Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, có vai trò quan trọng trong bất kỳ xã hội nào từ trước đến nay. Do đó, từ xa xưa con người đã rất quan tâm nghiên cứu đạo đức, xem nó như động lực tinh thần để hoàn thiện nhân cách con người trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.
Ở phương Tây, thời cổ đại, nhà triết học Socrate (469-399 TCN) cho rằng cái gốc của đạo đức là tính thiện. Bản tính con người vốn thiện, nếu tính thiện ấy được lan tỏa thì con người sẽ có hạnh phúc. Muốn xác định được chuẩn mực đạo đức, theo Socrate, phải bằng nhận thức lí tính với phương pháp nhận thức khoa học [Vũ Văn Tảo,1995]; Aristote (384-322 TCN) nhà bác học Hy Lạp thời thượng cổ đã yêu cầu: Trước tiên học đạo đức rồi sau đó học tri thức. Không có đạo đức, tri thức sẽ khó thành đạt.
Xixêrô thì nói: Triết lí về đạo đức là sự chuẩn bị tư duy để tiếp nhận hạt giống trí tuệ (Komenxky Jan Amos,1991). Khổng Tử (551-479 TCN) là nhà hiền triết nổi tiếng của Trung Quốc. Ông xây dựng học thuyết “Nhân - Lễ - Chính danh”, trong đó, “Nhân” - Lòng thương người - là yếu tố hạt nhân, là đạo đức cơ bản nhất của con người. Đứng trên lập trường coi trọng giáo dục đạo đức, Ông có câu nói nổi tiếng truyền lại đến ngày nay “Tiên học lễ, hậu học văn” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 1995).
Thế kỷ XVII, Komenxky - Nhà giáo dục học vĩ đại Tiệp Khắc đã có nhiều đóng góp cho hoạt động giáo dục đạo đức tác phẩm “Khoa sư phạm vĩ đại”. Komenxky đã chú trọng phối hợp môi trường bên trong và bên ngoài để giáo dục đạo đức cho học sinh (Komenxky - Nhà Sư phạm vĩ đại) Thế kỷ XX, một số nhà giáo dục nổi tiếng của Xô Viết cũng nghiên cứu về GDĐĐ học sinh như: A.A XukhomlinxkyNghiên cứu của họ đã đặt nền tảng cho việc giáo dục đạo đức mới trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô. Luan van 10 Tại Nhật Bản, tiến sĩ Hiroike Chikuro (1866-1938), người khai sinh ra Moralory (đạo đức học) cho rằng: “Con người có ba căn bệnh lớn nhất đó là căn bệnh tinh thần, vật chất và thể xác, bất kỳ người nào cũng đều mắc một trong ba căn bệnh thì mới có thể đạt được sự bình an. Khoa học về đạo đức có thể chữa được căn bệnh về tinh thần và vật chất.
Tại Phần Lan, mục tiêu giáo dục được xác định như sau: “Mục tiêu của việc giảng dạy và giáo dục là hỗ trợ học sinh phát triển và giúp các em trở thành một cá nhân biết tự cân đối bản thân, có lòng tự trọng cao,. Mục tiêu đề ra là nâng cao sức khỏe và thể chất, tâm lí, xã hội và giáo dục học sinh có được nhân cách tốt đẹp” (Nguyễn Khánh Trung, 2015). Hiện nay, các nhà nghiên cứu của một số quốc gia quan niệm rằng nội dung giáo dục đạo đức cần tập trung đào tạo những phẩm chất cơ bản của nhân cách như tính trung thực, tinh thần trách nhiệm, tinh thần hợp tác,. Các nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặc biệt quan tâm nhiều nhất đến hoạt động giáo dục đạo đức cho mọi người.
Người gọi đó là đạo đức cách mạng: “Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu, nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại , nó không phải là danh vọng của cá nhân mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người” và “Đạo đức cũng như ý thức đã là sản phẩm xã hội và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại”(Hồ Chí Minh, 2000). Chủ tịch Hồ Chí Minh coi nội dung cơ bản trong quan điểm đạo đức cách mạng là: Trung với nước, hiếu với dân; cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; yêu thương con người; tinh thần quốc tế trong sáng. Trong những năm gần đây, nhiều giáo trình đạo đức được biên soạn khá công phu. Tiêu biểu như giáo trình của Trần Hậu Kiêm (NXB Chính trị quốc gia, 1997); Phạm Khắc Chương- Hà Nhật Thăng (NXB Giáo dục, 2001); Giáo trình đạo đức học (Nguyễn Ngọc Long- chủ biên, NXB Chính trị quốc gia, 2000); Giáo trình đạo đức học Mác-Lênin, (Vũ Trọng Dung chủ biên, NXB Chính trị quốc gia, 2005),.
Luan van 11 Vấn đề tổ chức quá trình giáo dục đạo đứccũng được tác giả Hà Thế Ngữ đề cập đến thông qua giảng dạy các môn khoa học, đặc biệt là môn khoa học xã hội và nhân văn, giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dưỡng ý thức đạo đứccách mạng, hướng dẫn các hành vi đạo đứccho học sinh; Tác giả Phạm Hoàng Gia nghiên cứu mối quan hệ giữa nhận thức khoa học với giáo dục đạo đức, những biểu hiện nhân cách trong lối sống và đưa ra dự báo mô hình nhân cách thanh niên năm 2000. Đặc biệt, những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu, nhà hoạt động xã hội đã hết sức nhức nhối trước những hiện tượng suy thoái đạo đức của một số thanh thiếu niên và đã có những bài viết đáng quan tâm, nghiên cứu: hoạt động ngoài giờ lên lớp của các khối 6, 7, 8, 9 của nhiều tác giả, NXB Giáo dục; Giáo dục giá trị truyền thống cho học sinh, sinh viên (Phạm Minh Hạc, 1997), Vấn đề giáo dục đạo đức cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu: Đặc trưng của đạo đức và phương pháp giáo dục đạo đức (Hoàng An, 1982),giáo dục đạo đức trong nhà trường (Hà Thế Ngữ- Đặng Vũ Hoạt, 1988),các nhiệm vụ giáo dục đạo đức (Nguyễn Sinh Huy, 1995),tìm hiểu định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường (Thái Duy Tuyên, chủ biên, 1994), Giáo dục hệ thống giá trị đạo đức nhân văn (Hà Nhật Thăng, 1998),một số vấn đề về lối sống đạo đức, chuẩn giá trị xã hội (Huỳnh Khải Vinh, 2001),giáo dục giá trị truyền thống cho học sinh, sinh viên (Phạm Minh Hạc, 1997),vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường (Lê Văn Khoa, 2003), một số nguyên tắc Giáo dục nhân cách có hiệu quả trong nhà trường phổ thông (Nguyễn Thị Kim Dung, 2005), tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ liên lớp ở trường Trung học phổ thông (Phùng Đình Mẫn, 2005), Khi nghiên cứu về vấn đề giáo dục đạo đức các tác giả đã đề cập đến mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục đạo đức và một số vấn đề về quản lí công tác giáo dục đạo đức. Về mục tiêu giáo dục đạo đức, Phạm Minh Hạc đã nêu rõ: “Trang bị cho mọi người những tri thức cần thiết về tư tưởng chính trị, đạo đức nhân văn, kiến thức pháp luật và văn hoá xã hội”. Hình thành ở mọi công dân thái độ đúng đắn, tình cảm, niềm tin đạo đức trong sáng đối với bản thân, mọi người, với sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc và với mọi hiện tượng xảy ra xung quanh.
Tổ chức tốt giáo dục giới trẻ; rèn luyện để mọi người tự giác thực hiện những chuẩn mực đạo đức xã hội, có thói quen chấp hành quy định của pháp luật, nỗ lực học tập Luan van 12 và rèn luyện, tích cực cống hiến sức lực, trí tuệ vào sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước”(Phạm Minh Hạc, 2002). Để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức trong thời kỳ đổi mới, một số nhà khoa học nghiên cứu về quản lí hoạt động giáo dục đạo đức. Tuy còn ít ỏi nhưng có thể kể đến: - Nguyễn Văn Trung với đề tài luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục: “Công tác quản lí của Hiệu trưởng trong việc tổ chức giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường Trung học phổ thông huyện Châu Thành, Đồng Tháp ”, năm 2006. - Lê Quang Tuấn với đề tài luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục: “Một số giải pháp công tác quản lí giáo dục đạo đức quản lí giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường Trung học phổ thông huyện Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh ” năm 2008.
- Một vài quan điểm đổi mới hoạt động giáo dục đạo đứccủa người giáo viên chủ nhiệm bậc Trung học cơ sở(Lê Trung Tấn- Nguyễn Dục Quang, 1994). - Thử nghiệm quy trình tác động nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức học sinh Trung học cơ sở(Lê Thanh Sử, 1994). Hiện nay, ở Vĩnh Long chưa có tác giả nào nghiên cứu vấn đề giáo dục đạo đức cũng như các biện pháp giáo dục đạo đức học sinh phổ thông nói chung, học sinh Trung học cơ sở nói riêng. Do đó, việc nghiên cứu đề tài này là một vấn đề hết sức cần thiết, góp phần vào công cuộc xây dựng nền giáo dục toàn diện cho địa phương, quê hương thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
Các khái niệm cơ bản 1. Giáo dục đạo đức - Khái niệm về đạo đức Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội(Hồ Chí Minh, 2000). Đạo đức là luân lí, những quy định, những chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người. Nhưng trong điều kiện hiện nay, chính quan hệ con người cũng đã mở rộng và đạo đức bao gồm những quy định những chuẩn mực ứng xử của con Luan van 13 người với bản thân, với con người, với công việc, với thiên nhiên, với môi trường sống.
Tác giả Trần Hậu Kiêm quan niệm: “Đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình vì lợi ích xã hội, hạnh phúc của con người trong mối quan hệ giữa con người và con người, giữa cá nhân và tập thể hay toàn xã hội” (Trần Hậu Kiêm,1997). Theo Phạm Khắc Chương: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là hệ thống các quan niệm về cái thiện, cái ác trong các mối quan hệ của con người, thực hiện chức năng điều chỉnh hành vi của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”(Phạm Khắc Chương, 1995). Từ những cách hiểu trên đó có thể nhận định rằng: + Đạo đức nảy sinh từ nhu cầu của xã hội điều hòa và thống nhất các mâu thuẫn giữa lợi ích chung và lợi ích riêng nhằm đảm bảo trật tự xã hội và khả năng phát triển của xã hội và cá nhân.