CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 1. Khái niệm đánh giá: Có rất nhiều khái niệm về đánh giá dùng ở nhiều ngành khoa học khác nhau và được sử dụng khá phổ biến trong giáo dục đại học. Khái niệm đánh giá chung và đánh giá trong giáo dục & đào tạo nói riêng là nằm trong cụm thuật ngữ kiểm tra-thanh tra-đánh giá.
Đó là một trong những nội dung và biện pháp quan trọng của quản lý nhà nước nói chung và quản lý giáo dục nói riêng. Có thể đưa đến một số nghiên cứu sau: Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh (2007)[11]: Đánh giá là hoạt động của con người nhằm phán xét về một hay nhiều đặc điểm của sự vật, hiện tượng, con người theo những quan niệm và chuẩn mực nhất định mà người đánh giá cần tuân theo. Theo tác giả Phạm Xuân Thanh (2007)[14]: Đánh giá là quá trình bao gồm: - Chuẩn bị một kế hoạch; - Thu thập, phân tích thông tin và thu được kết quả; - Chuyển giao các kết quả thu được đến những người liên quan để họ hiểu về đối tượng đánh giá hoặc giúp những người có thẩm quyền đưa ra các nhận định hay các quyết định liên quan đến đối tượng đánh giá. Theo các tác giả Nguyễn Phương Nga & Nguyễn Đức Chính[7]: Đánh giá là một hoạt động của con người nhằm phán xét về một hay nhiều đặc điểm của sự vật, hiện tượng, con người mà mình quan tâm, theo những quan niệm và chuẩn mực mà người đánh giá tuân theo (cũng có thể nói đến sự đánh giá của một nhóm, một cộng đồng, thậm chí của toàn xã hội).
- Đánh giá được xem như toàn bộ quá trình thu thập các số liệu và thông tin cần thiết về chương trình học cụ thể để cung cấp bằng chứng, cơ sở cho các nhà hoạch định chương trình có những quyết định liên quan đến 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chương trình; - Đánh giá là quá trình thu thập, xử lý thông tin để giúp quá trình lập kế hoạch hoặc ra quyết định của các nhà quản lý. Cũng viết về nội dung đánh giá, tác giả Trần Khánh Đức[4] có ý kiến về nội dung đánh giá bao gồm một số vấn đề cơ bản sau: - Đánh giá là đưa ra nhận định tổng hợp về các dữ kiện đã đo lường được qua sự theo dõi thường xuyên, qua các cuộc kiểm tra, thanh tra, và kết thúc bằng cách đối chiếu, so sánh với những tiêu chuẩn đã được xác định rõ ràng trong mục tiêu quản lý; - Đánh giá là quá trình thu thập, xử lý thông tin để lượng định tình hình và kết quả công việc giúp quá trình lập kế hoạch, ra quyết định và hành động có kết quả; - Đánh giá là một quá trình của hoạt động quản lý mà qua đó nhà quản lý quy cho đối tượng quản lý một giá trị nào đó; - Đánh giá là một hoạt động nhằm nhận định, xác nhận giá trị thực trạng về mức độ hoàn thành nhiệm vụ, chất lượng, hiệu quả công việc, trình độ phát triển, những kinh nghiệm được đúc kết ở thời điểm hiện tại đang xem xét so với mục tiêu hay những chuẩn mực đã xác lập. Trên cơ sở đó nêu ra những biện pháp uốn nắn, điều chỉnh và giúp đỡ đối tượng hoàn thành nhiệm vụ”. Có thể thấy, khái niệm đánh giá được hiểu rất đa dạng, phong phú nhưng tựu trung lại ở một điểm: Đánh giá là hoạt động có mục đích nhằm xem xét các hoạt động cụ thể theo ý muốn chủ quan của người tham gia đánh giá trên cơ sở phân tích, so sánh, đối chiếu với các yêu cầu cụ thể của từng hoạt động, của đối tượng được đánh giá.
Từ trên các nghiên cứu đó, có thể hiểu: “Đánh giá là quá trình thu thập và xử lý thông tin một cách có hệ thống nhằm xác định mục tiêu đã và đang đạt được ở mức độ nào”. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái niệm năng lực: Có rất nhiều khái niệm về năng lực và khái niệm này đang thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu. Theo Bernard Wynne (1997) [19], năng lực được định nghĩa là, “năng lực là một tập hợp các kỹ năng, kiến thức, hành vi và thái độ được cá nhân tích lũy và sử dụng để đạt được kết quả theo yêu cầu công việc ”.
Năng lực = Kỹ năng + kiến thức + Hành vi + Thái độ Theo Raymond A.Noe (1998) [21] , “năng lực muốn chỉ đến khả năng cá nhân giúp người nhân viên thực hiện thành công công việc của họ bằng cách đạt được kết quả công việc mong muốn. Năng lực có thể là hiểu biết, kỹ năng, thái độ hay giá trị của tính cách cá nhân”. Năng Khả năng Giá trị của tính lực = = Hiểu biết + Kỹ năng + Thái độ + Cá nhân cách cá nhân Từ hai khái niệm trên có thể rút ra một số nhận xét sau đây: Thứ nhất, phân biệt “năng lực” với “khả năng” hay “khả năng cá nhân và trình độ? Vấn đề: “năng lực” có đồng nhất với “khả năng” hay “khả năng cá nhân” không? “Khả năng là cái vốn có về vật chất hoặc tinh thần để có thể làm được việc gì”. “Khả năng thể hiện trong hành động: đó là năng khiếu, năng lực và động cơ mà người lao động có dịp thể hiện qua việc thực hiện những công việc hay hoạt động cụ thể nào đó”.
Như vậy, theo 2 cách hiểu năng lực đạt được ở mức độ nhất định nào đó. “Trình độ” gắn liền với quá trình đào tạo, được thể hiện bằng kết quả công việc. “Trình độ” mang đặc thù công việc và đặc trưng cá nhân. Từ các cách hiểu trên có thể thấy rằng: Năng lực luôn gắn với một chủ thể nhất định.
Và chủ thể đó có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Năng lực hình thành và bộc lộ trong hoạt động, chịu sự ảnh hưởng của bản sắc dân tộc, môi 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trường và hoạt động của bản thân. Có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này. Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Khả năng” là một nội dung của “năng lực”.
Năng lực là yếu tố tổng hợp sức mạnh của một cá nhân, bao gồm yếu tố thể hiện ra bên ngoài và yếu tố tiềm ẩn bên trong. “Khả năng cá nhân” chính là yếu tố tiềm ẩn bên trong. Quan điểm thứ hai: “Khả năng” mới là yếu tố tổng hợp thế mạnh của một cá nhân, “năng lực” chính là thể hiện ra bên ngoài của “khả năng”. “Năng lực” là yếu tố có thể nhận biết, hoặc từng khía cạnh của nó có thể định lượng được.
Quan điểm thứ ba: “Năng lực” cũng chính là “khả năng” hay “khả năng cá nhân”. Với mục đích đánh giá, định lượng được yếu tố “năng lực” hay “khả năng”, luận văn này cũng chỉ sẽ đề cập đến những yếu tố thể hiện của “năng lực” hay “khả năng”. Vì vậy, hai khái niệm được thể hiện như nhau trong luận văn. Thứ hai ,“năng lực” bao gồm các yếu tố “hiểu biết”, “kỹ năng”, “thái độ”.
Hai khái niệm trên đều thống nhất về nội dung này. Năng lực được thể hiện ở tầm tri thức, khả năng áp dụng tri thức vào công việc và cách ứng xử của cá nhân đó trong công việc.Noe[21], năng lực còn bao hàm các yếu tố là “giá trị của tính cách cá nhân”. Tính cách cá nhân là yếu tố ổn định, khó thay đổi. Nó được coi là đặc trưng của từng cá nhân.
Thực tế, người ta chỉ phát huy hay hạn chế tính cách, hoặc thay đổi thói quen nhưng không thay đổi tính cách. Vì vậy, luận văn này sẽ không đề cập đến yếu tố “tính cách cá nhân”. Thứ ba, “năng lực” gắn liền với việc thực hiện công việc, được thể hiện bằng kết quả công việc. “năng lực” mang đặc thù công việc và đặc trưng cá nhân.
Tiếp theo, vấn đề năng lực có đồng nhất với trình độ và trình độ cá nhân hay không? Trình độ là: “Mức độ về sự hiểu biết, về kỹ năng được xác định hoặc 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đánh giá theo tiêu chuẩn nhất định nào đó”. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của một cá nhân: Là toàn bộ những năng lực (kiến thức, kỹ năng, thái độ hành vi) về một lĩnh vực cụ thể mà một cá nhân nắm vững được. Sự phối kết hợp những năng lực đó cho phép thực hiện một số công việc hoặc hoạt động cụ thể trong một phạm vi nghề nghiệp nhất định. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của một vị trí làm việc hay của một công việc: Là một tổng thể những năng lực (kiến thức, kỹ năng, thái độ hành vi) cần thiết để làm chủ một cấp độ làm việc nào đó, đảm nhiệm một vị trí, một công việc hay một nghề nghiệp cụ thể.
Theo khái niệm trên, Trình độ = Năng lực = (Kiến thức + Kỹ năng + Thái độ) đạt ở mức nhất định Như vậy, trình độ chính là năng lực đạt được ở mức độ nhất định nào đó. “Trình độ” gắn liền với quá trình đào tạo, được thể hiện bằng kết quả công việc. “Trình độ” mang đặc thù công việc và đặc trưng cá nhân. Tương tự như các định nghĩa về năng lực trong tâm lý hoặc kinh doanh, trong giáo dục các nhà nghiên cứu cũng đưa ra các định nghĩa có nội hàm tương đương.
Chẳng hạn, Trần Khánh Đức (2010)[4], trong “Nghiên cứu nhu cầu và xây dựng mô hình đào tạo theo năng lực trong lĩnh vực giáo dục” đã nêu rõ năng lực là: “Khả năng tiếp nhận và vận dụng tổng hợp, có hiệu quả mọi tiềm năng của con người (tri thức, kỹ năng, thái độ, thể lực, niềm tin,.) để thực hiện công việc hoặc đối phó với một tình huống, trạng thái nào đó trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp”. Để phục vụ mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn, tác giả đưa ra đề xuất và sử dụng thống nhất khái niệm về năng lực như sau: Năng lực được thể hiện ở khả năng thi hành một hoạt động, thực hiện một nhiệm vụ. Năng lực là đặc điểm cá nhân thể hiện ở mức độ thông thạo, tức là có thể hiện một cách thành thục và chắc chắn một số dạng hoạt động nào đó. Năng lực gắn liền với phẩm chất và trí nhớ, tính nhạy cảm, trí tuệ, tính cách của cá nhân.
Năng lực 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có thể phát triển trên cơ sở năng khiếu cá nhân và là kết quả phát triển của xã hội của con người.