Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước về phật giáo nam tông khmer từ thực tiễn tỉnh cà mau

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

88
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý nhà nước về Phật giáo Nam Tông Khmer tại Cà Mau

Phật giáo Nam Tông Khmer là tôn giáo truyền thống của đồng bào Khmer tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Tại tỉnh Cà Mau, Phật giáo Nam Tông Khmer có lịch sử hình thành lâu đời. Tôn giáo này gắn bó mật thiết với đời sống văn hóa, tinh thần của cộng đồng Khmer. Quản lý nhà nước về Phật giáo Nam Tông Khmer là hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước. Mục tiêu nhằm đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Hoạt động này đồng thời bảo vệ trật tự công cộng, an ninh quốc gia. Cơ sở pháp lý bao gồm Hiến pháp năm 2013 và Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016. Nghị định 162/2017/NĐ-CP quy định chi tiết biện pháp thi hành. Tỉnh Cà Mau triển khai nhiều chính sách cụ thể. Các chính sách hướng đến phát huy giá trị tích cực của tôn giáo. Phật giáo Nam Tông Khmer góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

1.1. Khái niệm và đặc điểm Phật giáo Nam Tông Khmer tại Cà Mau

Phật giáo Nam Tông Khmer là hệ phái Theravada. Hệ phái này theo truyền thống Phật giáo nguyên thủy từ Ấn Độ. Tại Cà Mau, đồng bào Khmer duy trì nghi thức tu tập theo truyền thống. Chùa là trung tâm sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng cộng đồng. Phật giáo Nam Tông Khmer có vai trò quan trọng trong đời sống người Khmer. Tôn giáo này bảo tồn tiếng nói, chữ viết, phong tục tập quán dân tộc. Đặc điểm nổi bật là sự gắn kết giữa tôn giáo và văn hóa dân tộc. Hoạt động tôn giáo diễn ra thường xuyên tại các chùa trên địa bàn tỉnh.

1.2. Cơ sở pháp lý quản lý nhà nước về Phật giáo Nam Tông Khmer

Hiến pháp năm 2013 quy định quyền tự do tín ngưỡng tại Điều 24. Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 là văn bản pháp luật chủ đạo. Nghị định 162/2017/NĐ-CP hướng dẫn thi hành chi tiết Luật. Các quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành kế hoạch triển khai. Tỉnh Cà Mau ban hành kế hoạch thực hiện tại địa phương. Nghị quyết Trung ương 7 Khóa IX về công tác tôn giáo. Kế hoạch số 22-KH/TU ngày 28/6/2007 của Tỉnh ủy Cà Mau. Hệ thống pháp luật đảm bảo cơ sở quản lý thống nhất, hiệu quả.

II. Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về Phật giáo Nam Tông Khmer tại Cà Mau

Thực trạng quản lý nhà nước về Phật giáo Nam Tông Khmer tại Cà Mau có nhiều kết quả tích cực. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được triển khai thường xuyên. UBND tỉnh phối hợp các cơ quan ban ngành, đoàn thể thực hiện hiệu quả. Tuy nhiên, một số hạn chế vẫn tồn tại trong quá trình thực hiện. Năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo chưa đồng đều. Công tác thanh tra, kiểm tra việc thi hành pháp luật còn bất cập. Một số địa phương chưa quan tâm đúng mức đến đời sống tín ngưỡng. Kinh phí đầu tư cho hoạt động tôn giáo còn hạn hẹp. Quan hệ quốc tế trong lĩnh vực tôn giáo cần được mở rộng hơn. Việc bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống gắn với Phật giáo chưa đạt kỳ vọng. Cần đánh giá toàn diện để đề xuất giải pháp phù hợp.

2.1. Kết quả đạt được trong quản lý nhà nước về Phật giáo Nam Tông Khmer

Tỉnh Cà Mau đã thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật. Các chương trình bồi dưỡng kiến thức pháp luật được tổ chức định kỳ. Chức sắc, nhà tu hành, tín đồ nắm bắt kịp thời chủ trương chính sách. Đời sống văn hóa của đồng bào tín đồ được nâng lên. Công tác thanh tra, kiểm tra được triển khai theo kế hoạch. Nghị định 92/2012/NĐ-CP được thực hiện nghiêm túc. Quan hệ quốc tế trong lĩnh vực tín ngưỡng tôn giáo phát triển. Phật giáo Nam Tông Khmer phát huy giá trị tích cực trong xây dựng khối đoàn kết.

2.2. Hạn chế và thách thức trong quản lý nhà nước về Phật giáo Nam Tông Khmer

Năng lực chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ quản lý tôn giáo chưa đáp ứng yêu cầu. Kỹ năng công tác và kinh nghiệm giải quyết vụ việc tôn giáo còn hạn chế. Công tác bồi dưỡng bắt buộc hàng năm chưa được tổ chức đầy đủ. Thanh tra chuyên ngành về tín ngưỡng, tôn giáo gặp nhiều khó khăn. Xử lý vi phạm pháp luật về tôn giáo chưa nghiêm minh. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện trong lĩnh vực tôn giáo phức tạp. Kinh phí và nguồn lực phục vụ quản lý nhà nước còn thiếu. Việc bảo tồn văn hóa truyền thống gắn với tôn giáo cần sự quan tâm hơn.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về Phật giáo Nam Tông Khmer tại Cà Mau

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về Phật giáo Nam Tông Khmer đòi hỏi nhiều giải pháp đồng bộ. Trước hết, cần hoàn thiện hệ thống pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành trong quản lý tôn giáo tại địa phương. Đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo cần được đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên. Chế độ bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu về kiến thức, kỹ năng chuyên ngành phải được thực hiện. Nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng công tác cho cán bộ. Công tác thanh tra, kiểm tra cần được tăng cường và nâng cao chất lượng. Giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật kịp thời, công bằng. Mở rộng quan hệ quốc tế trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong giám sát.

3.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế quản lý tôn giáo

Cần rà soát, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo 2016. Xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra theo Nghị định 92/2012/NĐ-CP. Nâng cao chất lượng ban hành văn bản quy định chi tiết tại địa phương. Đảm bảo áp dụng pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo thống nhất, nghiêm túc. Tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật trong lĩnh vực tôn giáo. Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cấp, các ngành trong quản lý tôn giáo.

3.2. Nâng cao năng lực đội ngũ và bảo tồn văn hóa truyền thống

Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên trách làm công tác tôn giáo tại địa phương. Thực hiện chế độ bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu hàng năm cho cán bộ quản lý. Nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng công tác, kinh nghiệm thực tiễn. Phát huy vai trò của chức sắc, nhà tu hành trong tuyên truyền pháp luật. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Khmer. Đời sống văn hóa của đồng bào tín đồ Phật giáo Nam Tông Khmer cần được nâng lên. Gắn kết hoạt động tôn giáo với phát triển kinh tế, xã hội địa phương.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn quản lý Phật giáo Nam Tông Khmer tại Cà Mau

Quản lý nhà nước về Phật giáo Nam Tông Khmer tại Cà Mau là nhiệm vụ quan trọng. Hoạt động này góp phần bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của công dân. Quản lý hiệu quả giúp phát huy giá trị tích cực của tôn giáo. Phật giáo Nam Tông Khmer đóng góp vào sự phát triển kinh tế, xã hội tỉnh Cà Mau. Kết quả nghiên cứu từ thực tiễn tỉnh Cà Mau có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Các giải pháp đề xuất hướng đến nâng cao chất lượng quản lý nhà nước. Hoàn thiện hệ thống pháp luật là nền tảng cho quản lý hiệu quả. Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ là yếu tố then chốt. Bảo tồn văn hóa truyền thống gắn với phát triển bền vững. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc là mục tiêu cuối cùng. Kinh nghiệm từ Cà Mau có thể áp dụng cho các địa phương khác.

4.1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu cung cấp cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với tôn giáo. Phân tích thực trạng quản lý Phật giáo Nam Tông Khmer tại Cà Mau. Đánh giá kết quả đạt được và chỉ ra hạn chế tồn tại. Đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống quản lý nhà nước. Kinh nghiệm từ Cà Mau có giá trị tham chiếu cho các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu góp phần hoàn thiện chính sách pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Đáp ứng yêu cầu phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

4.2. Hướng phát triển và ứng dụng trong thực tiễn

Áp dụng mô hình quản lý hiệu quả từ Cà Mau cho các địa phương khác. Xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý tôn giáo chuyên nghiệp. Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Phát triển du lịch tâm linh gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống. Sử dụng công nghệ thông tin trong tuyên truyền, phổ biến pháp luật. Đẩy mạnh vai trò của cộng đồng trong quản lý hoạt động tôn giáo. Đảm bảo sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo tồn giá trị văn hóa.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước về phật giáo nam tông khmer từ thực tiễn tỉnh cà mau

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm Phật giáo, Phật giáo Nam tông Khmer Phật giáo ra đời từ thế kỷ thứ VI trước công nguyên tại một vùng đất thuộc phía Bắc Ấn Độ (nay thuộc lãnh thổ Nêpan) người sáng lập ra là Thái tử Tất-Đạt-Đa (Buddha) của Vương quốc dòng họ Thích Ca (Sakya), pháp hiệu là Thích Ca Mâu Ni, có nghĩa là “người giác ngộ” sau nhiều năm tu khổ hạnh để tìm ra chân lí làm thế nào để con người thoát khỏi cạnh luân hồi “khổ - đau – sinh – tử” và từ đó, ngài đã đắc đạo chánh quả, tự mình tìm ra được con đường giải thoát vòng sinh tử luân hồi hướng đến niết bàn. Sau 45 năm hành đạo, quá độ chúng sanh đã có nhiều lời dạy của đức Phật được thế hệ đệ tử là Tăng, Ni đã ghi chép thành Kinh Tạng (Suttanta-pitaka), Luật Tạng (Vinaya-pitaka) dành cho giới tu sĩ và Phật tử, từ đó các vị đệ tử đã truyền đạo theo chân đức Phật mở rộng phạm vi các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Khái niệm về PGNT Khmer: Phật giáo được chia thành hai hệ phái lớn trong đó là hệ phái Phật giáo Nguyên thủy (Theravada hay thường gọi là Nam truyền hoặc là Nam tông), và hệ phái Đại thừa (Mahayana hay thường gọi là Bắc tông). Phật giáo Nam tông đã có mặt rất sớm ở Việt Nam từ khoảng thế kỷ IV trên vùng đất ĐBSCL, theo con đường của các nhà truyền giáo từ Ấn Độ đi qua con đường biển tới Srilanka, Mianma, Thái Lan tới vùng Mê Kông Campuchia và vào các tỉnh phía Nam của Việt Nam, được đông đảo quần chúng người dân 9 đồng tình đón nhận, đặc biệt là đồng bào dân tộc Khmer, đã trở thành tôn giáo chính thống của người Khmer, nên thường gọi là “PGNT Khmer” [40, tr 50]. Tính đến thời điểm này thì ngôi chùa PGNT Khmer đã có 462 chùa và trên 8. Được tập trung ở các tỉnh Cà Mau, Kiên Giang, An Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Hậu Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long và một số tỉnh vùng Đông Nam Bộ [36].

PGNT Khmer cũng là một tôn giáo của đạo Phật Thích Ca Mâu Ni, triết lý, giáo lý hành thiện tránh xa cái ác, cơ bản đều giống nhau với hệ phái khác trong đạo Phật, tất cả đệ tử Phật đều hướng đến con đường Chân – Thiện – Mỹ, để giải thoát hận thù, để gieo trồng hạnh phúc… PGNT Khmer nói riêng và Phật giáo Bắc tông nói chung, chỉ khác nhau về hệ phái trong đạo Phật, về giới luật, cách hành đạo, y phục và sự gắn kết khi Phật giáo hòa nhập vào từng vùng, miền, từng sắc tộc trên lãnh thổ Việt Nam để tu hành và việc xây dựng chùa, tịnh xá phụ thuộc vào lối kiến trúc của dân tộc đó mà thôi. PGNT Khmer gắn liền tập quán truyền thống của người Khmer vùng ĐBSCL, mang đậm nét văn hóa của các nước Đông Nam Á, đặc biệt là văn hóa nước Campuchia, là một hệ phái được thống nhất các chùa Khmer ở địa phương và các tỉnh Đông Nam bộ, nên thường gọi là “PGNT Khmer” đến ngày nay. Đặc biệt dân tộc Khmer luôn xem trọng chùa PGNT Khmer là nơi hoạt động văn hóa tâm linh. Song ngôi chùa Khmer cũng là nơi để các nhà sư tu hành, thờ Phật mà còn là nơi trung tâm sinh hoạt văn hóa, thông qua các lễ hội truyền thống, các buổi nhà sư thuyết giảng giáo lý và nghi thức truyền thống mang đậm nét Phật giáo Nam truyền của người Khmer như: lễ Phật Đản, lễ Dâng Y 10 Kathina, lễ nhập hạ và gắn liền lễ hội truyền thống của dân tộc Khmer, tết Chôl Chnăm Thmây (tết nguyên đán), lễ Sen Đôlta (cúng ông bà hoặc gọi là lễ Vu Lan), lễ Ócc om bok (cúng trăng).

Tất cả các lễ hội này đều gắn liền với các nghi thức của tôn giáo, trong ngày lễ người dân đều tập trung tại chùa tụng niệm cầu phúc và nghe nhà sư thuyết giảng, cầu mong cho quốc thái dân an. Người Khmer quan điểm rằng; “khi sống chùa là nơi gởi thân, khi chết chùa là nơi gởi cốt”, từ khi lọt lòng mẹ cho đến ngày nhắm mắt, hình ảnh của ngôi chùa đượm mãi trong tâm hồn của mỗi người Khmer. Khái niệm quản lý nhà nước, quản lý Nhà nước đối với Phật giáo Nam tông Khmer QLNN là hoạt động quản lý xuất hiện từ lâu và bao gồm nhiều loại, trong đó quản lý xã hội là một dạng quản lý đặc biệt. Quản lý xã hội được đặt ra từ khi lao động của con người bắt đầu được xã hội hóa, quản lý xã hội là tác động có ý thức để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người phù hợp với ý chí của chủ thể quản lý và quy luật khách quan.

Có thể hiểu QLNN là dạng quản lý xã hội của Nhà nước, sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quá trình quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người do tất cả cơ quan Nhà nước tiến hành để thực hiện các chức năng của Nhà nước đối với xã hội. Như vậy, QLNN là dạng quản lý xã hội mang quyền lực Nhà nước với chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của cơ quan trong hệ thống hành pháp. Theo đó, QLNN về tôn giáo là một dạng quản lý xã hội đặc biệt của Nhà nước, mang tính quyền lực Nhà nước và sử dụng chính sách pháp luật tôn giáo để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên lĩnh vực của đời 11 sống kính tế, xã hội do cơ quan Nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, đảm bảo quyền tự do tôn giáo, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. Từ các khái niệm như đã trình bày ở phần trên, ta có thể đưa ra khái niệm về QLNN đối với tôn giáo nói chung cũng như PGNT Khmer nói riêng đều hoạt động trên cơ sở tôn giáo như nhau và được chia thành hai nghĩa: Theo nghĩa rộng: là quá trình dùng quyền lực Nhà nước (quyền Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp) của các cơ quan Nhà nước theo quy định của pháp luật để tác động, điều chỉnh hướng các quá trình PGNT Khmer và hành vi hoạt động PGNT Khmer của tổ chức, cá nhân và tổ chức thực hiện pháp luật của cơ quan trong hệ thống pháp luật để điều chỉnh các quá trình PGNT Khmer và mọi hành vi hoạt động PGNT Khmer diễn ra theo quy định của pháp luật.

Theo nghĩa hẹp: QLNN đối với PGNT Khmer là một dạng quản lý xã hội mang tính chất Nhà nước, chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp để điều chỉnh các quá trình tôn giáo và mọi hành vi hoạt động PGNT Khmer của tổ chức, cá nhân trong PGNT Khmer diễn ra theo quy định của pháp luật [25]. Như vậy, QLNN về PGNT Khmer có thể hiểu, các hoạt động tôn giáo đều chấp hành theo pháp luật, từ các tổ chức tôn giáo tập hợp những người cùng tin theo một hệ phái giáo lí, giáo luật, nghi lễ và tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận, việc truyền bá, thực hành giáo lí, giáo luật, nghi lễ, quản lý tổ chức tôn giáo. Có thể thấy, QLNN về hoạt động PGNT Khmer là một hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền thuộc Nhà nước quản lý nhằm bảo 12 đảm quyền tự do TNTG và quyền tự do theo hoặc không theo TNTG của nhân dân, hướng các hoạt động PGNT Khmer phục vụ lợi ích chính đáng vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam. Đặc điểm, vai trò của quản lý Nhà nước đối với Phật giáo Nam tông Khmer 1.

Đặc điểm quản lý Nhà nước đối với Phật giáo Nam tông Khmer PGNT Khmer là một tín ngưỡng truyền thống, có tính đặc trưng văn hóa, phong tục tập quán riêng, nên ngôi chùa PGNT Khmer cũng là nơi thờ tự, thờ cúng ông bà tổ tiên, cũng là nơi tập trung sinh hoạt tôn giáo của nhân dân. Vì vậy, việc QLNN về PGNT Khmer thể hiện qua những đặc điểm sau: - Đặc điểm về chủ thể quản lý: chủ thể chính đó là chức năng QLNN đối với hoạt động PGNT Khmer do cơ quan có thẩm quyền, đặc biệt là các cơ quan Nhà nước thuộc hệ thống hành pháp như: cấp trung ương có Ban tôn giáo Chính phủ, thuộc Bộ Nội vụ, cấp tỉnh được giao cho Ban tôn giáo, thuộc sở Nội vụ, cấp huyện, thành phố thuộc phòng nội vụ phân công hai đồng chí QLNN về tôn giáo, cấp xã được giao cho phó chủ tịch xã quản lý xã hội và kiêm quản lý tôn giáo. Ngoài ra, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức khác được Nhà nước trao quyền quản lý trong khu vực nhất định như; Mặt trận tổ quốc (MTTQ) các cấp để hoạt động một số tổ chức xã hội… - Đặc điểm về khách thể quản lý: là những người đang theo một tổ chức tôn giáo như: chức sắc, nhà tu hành và tín đồ PGNT Khmer. - Đặc điểm về phương pháp quản lý: phương pháp QLNN đối với PGNT Khmer là phương pháp tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, vận động dân chúng.

13 - Đặc điểm đối tượng quản lý: về hoạt động tôn giáo bao gồm tín đồ, nhà tu hành, chức sắc và các tổ chức tôn giáo, là công dân Việt Nam, tín đồ, chức sắc, nhà tu hành tôn giáo vừa mang những đặc điểm chung của người Việt Nam, đồng thời cũng có những nét đặc trưng riêng của người có đạo. - Đặc điểm của tín đồ PGNT Khmer: Tín đồ là những người tin theo PGNT Khmer và được tổ chức tôn giáo thừa nhận. Tín đồ là đồng bào dân tộc Khmer với số lượng theo PGNT Khmer khoảng 95% và được Nhà nước công nhận, tôn trọng và bảo đảm quyền quyền tự do tín ngưỡng của công dân, thực hiện nhu cầu sinh hoạt tôn giáo. Đây chính là đặc điểm quan trọng mà chủ thể QLNN đối với PGNT Khmer.

Ở vùng Nam bộ đại đa số đồng bào tín đồ PGNT Khmer điều là nông dân và nhân dân lao động, bản chất của người nông dân vốn dị là những con người cần cù lao động, có lòng yêu nước nồng nàn, căm thù giặc ngoại xâm và bọn bóc lột nhân dân. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhà sư và tín đồ người Khmer đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng vĩ đại của dân tộc, đồng bào có đạo luôn gắn bó với cách mạng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ