CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE BAO HỘ CÔNG DAN 1. Khai niệm bảo hộ công dan 1. Định nghĩa bảo hộ công dân Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Mỹ khang định: “Tá cả mọi người sinh ra đều có quyên bình đắng. Tạo hóa cho họ những quyên không ai có thể xâm phạm được; trong những quyên ay, có quyên được sống, quyên tự do và quyên mưu cầu hạnh phúc”.
Tiếp đó, Tuyên ngôn Nhân quyền va Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 ghi nhận: “Người ta sinh ra tự do và bình dang về quyên lợi và phải luôn luôn được tự do và bình dang về quyên lợi”. Day là hai tuyên ngôn nổi tiếng về nhân quyền, theo đó, tat cả mọi người đều có các quyên con người cơ bản như quyền được sống, quyền tự do và đều bình đăng với nhau và luôn được đảm bảo được hưởng những quyên này. Công dân của quốc gia là những người mang quốc tịch của quốc gia đó. Công dân của quốc gia được hưởng đầy đủ quyên và phải thực hiện các nghĩa vụ đối với nha nước theo quy định của pháp luật dù họ sinh sống ở bất kì đâu, trong hay ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia.
Quốc gia có quyền nhưng đồng thời cũng phải thực hiện nghĩa vụ đối với công dân đó là phải đảm bảo quyên và lợi ích của công dân trong mọi hoàn cảnh. Khi công dân đang ở trong phạm vi lãnh thé quốc gia thì những quyên lợi này được quốc gia đảm bảo bằng các hình thức khác nhau. Tuy nhiên, khi công dân sinh sống ở nước ngoài do một số nguyên nhân như: sự bất đồng về ngôn ngữ, sự khác biệt về văn hóa, sự thiếu hiểu biết về pháp luật nước sở tại. dan đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ có thé bị xâm hại bởi các cá nhân hoặc tổ chức của quốc gia sở tại.
Khi trường hợp này xảy ra, họ rất cần tới sự bảo vệ của quốc gia mà họ mang quốc tịch, quốc gia cần tiến hành các hoạt động nhằm ngăn chặn hành vi vi phạm nay, bảo vệ quyền lợi của công dân bị xâm hại. Những hoạt động này chính là hoạt động bảo hộ công dân theo nghĩa hẹp. Hiện nay chưa có một định nghĩa thống nhất về bảo hộ công dân được quy định trong các văn bản pháp lý quốc tế. Ngay trong pháp luật của các quốc gia, mặc dù có những quy định về bảo hộ công dân, tuy nhiên cũng chưa đưa ra định nghĩa bảo hộ công dân là gì.
Điều 1 Dự thảo các điều khoản về bảo hộ công dân (do Uy ban luật pháp quốc tế của Liên hiệp quốc soạn thảo) quy định: “ bảo hộ công dân bao gôm sự viện dẫn của một quốc gia, thông qua các hoạt động ngoại giao hoặc các phương thức hòa bình thực hiện trách nhiệm của quốc gia mình, do có một sự xâm hại được gây ra bởi một hành vi trái pháp luật quốc tế của một quốc gia khác tới một người hoặc một pháp nhân mang quốc tịch của quốc gia đó ”. Đây chưa phải là một định nghĩa đầy đủ và toàn diện về bảo hộ công dân, tuy nhiên nó đã đề cập được những đặc điểm nổi bật của bảo hộ công dân. Bảo hộ công dân cũng được dé cập trong một số bài viết, giáo trình trong nước, trong đó Giáo trình Luật quốc tế do Thạc sĩ Nguyễn Thị Kim Ngân và Thạc sĩ Chu Mạnh Hùng đồng chủ biên, bảo hộ công dân được hiểu là việc “quốc gia thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyên, tiễn hành các hoạt động nhằm bảo vệ các quyên và lợi ích của công dân nước mình ở nước ngoài khi các quyên và lợi ích này bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại ở nước ngoài đó” ”. Với cách hiểu này, các tác giả cũng mới chỉ tiếp cận bảo hộ công dân ở nghĩa hẹp, là các hoạt động thực tiễn mà quốc gia sẽ tiễn hành nhằm bảo vệ công dân nước mình ở nước ngoài khi các quyền và lợi ích chính đáng của họ bị xâm hại hoặc quốc gia có các bằng chứng xác định được các quyền và lợi ích của họ đang có nguy cơ bị xâm hại trên thực tế.
Ví dụ, trong thời gian qua, khi cuộc khủng hoảng chính trị xảy ra ở Ukraine, rất nhiều người nước ngoài sinh sống trên lãnh thổ quốc gia này bị xâm hại về quyền và lợi ích. Dù chưa có tin tức công dân Việt Nam bị thiệt hai do cuộc khủng hoảng này, tuy nhiên Đại sứ quan Việt Nam tại Ukraine vẫn kiến nghị các cơ quan chức năng trong nước đề ra phương án, đồng thời sẵn sàng chỉ đạo hướng giải quyết khi xảy ra tình huống nguy cấp cần bảo vệ công dân Việt Nam tai Ukraine. Ngoài ra, hoạt động bảo hộ công dân còn được hiểu theo nghĩa rộng, theo đó, “bdo hộ công dân không những là việc quốc gia can thiệp để bảo vệ các quyên và lợi ich của công dân nước minh ở nước ngoài khi các quyên và lợi ích này bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hai mà còn bao gôm cả các hoạt động giúp đỡ về mọi mặt mà quốc gia dành ? ThS Nguyễn Thị Kim Ngân — ThS Chu Mạnh Hùng (đồng chủ biên), Giáo trinh Luật Quốc té, Nxb. GDVN, Hà Nội, 2010, tr.
cho công dân của nước mình khi ở nước ngoài, kề cả trong trường hợp không có hành vi xâm hại nào tới công dân của nước này” ”. Theo cách hiểu nay, bảo hộ công dân không chỉ bao gồm các hoạt động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân ở nước ngoài mà còn bao gồm cả những hoạt động thực tế của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm giúp đỡ, hoặc trợ giúp công dân khi họ ở trong những hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Trong phạm vi luận văn, tác giả sẽ nghiên cứu bảo hộ công dan theo nghĩa rộng, tức là bảo hộ công dân với ý nghĩa là các hoạt động không chỉ nhăm bảo vệ quyên và lợi ích của công dân ở nước ngoài mà còn là các hoạt động nhằm giúp đỡ công dân ở nước ngoài khi họ gặp khó khăn. Đặc điểm của bảo hộ công dân Trên cơ sở định nghĩa về bảo hộ công dân nêu trên, có thể rút ra một số đặc điểm như sau: Thứ nhất, mục đích của hoạt động bảo hộ công dân không chỉ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của công dân ở nước ngoài khi quyền và lợi ích này bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại mà còn nhằm giúp đỡ, hỗ trợ công dân ở nước ngoài khi họ rơi vào hoàn cảnh khó khăn.
Dân cư của một quốc gia bao gồm công dân sở tại (người mang quốc tịch của quốc gia đó) và người nước ngoài (người không mang quốc tịch của quốc gia đó), trong đó công dân của quốc gia là bộ phận chiếm đa số. Quốc gia luôn có những chính sách để đảm bảo quyền và lợi ích của công dân mình dù công dân đó đang ở trong hay ngoài phạm vi lãnh thé quốc gia. Day là nghĩa vụ mà quốc gia phải thực hiện đối với công dân của mình. Tình trạng khủng hoảng về kinh tế, bất 6n về chính trị của một số quốc gia trên thé giới dan đến những cuộc bạo động, kéo theo đó những người nước ngoài tại quốc gia sở tại rat có thé bị xâm hại về quyên và lợi ích hợp pháp.
Khi những quyền và lợi ích của > ThS Nguyễn Thị Kim Ngân — ThS Chu Mạnh Hùng (đồng chủ biên), Giáo trinh Luật Quốc té, Nxb. GDVN, Hà Nội, 2010, tr. 10 công dân bị xâm hại ở nước ngoài thì quốc gia mà họ mang quốc tịch cần tiễn hành các biện pháp dé bảo vệ hoặc ngăn chặn dé hành vi vi phạm không tiếp tục xảy ra. Mục đích thứ hai của hoạt động bảo hộ công dân, chính là nhằm giúp đỡ các công dân khi họ ở trong tình trạng khó khăn, mặc dù không có hành vi xâm hại đến quyền và lợi ích của công dân.
Khi công dân rơi vào hoàn cảnh khó khăn như gặp thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh. cần có sự giúp đỡ thì quốc gia mà người đó mang quốc tịch sẽ tiến hành các biện pháp trợ giúp như hỗ trợ tiền hoặc hiện vật, bố trí chỗ ở tạm thời cho công dân. Thứ hai, dưới góc độ pháp luật quốc tế, bảo hộ công dân chính là một trong những biểu hiện của việc quốc gia thực hiện chủ quyền của mình đối với công dân. Chủ quyền là thuộc tính chính trị - pháp lý không thé tách rời của quốc gia.
Chủ quyền của quốc gia bao gồm chủ quyền đối với lãnh thổ và chủ quyền đối với công dân. Quốc gia thực hiện chủ quyền của mình đối với công dân thông qua việc ban cấp quốc tịch cho công dân, tiễn hành bảo hộ công dân ở nước ngoài. Quốc gia là chủ thể duy nhất có quyền ban cấp quốc tịch cho công dân và quốc tịch chính là cơ sở dé một quốc gia tiễn hành bảo hộ công dân. Về nguyên tắc, quốc gia chỉ bảo hộ đối với những cá nhân là công dân của mình.
Thứ ba, dưới góc độ pháp luật quốc gia, bảo hộ công dân là nghĩa vụ mà quốc gia phải thực hiện đối với công dân. Như đã phân tích ở trên, quốc tịch là cơ sở để các quốc gia tiễn hành bảo hộ công dân mà quốc tịch là mối quan hệ pháp lý hai chiều, thể hiện sự quy thuộc của một cá nhân về một nhà nước nhất định. Sự quy thuộc này đối với cá nhân sẽ đồng nghĩa với việc người đó nhận được các quyền lợi mà nhà nước và pháp luật nước này đảm bảo cho họ được thụ hưởng, đồng thời xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của nhà nước đó đối với việc bảo vệ quyền lợi cho cá nhân trong mối quan hệ với cộng đồng dân cư của quốc gia mà họ là công dân, cũng như trong quan hệ quốc tế mà người đó tham gia nhân danh chính cá nhân họ *' Như vậy, việc một quốc gia tiến hành bảo hộ công dân nhằm đảm bảo những quyền lợi của công dân nước đó chính là việc quốc gia đang thực hiện nghĩa vụ của mình đôi với công dân. * Trường Dai học Luật Hà Nội, TS.
Lê Mai Anh (chủ biên), Giáo trinh Luật Quốc tế, Nxb. 11 Thứ tw, nguồn luật điều chỉnh hoạt động bảo hộ công dân chính là những quy định trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Bảo hộ công dân không chỉ là nghĩa vụ mà quốc gia phải thực hiện với công dân mà đây còn là một hoạt động thuộc chủ quyền của quốc gia.