Chương 1 trình bày các vấn đề lý luận chung về chia sẻ chi phí ĐTĐH. Khái niệm, phân loại chi phí ĐTĐH. Làm sáng tỏ khái niệm, nội dung và phương thức chia sẻ chi phí ĐTĐH. Tổng quan các công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước về chia sẻ chi phí ĐTĐH.
Kinh nghiệm quốc tế về chia sẻ chi phí ĐTĐH. Một số vấn đề lý luận chung về chia sẻ chi phí đào tạo đại học 1. Chi phí đào tạo đại học 1. Khái niệm chi phí đào tạo đại học Việc xác định chi phí ĐTĐH bắt nguồn từ lý thuyết về chi phí vốn con người của Schultz (1960), một nhà kinh tế học Mỹ.
Ông cho rằng, đầu tư cho giáo dục là một loại đầu tư vốn con người (human capital) và “các trường học có thể được xem như các công ty đặc biệt, sản xuất các văn bằng”. Vì thế, các cơ sở giáo dục và các trường đại học cũng giống như các nhà máy/ công ty trong các lĩnh vực công nghiệp, cần coi trọng việc xem xét những phí tổn giáo dục. Bởi lẽ, đây chính là cơ sở để tính toán các chính sách liên quan đến giáo dục, đặc biệt là chính sách học phí. Việc tính đúng, tính đủ chi phí đào tạo thực tế còn là điều kiện để từng bước cải thiện chất lượng dịch vụ trong các trường đại học.
Do đó, các nghiên cứu đã chỉ ra việc xác định chi phí ĐTĐH xuất phát từ 3 lí do chính sau đây: Một là, yêu cầu phân bổ hợp lý nguồn tài chính công cho ĐTĐH; Hai là, yêu cầu cải cách cơ chế tài chính cho ĐTĐH để đa dạng hóa và gia tăng nguồn lực cho ĐTĐH Ba là, yêu cầu xác định căn cứ khoa học để điều chỉnh học phí, là điều kiện cơ bản để tăng chất lượng đào tạo tại các trường đại học Trên thế giới, chi phí đào tạo được xem xét trên nhiều góc độ khác nhau, gồm chi phí của người học, chi phí của cơ sở đào tạo, chi phí của xã hội, chi phí của nhà nước. Ở mỗi góc độ nghiên cứu, chi phí ĐTĐH có nội dung, bản chất và quy mô khác nhau. Dưới góc độ của người học, chi phí đào tạo được hiểu là toàn bộ giá trị hàng hóa và dịch vụ mà người học đã tiêu dùng liên quan đến quá trình học của mỗi người. Dưới góc độ của nhà nước, chi phí đào tạo sẽ bao gồm toàn bộ các khoản chi cho đào tạo mà NSNN phải chi trả.
luan an 10 Dưới góc độ của cơ sở đào tạo, hiểu một cách tổng quát nhất, chi phí đào tạo là toàn bộ giá trị hàng hóa và dịch vụ đã hao phí cho việc đào tạo một người học trong một thời gian nhất định, thường là trong một năm hoặc trong một khóa học. Theo Johnstone (1991), chi phí đào tạo có thể phân loại thành 4 nhóm chi phí như sau: (1) Chi phí cơ bản cho giảng dạy, bao gồm tiền lương cho giảng viên và nhân viên, thiết bị, thư viện, máy tính, phòng học… (2) chi phí liên quan đến các hoạt động nghiên cứu khoa học; (3) chi phí liên quan đến sinh hoạt của sinh viên, mặc dù chi phí này không hoàn toàn liên quan đến GDĐH và nó phụ thuộc vào việc sinh viên sống với cha mẹ hoặc thuê trọ hay ở ký túc xá; (4) chi phí của các khoản thu nhập đã bỏ đi của sinh viên khi họ tách ra khỏi lực lượng lao động sản xuất. Mặc dù đây là một chi phí hoàn toàn hợp lý trong xã hội về mặt lý thuyết. Wang Shang-mai (1999), một học giả Trung Quốc cho rằng “chi phí đào tạo là giá trị của toàn bộ các nguồn lực đã được tiêu dùng khi nhà trường thực hiện việc giáo dục sinh viên/học sinh".
Hay nói cách khác, đó là tất cả các phí tổn được trả trực tiếp hoặc gián tiếp bởi xã hội, các cá nhân được giáo dục và gia đình họ dưới hình thức tiền tệ. Theo quan điểm của Levin và McEwan (trích dẫn trong Phạm Vũ Thắng, 2012), dưới góc độ của cơ sở đào tạo, các khoản chi đào tạo cần thiết cho một sinh viên bao gồm: (1) chi cho con người, bao gồm: tiền lương và phụ cấp theo lương, tiền công, các khoản đóng góp theo lương, phúc lợi, khen thưởng, dự phòng ổn định thu nhập; (2) chi cho cơ sở vật chất; (3) chi máy móc thiết bị và vật liệu; (4) các chi phí đầu vào khác; và (5) chi phí đầu vào của sinh viên. Tất cả các chi phí cần thiết đó được cộng lại với nhau để thiết lập tổng chi phí của chương trình để đào tạo một sinh viên. Theo Nguyễn Văn Áng (2009), “chi phí đào tạo của trường đại học là tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ đã chi phí cho việc đào tạo 01 người học trong một thời gian nhất định, thường là trong một năm hoặc một khóa học”.
Chi phí đào tạo bao gồm nhiều khoản mục khác nhau, có thể phân chia thành 3 nhóm: (1) Chi về tài sản; (2) Chi về lương và các khoản có tính chất như lương; (3) Chi hàng năm không phải lương. Chi phí đào tạo phải đáp ứng nhu cầu cơ bản cho hoạt động đào tạo nhằm đảm bảo được chuẩn đầu ra trên cơ sở tính đúng, tính đủ và không tính đến yếu tố lợi nhuận và đầu tư mà xét đến nguồn lực hỗ trợ từ NSNN và khả năng đóng góp của người học. Nghị định 16/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định rõ việc sử dụng nguồn tài luan an 11 chính của các đơn vị sự nghiệp công lập như sau: a) Chi đầu tư từ Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, nguồn vốn vay và các nguồn tài chính hợp tác khác; b) Chi thường xuyên bao gồm: Chi tiền lương, chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý, trích khấu hao tài sản cố định theo quy định; c) Chi nhiệm vụ không thường xuyên. Như vậy, thuật ngữ chi phí đào tạo theo các nhà nghiên cứu đều được xác định thống nhất, bằng tổng chi phí nhà trường bỏ ra để đào tạo một sinh viên trong năm.
Khi xác định chi phí đào tạo, thông thường, sử dụng chỉ tiêu chi phí đào tạo bình quân một sinh viên. Chỉ tiêu này được xác định bằng cách lấy tổng chi phí đào tạo chia cho số sinh viên trong một năm. Tổng chi phí đào tạo có thể được chia thành các khoản chính như sau: (1) chi cho con người: tiền lương và phụ cấp theo lương, tiền công, các khoản đóng góp theo lương, phúc lợi, khen thưởng, dự phòng ổn định thu nhập.; (2) chi cho hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ: chi giảng dạy và quản lý trực tiếp, coi thi, chấm thi; hướng dẫn, chấm chuyên đề, khóa luận; chi cho hoạt động thực tập, đào tạo kỹ năng, thực hành.; chi học bổng, dịch vụ công cộng, vật tư văn phòng; thông tin, tuyên truyền, liên lạc.; (3) chi cho mua sắm cơ sở vật chất, sửa chữa tài sản cố định, chi máy móc thiết bị, vật liệu, và các chi phí đầu vào khác. Phân loại chi phí đào tạo đại học Có nhiều cách khác nhau để phân loại chi phí ĐTĐH.
Cụ thể như sau: a. Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp • Chi phí trực tiếp Chi phí trực tiếp là chi phí phát sinh trực tiếp để tài trợ cho việc thực hiện giảng dạy, nghiên cứu và dịch vụ cộng đồng, bao gồm toàn bộ những khoản chi phí thực tế phát sinh trong quá trình đào tạo, được sử dụng để mua sắm những “đầu vào” cần thiết nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập, như chi lương giáo viên, lương nhân viên, giáo trình, và các vật tư khác (Cohn, 1976). Chi phí trực tiếp đứng ở góc độ chủ thể khác nhau là không giống nhau. Đó là, chi phí của cá nhân, chi phí của nhà nước, và chi phí của xã hội cho ĐTĐH.
Cụ thể, được thể hiện qua bảng sau: luan an 12 Bảng 1. Phân biệt chi phí trực tiếp cho ĐTĐH của cá nhân, Nhà nước, và xã hội Chi phí của cá nhân Chi phí của nhà nước Chi phí của xã hội Chi phí của cá nhân Chi phí của Nhà nước Chi phí xã hội là bao gồm thường bao gồm 5 khoản thường bao gồm 8 khoản chi phí của cá nhân và của mục chi cơ bản sau: mục chi cơ bản sau: Nhà nước, ngoài ra còn một - Học phí và các khoản - Lương và các khoản có phần chênh lệch, xuất phát phí phải nộp; tính chất lương cho giảng từ các nguồn sau đây: - Trang thiết bị và học viên và cán bộ quản lý giáo - Chi phí của tư nhân cho liệu của cá nhân; dục các cấp; ĐTĐH thông qua các hình - Tiền ăn, ở, đi lại; - Chi đào tạo, bồi dưỡng thức hợp tác công tư trong - Mua đồng phục và đóng đội ngũ giảng viên và cán ĐTĐH; góp các khoản quĩ khác ở bộ quản lý giáo dục; - Các khoản tiền/ hiện vật trường, lớp; - Cơ sở vật chất trường cho, tặng, viện trợ của các - Chi cho các khóa học học (xây dựng hoặc thuê); cá nhân, tổ chức cho có tính chất bổ trợ cho - Trang thiết bị và học liệu ĐTĐH; chương trình chính khóa của nhà trường (mua hoặc - Phần thu nhập từ hoạt (học thêm). thuê); động sản xuất - kinh doanh; - Duy tu, bảo dưỡng, sửa - dịch vụ của các cơ sở chữa nhỏ; ĐTĐH công được đầu tư trở - Học bổng, trợ cấp cho lại cho ĐTĐH. người học; - Nghiên cứu khoa học; - Chương trình dự án.
Nguồn: Đặng Thị Minh Hiền (2016) • Chi phí gián tiếp Chi phí gián tiếp bao gồm tổn thất thu nhập vì người học đang tham gia học đại học. Nó cũng có thể là lợi nhuận bị mất hay còn gọi là chi phí cơ hội mà sinh viên “mất đi” trong khi học tập, được xác định trên cơ sở giả thiết: “Điều gì sẽ xảy ra nếu các cá nhân không tham gia học đại học”. Khi đó, giá trị của cơ hội lớn nhất sẽ mất đi khi cá nhân đó quyết định tham gia học đại học cho phép tính toán chi phí gián tiếp (chi phí cơ hội) của ĐTĐH. Cụ thể như sau: một học sinh tốt nghiệp THPT (hoặc trung cấp, sơ cấp nghề.) sẽ đứng trước hai sự lựa chọn: một là, tiếp tục tham gia vào hệ thống GDĐH (cao đẳng/ đại học); hai là, tham gia vào thị trường lao động (đi làm).
Nếu tham gia vào thị trường lao động, họ sẽ nhận được khoản thu nhập hàng tháng luan an 13 tương ứng với công việc của họ. Ngược lại, nếu tiếp tục học cao đẳng/ đại học, họ sẽ không nhận được khoản thu nhập đó.