Chương I Hiến pháp. Hơn thế nữa, tại rất nhiều chương điều khác, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân cũng hiện diện trong nội dung chức năng và nhiệm vụ của các thiết chế Nhà nước như Quốc hội (Điều 70, khoản 14); Chính phủ (Điều 96, khoản 6); Tòa án nhân dân (Điều 102, khoản 3); Viện kiểm sát nhân dân (Điều 107, khoản 3),. Đây là những nội dung hoàn toàn mới so với Hiến pháp năm 1992 khi Hiến pháp 2013 trao những chức năng, nhiệm vụ cho các thiết chế, QLNN tương ứng. Con người và quyền con người là giá trị quan trọng và trở thành đối tượng ưu tiên bảo hộ của pháp luật trong tổ chức và hoạt động của nhà nước Việt Nam.
Bảo đảm quan trọng cho việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân, lá chắn quan trọng và vững chắc nhất đối với quyền con người, quyền công dân nhằm phòng ngừa và ngăn chặn những vi phạm từ phía các cơ quan nhà nước là việc thừa nhận và ghi nhận nguyên tắc suy đoán vô tội - theo đó bị can, bị cáo được coi là vô tội, không phải chịu trách nhiệm hình sự (TNHS) khi lỗi của người đó chưa được chứng minh theo trình tự, thủ tục luật quy định và chưa có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật. Đây là nguyên tắc “kinh điển” nhất của Tố tụng hình sự được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế quan trọng như Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948- Universal Declaration of Human Rights: UDHR [30, Điều 11, Khoản 1]; Công ước của Liên hợp quốc về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 - International Covenant on Civil and Political Rights: ICCPR [27, Điều 14, Khoản 2]. Đặc biệt bản Tuyên ngôn nêu trên đã coi nguyên tắc này là “phẩm giá của văn minh nhân loại”. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Suy đoán theo gốc Latinh “Praesumptino” có nghĩa là giả định thể hiện ở yêu cầu: bị can, bị cáo phải được coi là vô tội khi mà lỗi của bị can, bị cáo đó chưa được chứng minh theo một trình tự do pháp luật quy định và được xác định bởi một bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Yêu cầu này được Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” [13, Điều 31, Khoản 1]. Đặt ra yêu cầu này, Hiến pháp đã tạo ra sự an toàn pháp lý cho công dân trong cuộc sống và hoạt động của họ. Yêu cầu đặt ra trong nguyên tắc này hoàn toàn phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966. Theo đó, “Mọi người đều có quyền hưởng tự do và an ninh cá nhân.
Không ai bị bắt hoặc giam giữ vô cớ. Không một ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp có lý do và phải theo đúng thủ tục mà luật pháp đã quy định - recognises the rights to liberty and security of the person. It prohibits arbitrary arrest and detention, requires any deprivation of liberty to be according to law, and obliges parties to allow those deprived of their liberty to challenge their imprisonment through the courts” [27, Điều 9, Khoản 1] và: “Người bị cáo buộc là phạm tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi hành vi phạm tội của người đó được chứng minh theo pháp luật - Everyone charged with a criminal offence shall have the right to be presumed innocent until proved guilty according to law” [27, Điều 14, Khoản 2]. Nội dung này là biểu hiện cụ thể của nguyên tắc pháp chế nhưng nhấn mạnh yêu cầu về mặt thủ tục pháp lý, là dấu hiệu quan trọng nhất của chế độ pháp quyền, theo đó thủ tục công khai, minh bạch là đòi hỏi số một cho việc bảo vệ quyền con người chống lại sự truy tố tùy tiện.
Thực hiện Chiến lược CCCTP với quan điểm xuyên suốt và nhất quán của Đảng và Nhà Việt Nam về sứ mệnh và vị trí của các cơ quan tư pháp 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong NNPQ XHCN, Hiến pháp năm 2013 đã tạo ra những cơ sở pháp lý mới cao nhất về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp. Hiến pháp năm 2013 đã quy định nội dung của nguyên tắc mới về quyền của người bị buộc tội được tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai - một nội dung quan trọng của quyền tiếp cận công lý của công dân. Cùng với việc xác định TAND là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp, sứ mệnh của TAND được xác định là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Đây là những điểm mới có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử lập hiến Việt Nam, khẳng định những nguyên tắc của một nền tư pháp hiện đại như: Nguyên tắc hai cấp xét xử để bảo đảm thúc đẩy quyền của người bị buộc tội được yêu cầu xem xét lại bản án; Nguyên tắc về quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự; nguyên tắc về sự tham gia xét xử của HTND.
Đây là những nguyên tắc phản ánh tính dân chủ và đề cao quyền tiếp cận công lý của người dân. Hiến pháp năm 2013 đã làm đậm nét tính pháp quyền của nền tư pháp nước ta. Thực tiễn tố tụng hình sự (TTHS) ở Việt Nam những năm gần đây đang đối diện với một số vấn đề lớn mà trước hết là vấn đề tiếp cận công lý, vấn đề oan, sai trong các vụ án hình sự. Theo nhận định chung của các chuyên gia cũng như của các cơ quan tư pháp thì các bảo đảm để có thể giải quyết tích cực các vấn đề này trước hết nằm trong việc nhìn nhận lại tính chất và đặc trưng của tố tụng hình sự cũng như sự hoàn chỉnh và đầy đủ các quy định của pháp luật mà trung tâm là pháp luật TTHS.
Cuộc CCTP ở Việt Nam đã được phát động từ năm 2005 từ Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2.2005 của Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ương (BCHTW) Đảng CSVN “Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” và đã gặt hái được những kết quả nhất định về nhận thức và về tổ chức thực hiện. Tuy vậy, pháp luật TTHS, trải qua 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com những lần sửa đổi, bổ sung cần thiết, vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế, trong số đó có các vấn đề về những cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ quyền và lợi ích của người bị buộc tội. Từ những chủ trương đúng đắn của chính sách hình sự và cải cách tư pháp hình sự cho đến thực tiễn TTHS vẫn còn một khoảng cách lớn, trước hết là các vấn đề về chủ trương áp dụng rộng rãi việc tranh tụng tại phiên hòa xét xử hình sự, chủ trương tạo đầy đủ các điều kiện cho bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa; bảo đảm tính dân chủ, công khai và giám sát các hoạt động tố tụng, tăng cường trách nhiệm trong việc đó từ phía các cơ quan tố tụng. Vấn đề bảo đảm quyền con người trong TTHS có thể được coi là trục xoay của toàn bộ các hoạt động TTHS.
Sở dĩ như vậy là vì TTHS phản ánh những mối liên hệ đa chiều và mang trong mình nó nhiều nghịch lý của các mối liên hệ. TTHS của bất kỳ quốc gia và hệ thống pháp lý nào cũng đều phải thực hiện cùng một lúc hai nhiệm vụ: vừa phải xác định cho được sự thật của vụ án, bảo đảm để công lý được thực thi, nhưng lại vừa phải làm thế nào để trên con đường đi tìm sự thật và công lý thì quyền của tất cả những ai có liên quan đều phải được tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ. Chính vì vậy, mặc dù không thể coi nhẹ việc bảo đảm quyền con người, mà trước hết là danh dự nhân phẩm, tính mạng và tài sản của tất cả các bên và những con người trong quá trình tiến hành TTHS, tâm điểm chú ý của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, của CCTP vẫn là việc bảo đảm quyền con người đối với “phía” người bị buộc tội tại tất cả các giai đoạn của TTHS, tức là bảo đảm để bảo vệ các quyền do sự cáo buộc phạm tội có thể gây ra. Trong lịch sử của tư pháp hình sự, TTHS ra đời với tính cách là một sự thỏa mãn nhu cầu của những người có liên quan về sự can thiệp của bên thứ ba: Nhà nước, các thiết chế tố tụng.
Đó là điều phổ quát đối với cả hai trường hợp: cả khi tố tụng được quan niệm như là con đường đi tìm sự thật khách 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quan của vụ án và trên cơ sở đó Tòa án ra phán quyết về kết cục của vụ án, cả trong trường hợp tố tụng được coi như một vụ kiện thông thường và nó sẽ dừng lại khi các bên tìm ra giải pháp chung, cùng thỏa mãn với giải pháp đó. Trong cả hai trường hợp, sự hiện diện của “bên thứ ba công minh” - cơ quan điều tra, cơ quan công tố, Tòa án - đều là điểm hy vọng của cả hai phía, là chỗ dựa về tâm lý và pháp lý của họ. Xuyên suốt các yếu tố đó là tinh thần và đòi hỏi về công bằng, sự vô tư và khách quan. Mọi thứ chân lý, khi nó được hiểu là chân lý khách quan và cả khi nó là chân lý pháp lý; mọi lẽ công bằng, khi nó đạt được bằng nỗ lực tìm kiếm không mệt mỏi của cả hai phía và khi nó là yếu tố tâm lý sau sự thỏa thuận, sự cùng thỏa mãn như đã nêu ở trên, thì đều chỉ có thể được xác lập trên tinh thần công bằng, không có độc quyền chân lý vì thiếu công bằng thì con đường dẫn đến chân lý luôn luôn rất dài và mạo hiểm, độc quyền chân lý sẽ là mầm mống của một nửa chân lý hoặc đó là sự thật được ngụy tạo.
Nói khác đi, điều cần được quan tâm nhất là những đảm bảo để vừa đạt được sự thật, vừa để không được có cái không phải là sự thật. Với logic đó, các bảo đảm để bảo vệ quyền con người trong TTHS luôn gắn với yêu cầu về thủ tục pháp lý chặt chẽ (Due process of law), về tố tụng công bằng.