Tổng quan nghiên cứu

Quản lý nhà nước về tôn giáo giữ vai trò cốt lõi trong việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và duy trì an ninh chính trị tại vùng cực Nam của Tổ quốc. Tỉnh Cà Mau có diện tích tự nhiên 5.294,87 km², phân bố trên 9 đơn vị hành chính cấp huyện gồm 8 huyện và 1 thành phố với 101 xã, phường, thị trấn. Dân số toàn tỉnh đạt hơn 1,2 triệu người, quy tụ 13 dân tộc cùng 6 tôn giáo lớn cùng chung sống, trong đó đồng bào dân tộc Khmer chiếm dân số đông thứ hai với gần 40.000 tín đồ Phật giáo Nam tông Khmer, chiếm tỷ lệ khoảng 95% tổng số người Khmer tại địa phương.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ tính chất đặc thù của Phật giáo Nam tông Khmer khi toàn tỉnh hiện có 7 ngôi chùa và 10 Salatel đang hoạt động. Sự đan xen giữa thiết chế giáo luật truyền thống, luật tục phum sóc và các quy định hành chính nhà nước đang đặt ra nhiều thách thức mới. Tình trạng bổ nhiệm trụ trì nội bộ thiếu đồng thuận, các chuyến xuất cảnh tham gia lễ hội tôn giáo qua biên giới chưa đúng quy định và năng lực của đội ngũ cán bộ chuyên trách còn hạn chế đã tác động trực tiếp đến hiệu quả quản trị công.

Mục tiêu của nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ hệ thống lý luận, đánh giá khách quan thực trạng quản lý nhà nước đối với Phật giáo Nam tông Khmer tại Cà Mau trong giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2020. Nghiên cứu xác lập các luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế thực thi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, hướng tới mục tiêu 100% cơ sở tôn giáo hoạt động chuẩn hóa theo pháp luật, đồng thời nâng tỷ lệ cán bộ cơ sở am hiểu phong tục Khmer lên trên 85% trong giai đoạn tới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo, kết hợp cùng lý thuyết hành chính công hiện đại về quản lý nhà nước đối với các tổ chức xã hội đặc thù. Đồng thời, luận văn tích hợp lý thuyết xã hội học tôn giáo của Talcott Parsons nhằm phân tích mối quan hệ tương hỗ giữa chuẩn mực văn hóa, niềm tin tâm linh và hành vi tuân thủ pháp luật của cộng đồng cư dân. Toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long hiện có 462 ngôi chùa với hơn 8.500 sư sãi, tạo nên một không gian văn hóa - tôn giáo thống nhất nhưng mang tính tự quản rất cao.

Các khái niệm nòng cốt được chuẩn hóa trong công trình gồm: Quản lý nhà nước về tôn giáo theo nghĩa hẹp là hoạt động chấp hành và điều hành của cơ quan hành chính nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng; Hệ phái Phật giáo Nam tông Khmer (Theravada) gắn liền với giáo lý Tam quy - Ngũ giới và triết lý Từ bi - Hỷ xả; Thiết chế Chùa và Salatel (nhà sinh hoạt văn hóa - tôn giáo cộng đồng); Chức sắc và Chức việc theo quy định của Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước và Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập toàn diện từ hệ thống văn bản pháp lý như Nghị quyết số 25-NQ/TW, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, Nghị định số 162/2017/NĐ-CP, cùng các báo cáo chuyên đề của Sở Nội vụ và Ban Dân tộc tỉnh Cà Mau giai đoạn 2003–2020.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu khảo sát toàn bộ 7/7 cơ sở chùa và 10/10 điểm Salatel trên địa bàn 3 huyện trọng điểm (Trần Văn Thời, Thới Bình, U Minh, Đầm Dơi) và thành phố Cà Mau. Tác giả đã tiến hành phỏng vấn sâu 35 chức sắc, nhà tu hành (trong đó có 2 Hòa thượng, 6 Đại đức) và thu thập phiếu khảo sát từ 101 cán bộ phụ trách công tác văn hóa - xã hội tại 101 xã, phường, thị trấn cùng 18 cán bộ chuyên trách cấp huyện.

Phương pháp phân tích luật học so sánh kết hợp tổng hợp thống kê định lượng và phân tích định tính được lựa chọn làm phương pháp chủ đạo. Việc kết hợp này giúp giải mã chính xác mối tương quan giữa sự biến động của hệ thống quy phạm pháp luật và thực tiễn sinh hoạt tôn giáo tại địa bàn nông thôn Tây Nam Bộ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, thiết chế sinh hoạt tôn giáo của Phật giáo Nam tông Khmer tại Cà Mau có sự mở rộng vượt bậc nhờ các chính sách dân tộc. Giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020, tỉnh đã phát triển từ 2 điểm Salatel ban đầu lên 10 Salatel phân bố tại các vùng sâu, phục vụ kịp thời nhu cầu tâm linh của hơn 40.000 tín đồ, tăng trưởng cơ sở sinh hoạt đạt mức 400%.

Thứ hai, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước cấp cơ sở bộc lộ sự mỏng manh và phụ thuộc hoàn toàn vào cơ chế kiêm nhiệm. Cơ quan chuyên môn cấp tỉnh thuộc Sở Nội vụ chỉ có 11 biên chế và 1 hợp đồng phụ trách toàn bộ 6 tôn giáo trên địa bàn. Tại cấp huyện, 18 cán bộ công chức thuộc 8 huyện và 1 thành phố đều thực hiện nhiệm vụ kiêm nhiệm; toàn bộ 101 cán bộ cấp xã phụ trách công tác tôn giáo đều là Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân kiêm nhiệm khối văn hóa - xã hội.

Thứ ba, việc bổ nhiệm và bãi nhiệm trụ trì chùa Khmer vẫn tồn tại độ trễ pháp lý khi các tranh chấp nội bộ phát sinh tại khoảng 15% số cơ sở, bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ giữa tập quán suy cử truyền thống của sư sãi với quy định phê chuẩn của Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước tỉnh.

Thứ tư, công tác kiểm soát hoạt động tôn giáo đối ngoại ghi nhận khoảng 5% đến 10% trường hợp sư sãi tự ý xuất cảnh tham gia các khóa học giáo lý và lễ hội truyền thống tại các nước láng giềng mà chưa hoàn tất thủ tục đăng ký theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm có thể được trực quan hóa qua biểu đồ cột thể hiện tốc độ gia tăng thiết chế Salatel giai đoạn 2016-2020 và bảng thống kê cơ cấu nhân sự kiêm nhiệm ở 101 xã, phường. Sự chênh lệch giữa quy mô tín đồ và số lượng công chức chuyên trách phản ánh rõ nguyên nhân sâu xa của những bất cập hành chính: cán bộ cơ sở thiếu thời gian đào tạo chuyên sâu về Phật học Nam tông và rào cản ngôn ngữ Khmer.

Khi so sánh với các nghiên cứu tương tự tại tỉnh Sóc Trăng hay Trà Vinh, Cà Mau có số lượng chùa ít hơn (7 chùa so với hàng chục chùa ở các tỉnh lân cận) nhưng địa bàn lại chia cắt bởi sông rạch, khiến mật độ quản lý bị phân tán. Do đó, việc chuyển đổi mô hình quản lý cứng nhắc sang hướng quản trị mềm dẻo, phát huy uy tín của các vị Hòa thượng và Ban Quản trị chùa là chìa khóa then chốt để duy trì ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện quy chế phối hợp liên ngành giữa Sở Nội vụ, Ban Tôn giáo, Ban Dân tộc và Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước tỉnh Cà Mau. Cơ quan chủ trì cần chuẩn hóa 100% quy trình phê duyệt bổ nhiệm trụ trì, giải quyết dứt điểm các vướng mắc đất đai tôn giáo tại 7 ngôi chùa hiện hữu trước năm 2023.

Thứ hai, đổi mới công tác bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ thực thi công vụ. Ủy ban nhân dân tỉnh cần phân bổ ngân sách mở định kỳ 02 lớp tập huấn chuyên sâu hàng năm, đặt mục tiêu đến năm 2025 có ít nhất 90% trong tổng số 101 công chức cấp xã và 18 cán bộ cấp huyện sử dụng được tiếng Khmer giao tiếp và nắm vững giáo luật Theravada.

Thứ ba, tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật thông qua hình thức trực quan hóa và ứng dụng công nghệ thông tin. Ban Tôn giáo tỉnh chủ trì biên soạn tài liệu song ngữ Việt - Khmer về Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và Nghị định số 162/2017/NĐ-CP, bảo đảm tiếp cận 100% các vị chức sắc, chức việc và trên 80% hộ tín đồ tại 10 điểm Salatel.

Thứ tư, đẩy mạnh xã hội hóa nguồn lực gắn với việc thực hiện Kế hoạch số 68/KH-UBND và Chỉ thị số 19-CT/TW. Các cấp chính quyền cần bảo đảm giải ngân đúng tiến độ 100% kinh phí hỗ trợ sửa chữa cơ sở thờ tự, tài trợ bảo tồn các lễ hội truyền thống như Chôl Chnăm Thmây, Sen Đôlta, Oóc Om Bóc, đồng thời kiểm soát chặt chẽ các hoạt động lợi dụng từ thiện để trục lợi hoặc truyền đạo trái phép.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cán bộ lãnh đạo và chuyên viên phụ trách công tác tôn giáo, dân tộc thuộc ngành Nội vụ, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và lực lượng an ninh các cấp tại vùng Tây Nam Bộ, ứng dụng làm cẩm nang giải quyết các điểm nóng và tranh chấp tôn giáo tại địa bàn.

Thứ hai, các vị chức sắc, chức việc, thành viên Ban Quản trị tại 7 chùa và 10 Salatel trên địa bàn Cà Mau, tham khảo để nâng cao kiến thức pháp luật hành chính, vận hành cơ sở thờ tự đúng pháp luật và hài hòa với nghi lễ truyền thống.

Thứ ba, giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, Tôn giáo học, Dân tộc học sử dụng làm tài liệu nghiên cứu chuyên khảo về mô hình quản lý nhà nước đối với tôn giáo mang tính biệt truyền.

Thứ tư, các cơ quan hoạch định chính sách chiến lược cấp trung ương như Ban Tôn giáo Chính phủ, Ủy ban Dân tộc trong việc tổng kết, sửa đổi bổ sung các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo cho địa bàn đặc thù biên giới biển.

Câu hỏi thường gặp

  1. Đặc điểm pháp lý nổi bật của Phật giáo Nam tông Khmer tại tỉnh Cà Mau là gì?
    Phật giáo Nam tông Khmer tại Cà Mau vừa là tôn giáo vừa là thiết chế văn hóa phum sóc gắn chặt với dân tộc tính. Toàn tỉnh có 7 chùa và 10 Salatel phục vụ gần 40.000 tín đồ, chiếm 95% đồng bào Khmer. Mọi sinh hoạt tôn giáo đều đặt dưới sự điều phối song song của Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước và Giáo hội Phật giáo Việt Nam theo quy định pháp luật.

  2. Thực trạng bộ máy quản lý nhà nước về tôn giáo tại Cà Mau hiện nay có hạn chế gì lớn nhất?
    Hạn chế lớn nhất là nhân sự mỏng và kiêm nhiệm 100% ở cơ sở. Toàn tỉnh chỉ có 11 biên chế chuyên trách tại Ban Tôn giáo cấp tỉnh, trong khi 18 cán bộ cấp huyện và 101 công chức cấp xã phụ trách văn hóa - xã hội đều phải kiêm nhiệm công tác tôn giáo, dẫn đến việc nắm bắt phong tục Khmer còn hạn chế.

  3. Mô hình Salatel tại Cà Mau có vai trò pháp lý và thực tiễn như thế nào?
    Salatel là nhà sinh hoạt văn hóa kết hợp tín ngưỡng, giúp giải quyết nhu cầu thờ tự cho đồng bào ở vùng sâu khi không có chùa. Theo Kế hoạch số 68/KH-UBND, Cà Mau đã phát triển 10 Salatel giai đoạn 2016–2020 dưới sự giám sát của Ủy ban nhân dân cấp xã, góp phần ổn định an ninh trật tự nông thôn.

  4. Nguyên nhân chính gây mâu thuẫn nội bộ trong việc bổ nhiệm trụ trì tại một số chùa Khmer là gì?
    Nguyên nhân chủ yếu do sự xung đột giữa tập quán truyền thống của phum sóc và thủ tục hành chính hiện hành. Một số chức việc lợi dụng danh nghĩa Ban Quản trị để can thiệp việc bổ nhiệm, trong khi khoảng 15% vụ việc phát sinh do chưa có sự đồng thuận giữa sư sãi và quy chuẩn của Giáo hội.

  5. Chính sách pháp luật trọng tâm nào đang trực tiếp điều chỉnh Phật giáo Nam tông Khmer tại Cà Mau?
    Hoạt động này chịu sự điều chỉnh trực tiếp của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, Nghị định số 162/2017/NĐ-CP, Chỉ thị số 19-CT/TW năm 2018 của Ban Bí thư và Kế hoạch số 68/KH-UBND của tỉnh Cà Mau về tăng cường công tác vùng đồng bào dân tộc Khmer.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thể chế pháp lý của quản lý nhà nước đối với Phật giáo Nam tông Khmer theo ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính.
  • Phân tích sâu sắc thực trạng quản lý tại 7 ngôi chùa, 10 Salatel với gần 40.000 tín đồ Khmer, nhận diện rõ những thành tựu và hạn chế trong giai đoạn 2003–2020.
  • Chỉ rõ điểm nghẽn tổ chức bộ máy kiêm nhiệm gồm 101 cán bộ cấp xã và 18 cán bộ cấp huyện, tạo tiền đề để tái cấu trúc nhân sự ngành Nội vụ địa phương.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược, đồng bộ từ hoàn thiện quy chế, đào tạo ngôn ngữ, phổ biến pháp luật đến bảo trợ văn hóa lễ hội.
  • Công trình đóng góp hệ luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc phục vụ công tác hoạch định chính sách dân tộc - tôn giáo tại vùng Tây Nam Bộ.

Lộ trình triển khai các giải pháp cần được cụ thể hóa trong giai đoạn 2021–2025, với trọng tâm là chuẩn hóa quy trình quản trị tại 100% cơ sở tôn giáo và tổ chức đào tạo tiếng Khmer cho đội ngũ công chức cấp xã. Các cơ quan quản lý nhà nước, nhà nghiên cứu và chức sắc tôn giáo hãy chủ động khai thác, ứng dụng các kết quả nghiên cứu của luận văn nhằm chung tay xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững mạnh, giữ vững an ninh chính trị và phát triển bền vững quê hương Cà Mau.