Chương 1 của Luận văn, các nội dung phòng vệ chính đáng cần so sánh giữa luật hình sự Việt Nam với các luật hình sự các nước gồm có các nội dung sau: - Thứ nhất, các điều kiện làm cơ sở phát sinh quyền phòng vệ chính đáng - Thứ hai, các điều kiện về nội dung và phạm vi của phòng vệ chính đáng - Thứ ba, vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và trách nhiệm hình sự do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng - Thứ tư, phòng vệ tưởng tượng và trách nhiệm hình sự trong trường hợp phòng vệ tưởng tượng Trên cơ sở đó, tác giả lần lượt so sánh từng nội dung của phòng vệ chính đáng theo quy định của BLHS năm 2015 với luật hình sự của các nước trên thế giới. So sánh các điều kiện làm cơ sở phát sinh phòng vệ chính đáng trong Luật hình sự Việt Nam với Luật hình sự một số quốc gia trên thế giới Về mặt lý luận, có ba điều kiện làm cơ sở phát sinh quyền phòng vệ, nghĩa là khi hội đủ ba điều kiện này thì quyền phòng vệ sẽ khởi phát: - Có sự tấn công nguy hiểm đáng kể và trái pháp luật. - Sự tấn công xâm phạm quyền hoặc lợi ích chính đáng của người bị tấn công, của người khác hoặc lợi ích của nhà nước, của cơ quan, tổ chức. - Sự tấn công phải đang hiện hữu nghĩa là hành vi tấn công phải đang xảy ra hoặc đe dọa xảy ra ngay tức khắc.14 Chúng ta lần lượt nghiên cứu từng điều kiện làm cơ sở phát sinh quyền phòng Trường Đại học Luật TP.HCM (2019), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam – Phần chung, Nxb.
Hồng Đức – 14 Hội Luật gia Việt Nam, tr. Hành vi tấn công nguy hiểm cho xã hội và trái pháp luật Về mặt lý luận, một người chỉ được thực hiện hành vi phòng vệ khi có sự tấn công nguy hiểm đáng kể và trái pháp luật. Sự tấn công đó có một số đặc điểm sau: - Một là, sự tấn công phải là hành vi của con người, được thể hiện qua một số hành vi như: đánh, đâm, chém, bắn… Trong thực tế thì có thể có nhiều nguồn nguy hiểm có thể gây ra thiệt hại cho xã hội như: Thiên tai, hạn hán, lũ lụt, thú dữ. Tuy nhiên, trong phòng vệ chính đáng thì nguồn nguy hiểm duy nhất đó chính là do hành vi tấn công của con người gây ra.
Người có hành vi tấn công chính là nguồn gây ra nguy hiểm trực tiếp trong phòng vệ chính đáng và chỉ có thể ngăn chặn và loại trừ nguồn nguy hiểm đó bằng cách gây thiệt hại cho chính bản thân người có hành vi tấn công. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi tấn công của con người đều làm phát sinh quyền phòng vệ mà quyền phòng vệ chỉ phát sinh khi sự tấn công đó có tính nguy hiểm đáng kể và trái pháp luật. - Hai là, sự tấn công phải mang tính nguy hiểm đáng kể. Một hành vi tấn công được coi là nguy hiểm đáng kể khi hành vi tấn công đó phải gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ ở mức độ đáng kể.
Nếu hành vi tấn công không nguy hiểm đáng kể cho xã hội thì hành vi đó không thể đặt các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ vào tình trạng bị thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại nên việc chống trả là không cần thiết, không làm phát sinh quyền phòng vệ chính đáng. - Ba là, hành vi tấn công phải là hành vi trái pháp luật. Do phòng vệ chính đáng cho phép công dân dùng vũ lực để chống trả lại các hành vi tấn công xâm phạm đến các lợi ích được Nhà nước bảo vệ nên việc phòng vệ chỉ có thể phát sinh khi hành vi tấn công là trái pháp luật, nghĩa là hành vi tấn công đó pháp luật không cho phép thực hiện. Nếu hành vi tấn công đó là hợp pháp như hành vi công an bắt tội phạm hay hành vi của công dân bắt giữ người phạm tội quả tang, người đang bị truy nã… thì không làm phát sinh quyền phòng vệ.
Điều kiện làm phát sinh quyền phòng vệ này được thể hiện trong luật hình sự của các nước là khác nhau: * BLHS Việt Nam năm 2015 20 Khoản 1 Điều 22 BLHS năm 2015 quy định: “Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên”. Trong quy định của BLHS Việt Nam không nêu cụ thể về tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật của hành vi tấn công. Tuy nhiên, trong thực tế áp dụng pháp luật hình sự về phòng vệ chính đáng được hướng dẫn về phòng vệ chính đáng tại Mục II Nghị quyết 02/1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì một trong những điều kiện để làm phát sinh quyền phòng vệ chính đáng là: “Hành vi xâm hại những lợi ích cần phải bảo vệ là hành vi phạm tội hoặc rõ ràng là có tính chất nguy hiểm cho xã hội”. Do đó, quyền phòng vệ chỉ phát sinh khi hành vi tấn công xâm hại đến các lợi ích cần bảo vệ mang tính nguy hiểm cao và bị coi là tội phạm.
Hoặc hành vi tấn công tuy không bị coi là tội phạm nhưng có tính chất nguy hiểm cho xã hội đáng kể, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ ở mức độ đáng kể. Nếu hành vi tấn công không có tính chất nguy hiểm đáng kể cho xã hội thì việc chống trả là không cần thiết, không làm phát sinh quyền phòng vệ chính đáng. Tuy nhiên, đây chỉ là văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật chứ không phải quy định của Bộ luật hình sự. Dấu hiệu tính trái pháp luật của hành vi tấn công được thể hiện ngầm trong cụm từ: chống trả lại một cách cần thiết “người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên” tức là chống trả lại “người đang có hành vi xâm phạm quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức”.
* BLHS Liên Bang Nga Khoản 1 Điều 37 BLHS Liên Bang Nga quy định: “Không phải là tội phạm khi gây thiệt hại trong trạng thái phòng vệ chính đáng trước người có hành vi nguy hiểm, xâm hại đến cá nhân, đến quyền và lợi ích hợp pháp của người phòng vệ hoặc những người khác, của xã hội hoặc Nhà nước, nếu sự xâm hại này sử dụng vũ lực hoặc trực tiếp đe dọa dùng vũ lực gây nguy hiểm cho tính mạng người phòng vệ hoặc người khác”. Như vậy, quy định của BLHS Liên Bang Nga về phòng vệ chính đáng đã nêu 21 rõ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi tấn công khi xác định điều kiện để làm phát sinh quyền phòng vệ là người tấn công phải có “hành vi nguy hiểm, xâm hại đến cá nhân,…”. Đồng thời, biểu hiện của sự xâm hại phải là hành vi “sử dụng vũ lực” hoặc hành vi “trực tiếp đe dọa dùng vũ lực gây nguy hiểm cho tính mạng người phòng vệ hoặc người khác”. Cách thể hiện này, cần được tham khảo để hoàn thiện hơn quy định của BLHS Việt Nam về điều kiện: Hành vi tấn công nguy hiểm đáng kể cho xã hội.
Tính trái pháp luật của hành vi tấn công cũng được thể hiện ngầm thông qua cụm từ:“xâm hại đến cá nhân, đến quyền và lợi ích hợp pháp của người phòng vệ hoặc những người khác, của xã hội hoặc Nhà nước” * BLHS Trung Quốc Liên quan đến điều kiện phát sinh quyền phòng vệ chính đáng, Điều 20 BLHS Trung Quốc quy định như sau: “Người thực hiện hành vi phòng vệ chính đáng nhằm ngăn chặn hành vi bất hợp pháp xâm hại các lợi ích của Nhà nước, xã hội, các quyền nhân thân, tài sản và các quyền khác của mình hoặc của người khác, gây thiệt hại cho người có hành vi xâm hại bất hợp pháp, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự”. Có thể nhận thấy quy định về phòng vệ chính đáng trong Điều 20 BLHS Trung Quốc đã nêu rõ tính trái pháp luật của hành vi tấn công khi xác định việc phòng vệ chính đáng là nhằm ngăn chặn “hành vi xâm hại bất hợp pháp” của người tấn công. Tính nguy hiểm của hành vi tấn công được thể hiện ở cụm từ: “xâm hại các lợi ích của Nhà nước, xã hội, các quyền nhân thân, tài sản và các quyền khác của mình hoặc của người khác”. * BLHS Liên Bang Đức Khoản 2 Điều 32 BLHS Liên Bang Đức quy định về khái niệm phòng vệ khẩn cấp, tương ứng với chế định phòng vệ chính đáng trong pháp luật hình sự Việt Nam.
Theo đó, phòng vệ khẩn cấp là: “Sự tự vệ cần thiết để ngăn chặn một sự tấn công hiện hữu, trái pháp luật chống lại mình hoặc người khác”. Theo đó, một trong những điều kiện làm phát sinh quyền phòng vệ khẩn cấp là phải có hành vi tấn công trái pháp luật xảy ra và người phòng vệ thực hiện sự tự vệ cần thiết để ngăn 22 chặn sự tấn công này. * BLHS Nhật Bản BLHS Nhật Bản cũng có quy định về chế định Tự vệ, tương ứng với chế định phòng vệ chính đáng theo BLHS Việt Nam và một số quốc gia khác. Theo quy định tại khoản 1 Điều 36 BLHS Nhật Bản thì: “Một hành vi được thực hiện một cách cần thiết (không tránh khỏi việc thực hiện) để chống lại sự vi phạm pháp luật nguy hiểm nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích của mình hoặc của người khác thì không bị xử phạt”.
Như vậy, điều kiện để làm phát sinh quyền phòng vệ đã được quy định cụ thể, theo đó hành vi phòng vệ nhằm chống lại “sự vi phạm pháp luật nguy hiểm” từ người tấn công. Điều này thể hiện rõ tính nguy hiểm cho xã hội cũng như tính trái pháp luật mà người tấn công đã thực hiện. * BLHS Singapore Theo quy định tại Điều 98 BLHS Singapore thì: “Khi các mối nguy hiểm xâm phạm thân thể hoặc tài sản của một người từ những người không có năng lực chịu trách nhiệm hình sự (do chưa đủ tuổi hoặc do bị tâm thần) thì người bị xâm phạm vẫn hưởng quyền phòng vệ giống như trong các trường hợp thông thường khác”.