Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý cho cán bộ cấp cơ sở Chương 2: Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý cho cán bộ cấp cơ sở ở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội hiện nay 8 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CHO CÁN BỘ CẤP CƠ SỞ 1. Nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý cho cán bộ cấp cơ sở: Khái niệm, vai trò và tính tất yếu 1. Một số khái niệm cơ bản Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định rằng, “cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho quần chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình người dân báo cáo cho Đảng và Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng ”; “vì vậy cán bộ là cái gốc của mọi việc” [27, tr. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng của mình, Người luôn quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ.
Người nói: Việc đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện cán bộ là rất quan trọng, rất cần thiết và “Đảng phải nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu, phải trọng nhân tài,trọng cán bộ, trọng những người có ích cho công việc chung của chúng ta” [27, tr. Khái niệm cán bộ cấp cơ sở: Điều 4 Luật Cán bộ công chức năm 2008 quy định về cán bộ như sau: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Cơ sở là đơn vị ở cấp dưới cùng, nơi trực tiếp thực hiện các hoạt động như sản xuất, công tác, v. của một hệ thống tổ chức, trong quan hệ với các bộ phận lãnh đạo cấp trên.
9 Theo Khoản 3 điều 4 Luật Cán bộ công chức quy định: Cán bộ cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội. Khái niệm năng lực: Nói tới năng lực là nói tới phẩm chất đạo đức, trí nhớ, tính nhạy cảm, trí tuệ, tính cách… của mỗi cá nhân con người (năng lực con người). Năng lực là một từ ngữ rất trừu tượng, khó định lượng và có rất nhiều quan điểm khác nhau: - Theo Từ điển tiếng Việt Nam của Viện Ngôn ngữ học (NXB Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học, 2000) [50, tr.639], “Năng lực được hiểu là khả năng điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có; phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”. - Trong cuốn thuật ngữ hành chính (Hà Nội, 2002, Viện Nghiên cứu hành chính) [57, tr.118] định nghĩa “Năng lực là khả năng về thể chất và trí tuệ của cá nhân con người, hoặc khả năng của một tập thể có tổ chức tự tạo lập và thực hiện được các hành vi xử sự của mình trong các quan hệ xã hội nhằm thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ do mình đề ra hoặc do nhà nước hay chủ thể khác với kết quả tốt nhất”.
- Theo Từ điển Tâm lý học, Viện Tâm lý học, năm 2007 [49], “Năng lực là tập hợp các tính chất, hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò làm điều kiện bên trong, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện tốt nội dung hoạt động nhất định. Người có năng lực là người đạt được hiệu suất hoạt động cao trong hoàn cảnh khách quan và chủ quan như nhau”. Xét dưới góc độ pháp lý: năng lực của một chủ thể có thể bao gồm nhiều yếu tố, nhưng trong đó có hai yếu tố chủ yếu đó là năng lực hành vi và năng lực pháp luật. Khái niệm năng lực lãnh đạo, quản lý: Theo Từ điển tiếng Việt, “lãnh đạo” là ra chủ trương và tổ chức động 10 viên thực hiện, “quản lý” là tổ chức điều khiển các hoạt động theo các yêu cầu đã đề ra.
Như vậy, khái niệm “năng lực lãnh đạo, quản lý” được hiểu là khả năng khái quát, đánh giá thực tiễn để đưa ra những chủ trương, đường lối và hiện thực hóa chủ trương, đường lối đó trong cuộc sống trên cơ sở có sự thống nhất, tập trung theo nguyên tắc thực tiễn. Năng lực lãnh đạo, quản lý cũng phản ánh phẩm chất của người cán bộ, đặc biệt là cán bộ giữ vị trí lãnh đạo. Người có phẩm chất này sẽ tạo ra động lực cho sự lãnh đạo, từ đó tạo ra bước tiến về kinh tế, văn hóa, xã hội ở cấp cơ sở. Ngược lại, nếu lãnh đạo không có phẩm chất này thì khó có thể tổ chức thực hiện, đưa những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào trong thực tiễn cách mạng Việt Nam ở thời kỳ đổi mới.
Về mặt bản chất, “lãnh đạo” và “quản lý” là những nội dung có quan hệ mật thiết, tác động lẫn nhau, đan xen nhau. Xét về mặt nội dung, tính chất thì giữa hai khái niệm này có điểm gần giống nhau nên người ta thường sử dụng cụm từ chung là “lãnh đạo, quản lý”. Vì thế, hoạt động lãnh đạo cũng đồng thời thực hiện chức năng quản lý và hoạt động quản lý cũng đồng thời thực hiện chức năng lãnh đạo. Tuy nhiên, khái niệm lãnh đạo và quản lý không hoàn toàn đồng nhất với nhau.
Trong quá trình lãnh đạo, hoạt động chủ yếu là định hướng cho khách thể thông qua hệ thống cơ chế, đường lối chủ trương chính sách làm thức tính hành vi của đối tượng, định hướng hoạt động của đối tượng và xã hội. Còn hoạt động quản lý mang tính điều khiển, vận hành thông qua những thiết chế có tính pháp lệnh được quy định từ trước. Phẩm chất và năng lực không thể tách rời trong một chủ thể lãnh đạo. Phẩm chất làm nền tảng cho năng lực phát triển; năng lực lại thể hiện phẩm chất khi nó căn cứ trên các phẩm chất và năng lực, đặc biệt là những phẩm chất và năng lực biểu hiện thành những kết quả có giá trị và cống hiến lớn của người lãnh đạo cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa, đẩy nhanh quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta.
11 Để đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ người cán bộ lãnh đạo, quản lý trong thời kỳ mới – thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, phải có các phẩm chất cần thiết sau: Thứ nhất, có tầm nhìn xa trông rộng, có trình độ và khả năng phù hợp với bản chất của xã hội công nghiệp – xã hội hiện đại. Thứ hai, có nhân cách lãnh đạo phù hợp với bản chất xã hội công nghiệp – xã hội hiện đại phát triển theo hướng nhân văn: Xu hướng và mục tiêu chính trị là phát triển và tiến bộ xã hội – con người. Thứ ba, có tư duy khoa học, phương pháp tư duy duy vật biện chứng, phù hợp với tính chất công nghiệp, lối sống hiện đại, biểu hiện trong năng lực tư duy sắc bén nhanh nhạy, uyển chuyển, sáng tạo. Thứ tư, có tư chất đặc thù của người lãnh đạo, như vững vàng về chính trị và tư tưởng, phát triển sâu sắc và phong phú thế giới nội tâm; yếu tố lý trí và yếu tố tình cảm hài hòa.
Thứ năm, có tri thức và kinh nghiệm phát triển tương ứng với tính chất công việc được giao: tri thức tổng hợp và chuyên sâu. Thứ sáu, có trình độ cao, kể cả hiểu biết về nền khoa học – công nghệ hiện đại, cũng như thao tác về kỹ thuật vi tính, viễn thông. Thứ bảy, có khả năng tập hợp mọi người và quy tụ họ xung quanh mình, tổ chức, huy động, phát huy sức mạnh tổng hợp của tập thể để thực hiện tối ưu mục tiêu chung. Thứ tám, có khả năng tiên đoán, dự báo các khả năng có thể xảy ra trong hiện thực và tương lai, đồng thời dự phòng các khả năng giải quyết, thực hiện chúng trong những điều kiện ngặt nghèo nhất.
Thứ chín, có khả năng sáng tạo, phá vỡ cái định hình, vượt qua cái cũ, tìm tòi, khám phá, phát hiện và đề xuất cái mới có ích cho nhân dân, có giá trị cho xã hội. Thứ mười, có khả năng quyết đoán, táo bạo, đồng thời lại chắc chắn trong việc đưa ra những quyết định cũng như trong chỉ đạo hành động. 12 Khái niệm cán bộ lãnh đạo: Khái niệm cán bộ lãnh đạo được hiểu theo hai thành phần sau: Thứ nhất, cán bộ lãnh đạo được hiểu là những ai giữ chức vụ và trách nhiệm cao trong một tổ chức có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của tổ chức, của bộ máy, có vai trò tham gia định hướng, điều khiển hoạt động của cả bộ máy. Ví dụ: Các uỷ viên ban chấp hành, ban thường vụ, trưởng, phó các cơ quan, đơn vị.
Cán bộ lãnh đạo chính là những người đứng đầu, có chức vụ cao nhất trong một tập thể, có quyền ra quyết định về chủ trương, có trách nhiệm và quyền điều hành một tập thể, một đơn vị, một tổ chức để thực hiện những nhiệm vụ của tập thể, tổ chức ấy; thậm chí có thể chi phối, dẫn dắt toàn bộ hoạt động của tổ chức và của cả hệ thống chính trị. Cán bộ quản lý là những người điều hành, có chức năng và nhiệm vụ điều khiển, tổ chức và phối hợp thực hiện hoạt động chuyên môn trong một khâu, một công đoạn, một chương trình dự án. Xét cho cùng, hoạt động quản lý là sự tiếp nối của hoạt động lãnh đạo, là khâu tất yếu để thực hiện sự lãnh đạo. Sự phân biệt này chỉ là tương đối nhưng rất cần thiết đối với công tác cán bộ, làm cơ sở cho việc xác định tiêu chuẩn, chức năng của cán bộ lãnh đạo, bộ máy lãnh đạo với tiêu chuẩn, chức năng của người cán bộ quản lý, bộ máy quản lý; tránh sự trùng lặp, chồng chéo giữa các cơ quan lãnh đạo và quản lý.
Thứ hai, cán bộ lãnh đạo là những người đứng đầu tổ chức, quốc gia. Họ là nhóm người lãnh đạo ở tầm vĩ mô.