Luận văn thạc sĩ quản lý thu ngân sách tại huyện Phước Sơn, Quảng Nam

Luận văn thạc sĩ chính sách công nghiên cứu thực trạng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu ngân sách nhà nước tại huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Chính sách công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

82
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về luận văn thạc sĩ chính sách công quản lý thu ngân sách huyện Phước Sơn

Luận văn thạc sĩ chính sách công này nghiên cứu việc thực hiện chính sách quản lý thu ngân sách nhà nước (NSNN) trên địa bàn huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam. Đề tài tập trung phân tích cơ chế thu ngân sách từ thuế và các khoản thu khác tại huyện miền núi này, nơi có điều kiện kinh tế-xã hội đặc thù. Nghiên cứu dựa trên dữ liệu giai đoạn 2016-2018 từ Chi cục Thuế huyện Phước Sơn, kết hợp với khung lý thuyết về chính sách công và quản lý ngân sách. Mục tiêu chính là đánh giá hiệu quả thực thi chính sách, xác định tồn tại và đề xuất giải pháp hoàn thiện. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho các nhà hoạch định chính sách địa phương trong bối cảnh cải cách hành chính thuế hiện nay.

1.1. Khái niệm và vai trò của quản lý thu ngân sách nhà nước

Quản lý thu ngân sách nhà nước là quá trình tổ chức, điều hành thu các khoản tiền vào ngân sách nhà nước theo quy định pháp luật, nhằm đảm bảo nguồn lực tài chính cho hoạt động của bộ máy nhà nước. Tại huyện Phước Sơn, công tác này chịu sự chi phối bởi Luật Ngân sách Nhà nước 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Vai trò quan trọng nhất là huy động nguồn lực tài chính phục vụ phát triển kinh tế-xã hội địa phương, đặc biệt trong bối cảnh huyện có nhiều khó khăn về hạ tầng và nguồn thu hạn chế. Hiệu quả quản lý thu góp phần cân đối ngân sách, giảm phụ thuộc vào ngân sách cấp trên và thúc đẩy phát triển bền vững.

1.2. Bối cảnh thực hiện chính sách tại huyện Phước Sơn

Huyện Phước Sơn thuộc tỉnh Quảng Nam có đặc điểm địa hình đồi núi, kinh tế chủ yếu dựa vào nông-lâm nghiệp và sản xuất nhỏ lẻ. Năm 2018, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 206,5 tỷ đồng, trong đó thu từ thuế chiếm tỷ trọng lớn nhất (11,56 tỷ đồng). Sự phát triển chưa đồng đều giữa các xã, tỷ lệ nợ thuế tồn đọng cao và nhận thức của người dân về nghĩa vụ thuế còn hạn chế là những thách thức chính. Bên cạnh đó, sự hỗ trợ từ cấp tỉnh và sự phối hợp giữa các ngành chức năng tại địa phương ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thực hiện chính sách.

II. Phân tích thực trạng thực hiện chính sách quản lý thu ngân sách tại huyện Phước Sơn

Kết quả triển khai chính sách quản lý thu ngân sách tại huyện Phước Sơn giai đoạn 2016-2018 cho thấy những tiến bộ đáng kể nhưng vẫn tồn tại nhiều hạn chế. Tổng thu ngân sách tăng trưởng ổn định, đạt 380,1 tỷ đồng năm 2016 và 206,5 tỷ đồng năm 2018. Các khoản thu từ doanh nghiệp ngoài quốc doanh, hộ kinh doanh cá thể và thuế thu nhập cá nhân đóng góp chủ yếu vào ngân sách. Tuy nhiên, tỷ lệ thu hồi nợ thuế chỉ đạt 78,5% năm 2018, thấp hơn mục tiêu đề ra. Công tác tuyên truyền pháp luật thuế chưa sâu rộng, dẫn đến tình trạng trốn thuế và chậm nộp vẫn diễn ra phổ biến. Bên cạnh đó, hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý thu còn manh mún, thiếu đồng bộ giữa các cấp chính quyền.

2.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả quản lý thu

Kết quả quản lý thu ngân sách tại huyện Phước Sơn chịu tác động bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Về kinh tế, sự phát triển chưa đồng đều giữa các xã dẫn đến chênh lệch lớn về nguồn thu. Về thể chế, các quy định pháp luật về thuế còn phức tạp, gây khó khăn cho người nộp thuế và cán bộ thuế trong quá trình triển khai. Về con người, nhận thức hạn chế của người dân về nghĩa vụ thuế và thiếu hụt nguồn nhân lực có chuyên môn tại Chi cục Thuế huyện cũng là rào cản lớn. Ngoài ra, điều kiện địa lý hiểm trở ảnh hưởng đến công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại các xã vùng sâu.

2.2. Hạn chế trong triển khai chính sách quản lý thu

Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định, công tác quản lý thu ngân sách tại huyện Phước Sơn vẫn tồn tại nhiều hạn chế. Tỷ lệ nợ thuế tồn đọng cao, đặc biệt là đối với các khoản thu từ hộ kinh doanh cá thể, do thiếu biện pháp cưỡng chế hiệu quả. Hệ thống thông tin quản lý thu chưa được số hóa hoàn toàn, dẫn đến tình trạng chồng chéo trong quản lý và khó khăn trong công tác thanh tra. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền pháp luật thuế chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến tình trạng người dân thiếu hiểu biết về quy định thuế. Sự phối hợp giữa Chi cục Thuế huyện và các xã trong quản lý thu cũng còn lỏng lẻo, thiếu thống nhất.

III. Giải pháp hoàn thiện chính sách quản lý thu ngân sách huyện Phước Sơn

Để nâng cao hiệu quả quản lý thu ngân sách, huyện Phước Sơn cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ hoàn thiện thể chế đến tăng cường tuyên truyền và ứng dụng công nghệ. Trước tiên, cần đơn giản hóa quy trình thu thuế, bãi bỏ các thủ tục hành chính rườm rà và tăng cường thanh tra, kiểm tra đột xuất. Song song đó, đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật thuế thông qua các phương tiện truyền thông địa phương và tổ chức hội nghị tập huấn cho người nộp thuế. Áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý thu, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thống nhất từ cấp huyện đến cấp xã. Đặc biệt, cần tăng cường đào tạo nguồn nhân lực có chuyên môn về thuế tại Chi cục Thuế huyện và các phòng ban liên quan.

3.1. Nâng cao hiệu quả tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế

Công tác tuyên truyền pháp luật thuế tại huyện Phước Sơn cần được đổi mới theo hướng đa dạng hóa hình thức và nội dung. Tận dụng các phương tiện truyền thông đại chúng như đài phát thanh, truyền hình huyện để phổ biến kiến thức thuế đến mọi tầng lớp nhân dân. Tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm tại các xã vùng sâu, vùng xa với sự tham gia của cán bộ thuế và người nộp thuế. Cung cấp dịch vụ hỗ trợ trực tuyến qua cổng thông tin điện tử huyện, giúp người dân dễ dàng tra cứu thông tin và nộp thuế. Đồng thời, tăng cường phối hợp với hội nông dân, hội phụ nữ địa phương để tuyên truyền rộng rãi hơn.

3.2. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thu

Việc ứng dụng công nghệ thông tin sẽ giúp huyện Phước Sơn nâng cao hiệu quả quản lý thu ngân sách. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý thu thống nhất, kết nối giữa Chi cục Thuế huyện, phòng tài chính huyện và ủy ban nhân dân các xã. Triển khai phần mềm quản lý thu thuế điện tử, cho phép người nộp thuế khai báo, nộp thuế trực tuyến mọi lúc, mọi nơi. Áp dụng công nghệ mã vạch trong quản lý hóa đơn, chứng từ thu thuế để giảm thiểu sai sót và gian lận. Đồng thời, sử dụng hệ thống cảnh báo tự động đối với các trường hợp nợ thuế quá hạn, giúp cán bộ thuế kịp thời xử lý.

IV. Kết luận và khuyến nghị thực tiễn cho quản lý thu huyện Phước Sơn

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc thực hiện chính sách quản lý thu ngân sách tại huyện Phước Sơn còn nhiều tồn tại cần khắc phục. Mặc dù đạt được những kết quả nhất định về tăng trưởng thu ngân sách, nhưng tỷ lệ thu hồi nợ thuế thấp, công tác tuyên truyền chưa hiệu quả và hệ thống quản lý còn lạc hậu là những vấn đề cấp bách. Để nâng cao hiệu quả, huyện cần tập trung vào ba trụ cột: thể chế, con người và công nghệ. Cụ thể, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường đào tạo cán bộ thuế và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thu. Kết quả nghiên cứu có thể làm cơ sở tham khảo cho các địa phương có điều kiện tương tự trong quá trình cải cách hệ thống thu ngân sách nhà nước.

4.1. Đánh giá hiệu quả triển khai chính sách quản lý thu

Sau giai đoạn nghiên cứu 2016-2018, có thể khẳng định huyện Phước Sơn đã đạt được những tiến bộ nhất định trong quản lý thu ngân sách. Tổng thu ngân sách tăng trưởng ổn định, mặc dù chịu ảnh hưởng bởi điều kiện kinh tế-xã hội đặc thù. Các khoản thu từ thuế và phí đóng góp quan trọng vào ngân sách địa phương. Tuy nhiên, tỷ lệ thu hồi nợ thuế thấp (78,5% năm 2018) cho thấy công tác quản lý thu chưa thực sự hiệu quả. Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa các cấp chính quyền còn chưa chặt chẽ, dẫn đến tình trạng chồng chéo trong quản lý.

4.2. Định hướng cải thiện quản lý thu ngân sách địa phương

Để nâng cao hiệu quả quản lý thu, huyện Phước Sơn cần tập trung vào ba giải pháp trọng tâm. Thứ nhất, cải cách thủ tục hành chính thuế theo hướng đơn giản hóa, minh bạch hóa quy trình. Thứ hai, tăng cường đào tạo cán bộ thuế về chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin. Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong quản lý thu, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thống nhất và triển khai dịch vụ thu thuế điện tử. Những giải pháp này cần được triển khai đồng bộ và có lộ trình phù hợp với điều kiện thực tế của huyện.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/06/2026
Uận văn thạc sĩ chính sách công thực hiện chính sách quản lý thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện phước sơn tỉnh quảng nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TỪ THUẾ 1. Các khái niệm liên quan 1. Khái niệm về ngân sách Nhà nước Sự xuất hiện thuật ngữ “Ngân sách Nhà nước” đã ra đời từ lâu và ngày nay được sử dụng phổ biến trong đời sống kinh tế - xã hội và được diễn đạt dưới nhiều góc độ khác nhau. Trong thực tế nhìn bề ngoài, hoạt động NSNN là hoạt động thu chi tài chính của Nhà nước, hoạt động đó đa dạng, phong phú, được tiến hành hầu hết trên các lĩnh vực, tác động đến mọi chủ thể kinh tế - xã hội.

Dù rất đa dạng, phong phú nhưng chúng lại có những đặc điểm chung đó là; Các hoạt động thu, chi của NSNN luôn luôn gắn liền với quyền lực kinh tế - chính trị của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ , quy tắc nhất định. Trong các quan hệ lợi ích đó, lợi ích quốc gia, lợi ích chung bao giờ cũng được đặt lên hàng đầu và chi phối các mặt lợi ích khác trong thu, chi ngân sách Nhà nước. Ở góc độ phân cấp thu – chi thì ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, ngân sách trung ương là ngân sách của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở trung ương. Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Ủy ban Nhân dân.

Theo Điều 4 Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 quy định: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để đảm bảo thực hiện chức năng, nhiện vụ của Nhà nước” [21,tr. 8 Từ những lập luận và khái niệm trên ta có thể hiểu một cách khái quát về NSNN xét trên hai khía cạnh đó là, ở thể động và trong suốt một quá trình thì NSNN là yếu tố cơ bản, chủ đạo của tài chính nhà nước, được nhà nước sử dụng để động viên phân phối một bộ phận nguồn lực xã hội dưới dạng tiền tệ về cho nhà nước để phục vụ chức năng, nhiệm vụ về kinh tế - xã hội mà nhà nước phải điều hành. Thứ hai xét ở thể tĩnh và hình thức bên ngoài thì NSNN đó là toàn bộ các khoản thu, chi bằng tiền của nhà nước và đã được các cơ quan có thẩm quyền quyết định và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định tùy vào chiến lược ngắn hạn hoặc trung hạn và dài hạn và thường được ấn định dưới một con số cụ thể. Khái niệm thu ngân sách nhà nước Thu ngân sách Nhà nước thực chất đó là việc nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia để qua đó hình thành nên quỹ ngân sách Nhà nước để nhằm mục đích thỏa mãn cho các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 5 Luật ngân sách Nhà nước năm 2015 thì: “Thu ngân sách Nhà nước bao gồm các khoản thu từ thuế, lệ phí; Toàn bộ các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện, các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thực hiện nộp ngân sách nhà nước theo quy định pháp luật, các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài cho Chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phương và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật” [21,tr. Thu ngân sách Nhà nước từ thuế 1. Khái niệm về thuế Khi xã hội loài người được hình thành cần có một tổ chức lãnh đạo được lập ra và hoạt động nhằm đem đến lợi ích cho tất cả mọi người. Điều này đặt 9 ra phải có một quỹ chung để thực hiện và chi cho các công việc cần thiết, và thuế được hình thành.

Theo tài liệu ghi nhận thì thuế được áp dụng đầu tiên ở Ai Cập cổ đại vào khoảng năm 3000-2900 TCN, nếu không trả tiền hoặc trốn thuế, chống lại việc nộp thuế sẽ bị phạt theo quy định của pháp luật. Như vậy, một trong những khái niệm phổ biến nhất về thuế đó là “Thuế là một khoản thu bắt buộc, không mang tính chất bồi hoàn trực tiếp của Nhà nước đối với các tổ chức, cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và vì lợi ích chung” [1, tr. Với đặc thù rất riêng của mình, thuế mang sẵn trong nó những đặc điểm cơ bản sau; Thuế là hình thức đóng góp được quy định trước và được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả không trực tiếp là chủ yếu. Thuế là hình thức động viên nhưng mang tính bắt buộc trên nguyên tắc luật định, nó gắn với quyền lực và thể hiện sức mạnh của Nhà nước trong việc ấn định phải nộp và người nộp thuế có nghĩa vụ phải tuân theo.

Thuế là tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Thuế dựa vào thực trạng của nền kinh tế (GDP, chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá sản xuất, thu nhập, lãi suất…). Nội dung cơ bản về quản lý thu ngân sách nhà nước từ thuế Quản lý thu NSNN từ thuế về bản chất cũng là thu NSNN nhưng có sự hạn chế hơn về phạm vi áp dụng và đối tượng áp dụng khi thu. Như vậy, quản lý thu NSNN từ thuế là hoạt động của các cơ quan chủ thể quản lý thu thông qua việc sử dụng có chủ đích các công cụ pháp lý, phương pháp quản lý để tác động và điểu chỉnh hoạt động thu thuế của ngân sách các cấp nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra từ trước.

Quá trình tác động và điều chỉnh của chủ thể quản lý như sau: 10 Vận dụng các phương pháp thích hợp tác động đến quá trình thu thuế đối với từng cấp phù hợp với yêu cầu khách quan của nền kinh tế cũng như điều kiện của từng địa phương. Vận dụng chức năng dự báo để hoạch định chiến lược, kế hoạch, chính sách, chế độ liên quan đến công tác thu thuế. Vận dụng các phương pháp thích hợp để tiến hành kiểm tra, thanh tra bảo đảm cho quá trình thu thuế đúng pháp luật, chống các hành vi tiêu cực trpng quá trình tổ chức quản lý thu. Quy trình triển khai công tác thu NSNN từ thuế thường trải qua các bước sau; Thứ nhất, Việc thu thuế phải được lập kế hoạch trước khi thu + Việc lập kế hoạch thu là khâu đầu tiên đối với chức năng quản lý thu NSNN của ngành thuế, kế hoạch thu có ảnh hưởng đến dự toán cân đối thu - chi ngân sách Nhà nước trong mỗi chu kỳ.

+ Kế hoạch thu thuế có vai trò định hướng hoạt động trong một thời kỳ nhất định. Tính trên phạm vi cả nước, kế hoạch thu là một bộ phận quan trọng trong dự toán NSNN. Đây là cơ sở để phân bổ nguồn lực tài chính cho hoạt động của Chính phủ, đồng thời là cơ sở xây dựng cho các mục tiêu tăng trưởng kinh tế của đất nước. Đối với mỗi địa phương thì đây là chỉ tiêu để xác định số thu NSNN địa phương, qua đó xác định được số chi bổ sung hoặc điều tiết ngân sách giữa cấp trên và cấp dưới.

Là cơ sở để xét thi đua, khen thưởng trong quá trình thực hiệ dự toán thu ngân sách của địa phương. Đối với ngành thuế đây là yếu tố hàng đầu và không thể tách rời trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của ngành. Đây là nhiệm vụ được Nhà nước giao, mang tính pháp lệnh trong công tác thu thuế, chỉ tiêu dự toán thu được 11 giao là mục tiêu chỉ đạo của cơ quan thuế các cấp đối với cơ quan thuế cấp dưới trực thuộc. + Để có thể lập được kế hoạch thu, ngành thuế dựa vào các căn cứ sau: Kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của Chính phủ 5 năm hiện hành, tình hình phát triển kinh tế ở năm lập kế hoạch và dự báo cho những năm tiếp theo trong chu kỳ kế hoạch.

Luật quản lý thuế, các luật thuế hiện hành và các văn bản quy định hướng dẫn thi hành các luật thuế. Chủ trương và chính sách quản lý kinh tế của Nhà nước ở năm kế hoạch và các năm tiếp theo. + Các căn cứ xây dựng kế hoạch thu, bao gồm: Dự toán thu của ngành thuế được Quốc hội và Chính phủ giao hành năm dựa vào kết quả thu năm trước liền kề, dự toán chi ngân sách cho năm lập kế hoạch kết hợp với tình hình biến động về kinh tế, xã hội đã được dự báo trước. Sau khi có dự toán toàn ngành, Tổng cục Tthuế sẽ giao dự toán thu pháp lệnh cho Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trên cơ sở kết quả thu năm trước và dự báo các chỉ tiêu về tình hình kinh tế của địa phương sở tại.

Tiếp sau đó, Bộ tài chính, HĐND và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sẽ giao nhiệm vụ thu phấn đấu tăng thu so với dự toán pháp lệnh theo tỷ lệ nhất định nào đó. Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ vào dự toán pháp lệnh và dự toán phấn đấu được cấp trên giao, tổ chức giao dự toán thu cho các Chi cục thuế quận, huyện, Chi cục thuế khu vực và các phòng trực thuộc cục thuế. 12 Chi cục thuế căn cứ vào dự toán được cấp trên giao sẽ giao dự toán thu cho các đội trực thuộc chi cục để thực hiện. Thứ hai, tổ chức thực hiện công tác thu thuế + Về xây dựng bộ máy thu thuế Hiệu quả của quá trình quản lý thu thuế một phần phụ thuộc vào tổ chức bộ máy thu.

Do đó, tổ chức bộ máy thu thuế cũng là nội dung quan trọng trong quản lý thu thuế. Khi xây dựng bộ máy thu thuế thì các nước đều tính đến vấn đề cơ bản sau: - Mối quan hệ, vị trí của ngành thuế và chính quyền địa phương. Đây là vấn đề rất quan trọng trong việc tổ chức bộ máy thu thuế, trong thực tế công tác tổ chức thu thuế và thực thi pháp luật thuế cần phải có sự phối hợp và đặc biệt là sự hỗ trợ của chính quyền địa phương sở tại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ