Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN Dẫn nhập Trong hoạt động khoa học hoặc hoạt động chuyên môn, ngôn ngữ được phân biệt với ngôn ngữ chung nhất ở lớp từ vựng mà ta gọi là hệ thuật ngữ. Bất cứ ngành khoa học nào cũng cần phải có một tập hợp từ ngữ được xác định một cách nghiêm ngặt, dùng để biểu thị các sự vật, hiện tượng, hoạt động, đặc điểm trong ngành đó. Hiện nay, cùng với sự phát triển của các ngành khoa học, thuật ngữ được hình thành và phát triển không ngừng như một nhu cầu tất yếu thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới cũng như ở Việt Nam dưới nhiều góc độ khác nhau. Trong chương này, chúng tôi sẽ điểm lại và phác họa bức tranh tổng quát về tình hình nghiên cứu thuật ngữ nói chung, thuật ngữ PCCC nói riêng trên thế giới và ở Việt Nam.
Bên cạnh đó, một số cơ sở lý thuyết như: Khái niệm thuật ngữ và thuật ngữ PCCC, tiêu chuẩn của thuật ngữ, phân biệt thuật ngữ với một số khái niệm khác cũng sẽ được trình bày. Cuối cùng là cơ sở lý thuyết về so sánh, đối chiếu. Tổng quan về tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới và ở Việt Nam 1.
Tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới Tổng thuật lịch sử nghiên cứu thuật ngữ học trên thế giới, chúng tôi nhận định, hoạt động nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới bắt đầu vào những thời điểm khác nhau. Những tiếp cận đầu tiên nhằm xây dựng hệ thống thuật ngữ cho từng lĩnh vực khoa học bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ 15. Những tác giả được cho là tiên phong trong công tác nghiên cứu thuật ngữ ở thế kỷ này điển hình là: Albrecht Dürer, Andreas Vesalius, Carl Von Linne, Johann Beckmann. Cũng thời gian đó ở Nga, M.
Lomonosov đã đưa ra một hệ thống thuật ngữ lý hoá riêng bằng tiếng Nga, sử dụng tối đa thuật ngữ bằng tiếng Nga và chỉ sử dụng thuật ngữ ngoại lai khi không tìm được từ tương đương trong tiếng Nga. 9 Tại Pháp, hai nhà hoá học Antoine Lavoisier (1743-1793) và Claude Louis Berthollet (1748-1822) đã xây dựng một hệ thuật ngữ gọi tên các chất hoá học trong công trình“Méthodode de nomenclatrue chimique” được xuất bản năm 1787. Hệ thống thuật ngữ này đã thể hiện rõ các mối quan hệ qua lại trong các kết hợp của các chất (ví dụ ở các kết hợp với lưu huỳnh: sulphite, sulphate, sulphurate v. để tạo ra một hệ thuật ngữ thống nhất và bao quát được toàn bộ hệ thống tên gọi các chất hóa học.
Giữa thế kỷ 19, nhà bác học người Anh William Wehwell trong tác phẩm “Lịch sử các khoa học quy nạp” (1840) đã cung cấp một hệ thống thuật ngữ chung cho các lý thuyết khoa học, phân biệt chúng với từ ngữ thông thường. Ông quan niệm hệ thuật ngữ như một hệ thống các từ ngữ được tạo ra theo các quy tắc nhất định sao cho chúng phải được gắn với các khái niệm của một lĩnh vực chuyên ngành. Nhìn chung, có thể thấy công tác nghiên cứu thuật ngữ giai đoạn này chưa có tính đồng bộ, chỉ dừng lại ở những kết quả nghiên cứu rời rạc, nhỏ lẻ chưa tạo được dấu ấn trong lĩnh vực ngôn ngữ học. Mặc dù đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm từ những thế kỷ trước, khoa học thuật ngữ thực sự mới được hình thành và trở thành một ngành khoa học vào đầu thế kỷ XX.
Việc nghiên cứu thuật ngữ xuất phát từ hai vấn đề nền tảng: đầu tiên là do kết quả quan sát quá trình hình thành lý thuyết nhằm đáp ứng sự ra đời của một bộ phận từ ngữ đặc biệt trong ngôn ngữ chuyên môn; thứ hai là trong thực tế, nhóm từ ngữ đặc biệt này được coi là những từ ngữ có ứng dụng độc lập. Nếu như ở thế kỷ XVIII và XIX, các nhà khoa học là những người đi đầu trong lĩnh vực thuật ngữ thì thế kỷ XX là thời kì của các kỹ sư và các nhà kỹ thuật. Công trình nghiên cứu của Wuster (1898 – 1977) vào thập niên 1930 đã đánh dấu sự ra đời của thuật ngữ học hiện đại. Ông được coi là cha đẻ của ngành thuật ngữ hiện đại, đại diện chính của Trường phái Vienna và có ảnh hưởng lớn đến quá trình nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu thuật ngữ sau này [98] [107], [110].
Những mục tiêu chính mà Wuster mong muốn đạt được trong nghiên cứu thuật ngữ là: loại bỏ sự mơ hồ từ các ngôn ngữ kỹ thuật bằng cách chuẩn hóa thuật 10 ngữ để chúng trở thành các công cụ giao tiếp có hiệu quả; thuyết phục tất cả người dùng ngôn ngữ kỹ thuật về tính ưu việt của thuật ngữ chuẩn; xây dựng tính nguyên tắc khoa học trong thuật ngữ ứng dụng [96:tr165]. Tiếp nối nghiên cứu về lý thuyết thuật ngữ của Wuster, còn có bốn học giả tiêu biểu khác, là: A. Schloman, nghiên cứu về bản chất mang tính hệ thống của thuật ngữ chuyên ngành; F. de Saussure [51], nghiên cứu xây dựng tính hệ thống của ngôn ngữ; E.
Dresen, nghiên cứu tầm quan trọng của việc tiêu chuẩn hoá thuật ngữ; và J. Holmstrom, là người đã định hướng phát triển nghiên cứu thuật ngữ trên quy mô quốc tế và cũng là học giả đầu tiên kêu gọi tổ chức quốc tế UNESCO tham gia giải quyết các vấn đề về thuật ngữ. Theo Cabré [96:tr.5-6], thuật ngữ học hiện đại có 4 giai đoạn phát triển cơ bản: Giai đoạn khởi đầu -the origins (1930 – 1960); Giai đoạn xác lập các chuyên ngành, lĩnh vực - the structuring of the field (1960 - 1975); Giai đoạn bùng nổ - the boom (1975 - 1985) và Giai đoạn mở rộng – the expansion (1985 đến nay). Giai đoạn hình thành (1930 - 1960) là giai đoạn sơ khởi của việc phát triển nghiên cứu thuật ngữ với việc xác lập các phương pháp trong việc hình thành hệ thống các thuật ngữ.
Các bài viết mang tính lý thuyết đầu tiên của Wuster (1898 – 1977 và Lotte (1889 – 1950) đã xuất hiện trong giai đoạn này. Ảnh hưởng tư tưởng nghiên cứu của Wuster, ba trường phái nghiên cứu về thuật ngữ ở các nước thuộc châu Âu gồm Áo, Liên bang Xô viết, Tiệp Khắc đồng thời nổi lên. Từ ba trung tâm này, thuật ngữ mở rộng sang phương Tây (Pháp, Canada, Quebec) và phương Bắc (Bỉ và các nước Bắc Âu) và gần đây là phía Nam (Bắc Phi, Tiểu Xa-ha-ra Africa, Trung và Nam Mỹ, Bồ Đào Nha, và Tây Ban Nha) và gần hơn nữa là phía Đông (Trung Quốc, Nhật Bản). Các nhà khoa học Xô Viết đã đưa ra những quan điểm về nghiên cứu thuật ngữ theo hướng chuẩn hoá khái niệm và chuẩn hoá thuật ngữ dựa trên quan điểm và xu thế của các vấn đề đa ngôn ngữ tại Liên Xô lúc bấy giờ.
Các lí thuyết và hoạt động thực tiễn về thuật ngữ thời kì này gắn với tên tuổi của các nhà nghiên cứu như Caplygin, D. Drezen và sau này là A. Chính những nhà khoa học này đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự hình thành bộ 11 môn thuật ngữ học ở Liên Xô trước đây. Những nghiên cứu của họ đi sâu vào phân tích bản chất, chức năng, mối quan hệ của thuật ngữ với các khái niệm, định nghĩa và tiêu chuẩn của thuật ngữ [10], [12], [15], [39], [50] [133].
Trong khi ở Liên Xô, các nhà nghiên cứu đi theo hướng quốc tế hóa các thuật ngữ, thì ở Tiệp khắc, các nhà khoa học lại tập trung miêu tả cấu trúc và chức năng của các ngôn ngữ chuyên ngành, hướng các hoạt động cơ bản vào việc xây dựng các yếu tố tương đương của quốc gia – các thuật ngữ gốc Slavơ, đối lập với các thuật ngữ Đức và Hy Lạp – gốc Latin. được xem là đại diện tiêu biểu của trường phái này. Theo trường phái ngôn ngữ học Praha, các ngôn ngữ chuyên ngành phải mang tính văn phong nghề nghiệp, các nhà nghiên cứu xem thuật ngữ như những đơn vị tạo nên văn phong nghề nghiệp mang tính chức năng. Có thể thấy, ba trường phái nghiên cứu này được xem như những chiếc nôi khởi nguồn cho nền nghiên cứu khoa học thực sự về thuật ngữ.
Các trường phái này đều có chung một quan điểm nghiên cứu thuật ngữ dưới góc độ ngôn ngữ học. Do vậy, họ xem thuật ngữ như là một phương diện truyền đạt và thực hiện giao tiếp. Vì thế cả ba trường phái đã tạo lập cơ sở lý thuyết cơ bản về thuật ngữ và các nguyên lí mang tính phương pháp chi phối những ứng dụng của thuật ngữ. Những đóng góp lớn của ba trường phái này đã góp phần phát triển khuynh hướng nghiên cứu thuật ngữ theo nguyên tắc dịch thuật và kế hoạch hoá ngôn ngữ sau này.
Giai đoạn phát triển thứ hai (giai đoạn cấu trúc) là giai đoạn xác lập các chuyên ngành, lĩnh vực (1960 - 1975), đáng chú ý nhất về thuật ngữ học trong giai đoạn này bắt nguồn từ sự phát triển của máy vi tính có bộ nhớ dung lượng lớn và các kỹ thuật thu thập và lưu trữ tư liệu. Đồng thời ngân hàng dữ liệu đầu tiên cũng xuất hiện và công việc điều phối trên cấp độ quốc tế các nguyên tắc của công việc xử lý thuật ngữ học cũng bắt đầu, trong giai đoạn này các đường hướng tiếp cận đầu tiên cũng được đưa ra nhằm chuẩn hóa thuật ngữ học trong ngôn ngữ. Giai đoạn thứ ba là giai đoạn bùng nổ (1975-1985). Đây là giai đoạn đánh dấu sự phát triển rực rỡ nhất của công tác nghiên cứu thuật ngữ, thuật ngữ học 12 chính thức trở thành một ngành khoa học độc lập.
Đây cũng là thời kì đón nhận nhiều đóng góp trong công tác nghiên cứu thuật ngữ của các nhà khoa học như L. Trong giai đoạn này, nhiều hội nghị, hội thảo về thuật ngữ lần lượt được tổ chức tại Liên Xô đã tạo ra diễn đàn khoa học cho các học giả trình bày những nội dung nghiên cứu mới. Các nhà ngôn ngữ Xô viết chủ yếu tập trung thảo luận về khái niệm, tiêu chuẩn và các chức năng của thuật ngữ; phân biệt thuật ngữ với từ nghề nghiệp, thuật ngữ với danh pháp; và chuẩn hoá thuật ngữ. Ngoài ra, thuật ngữ cũng trở thành chủ đề nghiên cứu chính của nhiều công trình khoa học lớn; đồng thời, hàng nghìn cuốn từ điển được ra đời, hàng chục tuyển tập các bài báo được xuất bản và hàng trăm luận án phó tiến sỹ và tiến sỹ được bảo vệ thành công [46].