viên cấp phân đội. Hệ thống 5 nhóm giải pháp được đề xuất trong công trình cung cấp cơ sở khoa học và tài liệu tham khảo phục vụ công tác đào tạo tại các nhà trường quân đội và bồi dưỡng cán bộ tại các đơn vị cơ sở hiện nay.