CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI Ngày 30/03/2019, tại Hà Nội, Bộ Giáo dục - Đào tạo kết hợp với Bộ Thông tin - Truyền thông tổ chức buổi tọa đàm phát triển nhân lực Công nghệ thông tin – Truyền thông trình độ cao gắn kết cơ sở giáo dục Đại học cùng Doanh nghiệp. Tại hội thảo, Bộ trưởng Bộ TT-TT Nguyễn Mạnh Hùng và Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phùng Xuân Nhạ cùng thống nhất đánh giá chất lượng của nhân lực ngành CNTT tại Việt Nam hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội trong bối cảnh khi toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang bước vào thời đại công nghiệp 4. Thời đại mà xã hội loài người thay đổi nhanh chóng cùng khoa học công nghệ gắn liền với việc ứng dụng các thành tựu như : IoT (Internet of Things), Thực tế ảo, Dữ liệu lớn (Big data), Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence). Đặc biệt là theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ là đến năm 2020, Việt Nam cần có 1 triệu doanh nghiệp khởi nghiệp, trong đó ưu tiên ngành CNTT.
Cũng tại hội thảo về Định hướng chính sách chương trình phát triển công nghiệp CNTT giai đoạn 2021-2030 được tổ chức vào cuối năm 2019 tại thành phố Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Thanh Tuyên – Phó Vụ trưởng Vụ Công nghệ - Thông tin (Bộ Thông tin - Truyền thông) – cho biết, mỗi năm cả nước có thêm khoảng 50.000 sinh viên tốt nghiệp ngành CNTT với trình độ từ cao đẳng trở lên. Dù con số thống kê mang chiều hướng tích cực dần theo từng năm, nhưng đó không phải là giải pháp cho vấn đề “thiếu hụt nhân lực ngành Công nghệ thông tin” hiện nay. Về cơ bản, con số này đáp ứng được nhu cầu về số lượng, nhưng chỉ 30% trong số đó đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp đặt ra. Vì chất lượng và sự phù hợp giữa lực lượng kỹ sư CNTT mới tốt nghiệp và doanh nghiệp mới là “khoảng cách” cần được hỗ trợ xóa bỏ.
Nền tảng của các trường cho sinh viên là có nhưng thật sự không thể đáp ứng 100% yêu cầu của các doanh nghiệp. Sinh viên ngành CNTT không đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp thể hiện rõ ràng nhất thông qua việc đào tạo lại của doanh nghiệp, thời gian đào tạo lại thường từ 6 tháng tới 2 năm. Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) ra đời (từ cuối năm 2015), Việt Nam là một thành viên và sẽ hưởng lợi nhiều hơn từ việc hội nhập kinh tế khu vực. Tận dụng thị trường ASEAN to lớn để phát triển bằng công nghệ chính là mục tiêu của tất cả doanh nghiệp trong nước hiện nay.
Vingroup vừa chính thức “rút chân” khỏi mảng bán lẻ để tập trung dồn nguồn lực cho 02 mảng chủ lực mới là sản xuất công nghiệp và CNTT, điều này đặt ra yêu cầu hàng chục nghìn nhân lực CNTT. Trước đó, Vingroup đã “đặt hàng “ 50 trường đại học đào tạo khoảng 100.000 nhân lực CNTT và cấp 1.100 học bổng toàn phần đi nước ngoài đào tạo nguồn nhân lực khoa học. Vietel 1 phát đi thông báo rộng rãi trên truyền thông bày tỏ nhu cầu tuyển dụng tới 500 nhân sự CNTT hàng năm. Tập đoàn VNPT hiện đang cần tuyển tới 5.000 kỹ sư CNTT nhằm phục vụ cho nhu cầu phát triển và cạnh tranh với các đối thủ trong và ngoài nước.
Ngoài việc các công ty Việt Nam như Vingroup, VNPT, FPT, Viettel, VinaGame, CMC. đang nỗ lực đẩy mạnh, đẩy nhanh chuyển đổi số, sản xuất công nghiệp là việc làn sóng nước ngoài tiếp tục đầu tư, mở rộng sản xuất tại Việt Nam. Hãng LG (Hàn Quốc) sẽ dừng sản xuất điện thoại thông minh tại Hàn Quốc vào năm 2020 và chuyển dây chuyền sản xuất sang Việt Nam với công suất 11 triệu sản phẩm hàng năm. Hãng Samsung (Hàn Quốc) không ngừng mở rộng các nhà máy sản xuất và năm 2020 đầu tư 220 triệu USD để xây dựng trung tâm R&D tại Việt Nam.
Ngoài ra cũng phải kể đến các hãng điện tử nước ngoài khác như tập đoàn đa quốc gia Intel, Nissan. cũng đang mở rộng đầu tư vào Việt Nam. Từ đây, cuộc cạnh tranh nhân lực giữa các doanh nghiệp nôi địa và nước ngoài là rất cao, nhu cầu tuyển dụng tăng liên tục qua từng năm. Hiện nay, trong hơn 250 trường đại học trên cả nước, có khoảng 150 trường đào tạo ngành CNTT.
Dù là con số rất lớn nhưng chỉ có 20 trường có chỉ tiêu tuyển sinh trên 400 sinh viên ngành này trở lên, còn lại chỉ nhỏ lẻ. Số lượng trường đại học đào tạo nhân lực ngành CNTT có chất lượng cao lại càng ít ỏi hơn. Đầu ra của nhà trường là doanh nghiệp, vì thế nhà trường phải hiểu doanh nghiệp, bám theo doanh nghiệp để tạo ra nhân lực tốt. Trường đại học Tài chính – Marketing ra đời tháng 9/1976, trực thuộc Bộ Tài chính với tổng số lượng sinh viên, học viên các hệ đào tạo lên tới 30.000 người học.
Là một trường thuộc khối ngành kinh tế ứng dụng nên việc cung cấp kiến thức về CNTT ứng dụng trong lĩnh vực kinh tế cho sinh viên là một trong những yêu cầu quan trọng và cấp thiết, trong đó việc đào tạo sinh viên ngành CNTT có chất lượng cao cung cấp cho thị trường là một nhiệm vụ luôn đặt ra hàng đầu trong các kế họach, chiến lược phát triển chung của nhà trường, vì chất lượng của sinh viên là một trong những tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá chất lượng của bất cứ trường đại học nào. Trong nhiều năm qua trường đại học Tài chính – Marketing đã có chủ trương ứng dụng CNTT vào công tác quản lý việc dạy và học toàn diện. Là giáo viên của khoa CNTT tại trường đại học Tài chính – Marketing, đồng thời cũng là cố vấn học tập nên luôn phải đối mặt với những vấn đề học tập của sinh viên khoa CNTT. Trước thực trạng đang tồn tại và lĩnh vực tôi đang theo học, được sự đồng ý của PGS.
TS Nguyễn Thanh Bình, tôi chọn đề tài luận văn “Phân tích dữ liệu sinh viên để dự báo tiến độ học tập của sinh viên ngành CNTT tại trường đại học Tài chính – Marketing”. Luận văn sẽ góp phần vào việc giải quyết các vấn đề hết sức cấp bách và cần thiết trong thực tế hiện nay của sinh viên ngành CNTT, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường nói chung, của khoa CNTT nói riêng.2 MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG ĐỀ TÀI Khả năng đánh giá và dự đoán kết quả học tập của sinh viên đóng vai trò rất quan trọng trong môi trường giáo dục vì việc nâng cao thành công của sinh viên trong học tập là mục tiêu dài hạn của các trường đại học. Tuy nhiên, việc dự đoán và đánh giá kết quả học tập của sinh viên ngày càng trở thành thách thức to lớn trong bối cảnh khối lượng dữ liệu khổng lồ của các trường đại học và ngày càng tăng lên. Việc thiếu hệ thống sẵn sàng để phân tích và giám sát tiến độ học tập của sinh viên không được quan tâm vì 02 lý do sau : a.
Việc nghiên cứu các phương pháp dự đoán không đủ nhiều để xác định các phương pháp phù hợp nhất trong việc dự đoán kết quả học tập của sinh viên tại các trường đại học tại Việt Nam. Thiếu các cuộc điều tra về những yếu tố ảnh hưởng để thành tích học tập của sinh viên trong những khóa học cụ thể thuộc ngữ cảnh Việt Nam. Đề giải quyết nhu cầu thực tiễn về hỗ trợ sinh viên nâng cao chất lượng học tập, hỗ trợ Khoa, Ban Giám hiệu có các quyết định về chiến lược của nhà trường, đề tài nghiên cứu đề ra các mục tiêu chính sau : a. Phân tích, thống kê để đưa ra các thông tin cơ bản về tình hình học tập của sinh viên.
Ứng dụng các kỹ thuật Khai phá dữ liệu vào việc phân tích mô hình dự đoán, tích hợp và triển khai công cụ dự đoán kết quả học tập của sinh viên. Trực quan hóa các kết quả phân tích giúp sinh viên và nhà trường có đánh giá đầy đủ và dự báo sớm về tình hình học tập của sinh viên khoa CNTT.3 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 1.1 Phạm vi nghiên cứu Tìm hiểu và ứng dụng các kỹ thuật Khai phá dữ liệu và Khám phá tri thức với dữ liệu giáo dục của sinh viên khoa CNTT, trường đại học Tài chính – Markting và tiến hành đánh giá các kỹ thuật được lựa chọn để thực hiện nghiên cứu để đề xuất kỹ thuật phù hợp nhất với hoàn cảnh, ngữ cảnh và tính chất đặc thù của đơn vị được chọn để nghiên cứu, từ đó trình bày kết quả được thực hiện và định hướng ứng dụng, phát triển trong tương lai.2 Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu được thực hiện với dữ liệu là kết quả học tập của sinh viên khoa CNTT tại trường đại học Tài chính – Marketing của 05 khóa đã tốt nghiệp (2011 - 2015). Tập dữ liệu này do phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng cung cấp và hỗ trợ tác giả thực hiện nghiên cứu làm cơ sở cho các nghiên cứu sau này tại trường.4 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Ý nghĩa khoa học Áp dụng các kỹ thuật Khai phá dữ liệu trong phân tích bộ dữ liệu kết quả học tập của sinh viên. So sánh, đánh giá các phương pháp dự đoán kết quả học tập của sinh viên để từ đó lựa chọn phương pháp phù hợp áp dụng tại khoa CNTT, trường đại học Tài chính – Marketing.2 Ý nghĩa thực tiễn Dự đoán kết quả học tập của sinh viên nhằm giúp sinh viên có sự lựa chọn môn học phù hợp với năng lực bản thân và có kế hoạch học tập tối ưu nhằm đạt kết quả học tập tốt nhất.
Áp dụng mô hình dự đoán kết quả học tập sinh viên tại khoa CNTT, trường đại học Tài chính – Marketing nhằm giúp công tác tổ chức giảng dạy, học tập phù hợp với thực tiễn. Hỗ trợ Ban giám hiệu, lãnh đạo khoa CNTT có góc nhìn đa chiều về kết quả học tập của sinh viên để từ đó có kế hoạch thích hợp cho sinh viên về đăng ký môn học, lựa chọn môn học phù hợp. để đạt kết quả tốt nhất hoặc kết hợp với các yếu tố khác để xây dựng chiến lược tuyển sinh, xây dựng chương trình đào tạo. 4 CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ HÌNH THÀNH NGHIÊN CỨU VÀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Hiện nay, các trường đại học đang hoạt động trong môi trường rất phức tạp và có tính cạnh tranh cao.
Một trong những tiêu chí đánh giá trường đại học có chất lượng cao là dựa vào thành tích của sinh viên từ kết quả học tập.