Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Đối chiếu thuật ngữ phòng cháy chữa cháy Anh - Việt" của tác giả Nguyễn Bích Ngọc, do TS. Phạm Hiển hướng dẫn khoa học, được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (năm 2023), thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu (mã số: 9222024).

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của hệ thuật ngữ đối với sự phát triển khoa học công nghệ và sự an toàn của xã hội. Trong bối cảnh công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh chóng, nguy cơ cháy nổ gia tăng, đòi hỏi công tác phòng cháy chữa cháy (PCCC) phải được chuẩn hóa và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, thực tế hệ thuật ngữ PCCC tiếng Việt chủ yếu được dịch thuật hoặc vay mượn từ tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Anh, dẫn đến tình trạng thiếu định nghĩa thống nhất, cấu tạo và ngữ nghĩa chưa được chuẩn hóa, xuất hiện nhiều biến thể hoặc thiếu thuật ngữ tương đương (ví dụ các thuật ngữ tiếng Anh: backdraft, flash over, stabilizer, Snozzle, bumper turret). Khoảng trống nghiên cứu được chỉ ra là: trước đây chưa có công trình ngôn ngữ học nào nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và toàn diện về hệ thuật ngữ PCCC tiếng Việt trong sự đối chiếu với tiếng Anh.

Mục đích nghiên cứu của luận án là xác định các đặc điểm tương đồng và khác biệt về phương thức cấu tạo, đặc điểm cấu tạo, phương thức tạo lập và đặc điểm định danh của hệ thuật ngữ PCCC tiếng Anh và tiếng Việt. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất các giải pháp cụ thể để xây dựng và chuẩn hóa hệ thuật ngữ PCCC tiếng Việt, phục vụ đào tạo và thực tiễn ngành PCCC.

Luận án giải quyết 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuật ngữ và thuật ngữ PCCC trên thế giới và ở Việt Nam, qua đó xác lập cơ sở lý luận cho đề tài.
  2. Đối chiếu đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ PCCC trong tiếng Anh và tiếng Việt về phương thức cấu tạo và các mô hình kết hợp yếu tố.
  3. Đối chiếu để chỉ ra những điểm giống và khác nhau về đặc điểm định danh của thuật ngữ PCCC trong hai ngôn ngữ xét theo phương thức tạo lập, kiểu ngữ nghĩa và cách thức biểu thị.
  4. Đề xuất phương hướng xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ PCCC tiếng Việt.

Đối tượng nghiên cứu của luận án gồm 2.250 thuật ngữ PCCC tiếng Anh và 2.250 thuật ngữ PCCC tiếng Việt biểu đạt các khái niệm chuyên ngành. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở việc khảo sát, đối chiếu đặc điểm cấu tạo, phương thức tạo lập và đặc điểm định danh của các thuật ngữ thuộc 7 phạm trù ngữ nghĩa tiêu biểu: (1) chủ thể hoạt động PCCC, (2) sự vật là đối tượng của các hoạt động PCCC, (3) thiết bị dùng trong PCCC, (4) quá trình, hoạt động xảy ra trong PCCC, (5) hiện tượng thường xảy ra trong PCCC, (6) không gian, địa điểm diễn ra hoạt động PCCC, (7) thời gian diễn ra hoạt động PCCC.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Về nghiên cứu thuật ngữ học nói chung, luận án điểm lại lịch sử phát triển thế giới từ thế kỷ 15 (Albrecht Dürer, Andreas Vesalius, Carl Von Linné, Johann Beckmann, M. Lomonosov, Antoine Lavoisier, Claude Louis Berthollet, William Whewell) đến khi hình thành ngành khoa học vào thế kỷ 20 gắn với E. Wüster và Trường phái Vienna, cùng các học giả A. Schloman, F. de Saussure, E. Drezen, J. Holmstrom. Theo M. Teresa Cabré, thuật ngữ học trải qua 4 giai đoạn: khởi đầu (1930–1960) với ba trung tâm Áo, Liên Xô (D. Lotte, S. Caplygin, E. Drezen), Tiệp Khắc (Trường phái Prague); xác lập chuyên ngành (1960–1975); bùng nổ (1975–1985); và mở rộng (1985 đến nay). Giai đoạn mở rộng phát triển các hướng tiếp cận mới như thuật ngữ xã hội (Boulanger, Guespin, Gaudin), Lý thuyết giao tiếp về thuật ngữ (M. Teresa Cabré với Thuyết những cánh cửa - Theory of the Doors), thuật ngữ học tri nhận xã hội (Rita Temmerman, Pihkala), xử lý thuật ngữ trong ngôn ngữ tự nhiên (Juan C. Sager).

Tại Việt Nam, nghiên cứu thuật ngữ khởi đầu từ công trình "Danh từ khoa học" (1942) của Hoàng Xuân Hãn với 8 yêu cầu đặt thuật ngữ mới; hoạt động của Ủy ban soạn thảo danh từ chuyên môn do GS. Lê Văn Thới chủ tịch ở miền Nam; tiếp nối bởi Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Văn Tu, Lưu Vân Lăng, Lê Khả Kế, Hoàng Văn Hành, Đái Xuân Ninh, Võ Xuân Trang, Hoàng Trọng Phiến, Hồng Dân. Đến cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, các nghiên cứu lý luận và ứng dụng được mở rộng qua các công trình của Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Văn Khang, Phạm Hùng Việt, Hà Quang Năng, Nguyễn Đức Tồn, Vũ Kim Bảng, Lê Quang Thiêm.

Về nghiên cứu thuật ngữ PCCC:

  • Trên thế giới: Tại Nga có "Từ điển Kỹ thuật chữa cháy Anh - Nga" (1980, khoảng 18.000 thuật ngữ); tại Anh có Bộ tiêu chuẩn British Standards (BS 4422 từ phần 1 đến phần 9), từ điển "F is for Fire - A Dictionary of Key Fire Terminology" của Peter Hodgson và Don Christian (2007, khoảng 2.600 thuật ngữ); tại Hoa Kỳ có Hiệp hội PCCC Quốc gia Hoa Kỳ (NFPA) với "NFPA Glossary of Terms" (2019, hơn 15.000 thuật ngữ) và "Illustrated Dictionary Fire Service Terms" (2006, hơn 4.000 thuật ngữ); tại Mông Cổ có từ điển 4 thứ tiếng Anh - Nhật - Mông Cổ - Nga (2012, 7.640 thuật ngữ).
  • Tại Việt Nam: Có Bộ tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9310:2012 (tương đương ISO 8421, gồm các phần TCVN 9310-3, 9310-4, 9310-8), TCVN 13456:2022 (tham khảo ISO 30067:2007); từ điển "Các sự cố khẩn cấp - Từ điển Nga - Anh - Việt" của V. Palei và Nguyễn Mạnh Hà (2018, hơn 20.000 thuật ngữ); "Sổ từ Tiếng Anh chuyên ngành phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ" của Trần Văn An (2018, hơn 1.500 thuật ngữ); đề tài cấp cơ sở về dịch thuật tài liệu kỹ thuật PCCC của Đinh Thị Ánh Tuyết.

Vị trí của luận án: Luận án là công trình ngôn ngữ học đầu tiên thực hiện nghiên cứu đối chiếu có hệ thống giữa thuật ngữ PCCC tiếng Anh và tiếng Việt trên cả bình diện cấu tạo hình thức, phương thức tạo lập và đặc điểm định danh ngữ nghĩa, giải quyết khoảng trống thiếu hụt cơ sở dữ liệu đối chiếu chuyên ngành phục vụ chuẩn hóa ngôn ngữ và đào tạo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng các cơ sở lý thuyết ngôn ngữ học:

  • Quan niệm về thuật ngữ: Luận án tiếp thu định nghĩa của Hà Quang Năng: "Thuật ngữ là tập hợp từ, cụm từ được dùng để biểu thị những chính xác các khái niệm, đối tượng thuộc chuyên môn của một ngành khoa học, một lĩnh vực chuyên môn nhất định".
  • Phân biệt thuật ngữ với các lớp từ liên quan: Phân biệt với danh pháp dựa trên quan điểm của G. O. Vinokur, A. A. Reformatsky, A. V. Superanskaja, Nguyễn Thiện Giáp (danh pháp mang tính quy ước, dán nhãn sự vật rời rạc, còn thuật ngữ gắn với hệ khái niệm logic); phân biệt với từ nghề nghiệp (Lưu Vân Lăng, Nguyễn Như Ý, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Văn Khang, Kapanadze) dựa trên tính hệ thống khép kín và phạm vi xã hội; phân biệt với từ thông thường (Đỗ Hữu Châu, Lê Khả Kế, Teresa Cabré, Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến) dựa trên ngoại diên hẹp, nội hàm sâu và tính phi biểu cảm.
  • Tiêu chuẩn của thuật ngữ: Tính khoa học (gồm tính chính xác, tính hệ thống, tính ngắn gọn), tính quốc tế và tính dân tộc.
  • Đơn vị cấu tạo thuật ngữ (terminoelement): Tiếp thu lý thuyết của V. P. Danilenko, A. V. Superanskaja và giải pháp của Phạm Hùng Việt áp dụng cho tiếng Việt đơn lập: yếu tố cấu tạo thuật ngữ là hình vị đối với từ đơn, là từ hoặc tổ hợp từ đối với cấu tạo phức; mỗi yếu tố phản ánh một khái niệm hoặc thuộc tính khái niệm.
  • Lý thuyết định danh và lý luận ngôn ngữ học so sánh đối chiếu (Lê Quang Thiêm, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Văn Chiến).

Phương pháp nghiên cứu gồm:

  • Phương pháp so sánh - đối chiếu: Đối chiếu một chiều và hai chiều để chỉ ra sự tương đồng và khác biệt về cấu tạo, định danh và tạo lập.
  • Phương pháp phân tích thành tố trực tiếp (IC analysis): Phân tích bậc cấu tạo và xác định mô hình cấu trúc của thuật ngữ.
  • Phương pháp mô tả: Mô tả đặc điểm hình thức, trật tự yếu tố và mối quan hệ ngữ nghĩa - ngữ pháp.
  • Thủ pháp thống kê, phân loại: Thu thập, phân loại từ loại, đếm số lượng yếu tố cấu tạo, tần số và lập bảng biểu định lượng.

Nguồn tư liệu nghiên cứu: Tổng hợp từ các từ điển chuyên ngành (NFPA Glossary of Terms 2019, F is for Fire 2007, Illustrated Dictionary Fire Service Terms 2006, Từ điển Nga - Anh - Việt về sự cố khẩn cấp 2018, Sổ từ Tiếng Anh chuyên ngành PCCC 2018), các tiêu chuẩn kỹ thuật (TCVN 9310:2012, TCVN 13456:2022, TCVN 3254-1989, TCVN 5303-1990, BS 4422, NFPA), Luật PCCC (2001) và giáo trình giảng dạy chuyên ngành PCCC.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận

Chương 1 hệ thống hóa bức tranh toàn cảnh về lịch sử nghiên cứu thuật ngữ học thế giới và Việt Nam, tổng thuật các công trình nghiên cứu về thuật ngữ PCCC tại các quốc gia (Nga, Anh, Mỹ, Mông Cổ) và thực trạng tài liệu chuyên ngành tại Việt Nam.

Tác giả thiết lập khung lý thuyết hoàn chỉnh cho đề tài, làm rõ bản chất tam cấp của thuật ngữ (tầng nền ngôn ngữ tự nhiên, tầng cấu trúc khái niệm, tầng chức năng giao tiếp), xác lập ranh giới giữa thuật ngữ PCCC với danh pháp (tên đơn vị, tổ chức như Cục PCCC, NFPA), từ nghề nghiệp và từ toàn dân. Chương này xác định tiêu chuẩn định lượng và định tính của đơn vị cấu tạo thuật ngữ: loại bỏ hư từ trong việc xác định yếu tố nội dung, phân chia từ đơn, từ phái sinh, từ ghép và ngữ định danh làm cơ sở phân tích cấu trúc ngữ pháp trong hai ngôn ngữ.

Chương 2: Đối chiếu đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ phòng cháy chữa cháy Anh - Việt

Chương 2 tập trung phân tích và đối chiếu 2.250 thuật ngữ tiếng Anh và 2.250 thuật ngữ tiếng Việt về phương thức cấu tạo, số lượng yếu tố cấu tạo, từ loại và các mô hình kết hợp cụ thể.

Các nội dung khảo sát cấu tạo chính được luận án thực hiện:

  • Phương thức cấu tạo trong tiếng Anh: Cấu tạo từ đơn, từ phái sinh (gắn tiền tố, hậu tố chuyên ngành), từ ghép (ghép đẳng lập, ghép chính phụ, ghép có gạch nối) và cụm từ ngữ cố định.
  • Phương thức cấu tạo trong tiếng Việt: Dựa trên đặc điểm loại hình đơn lập, thuật ngữ hình thành chủ yếu qua phương thức từ hóa và ngữ hóa theo các mô hình chính phụ và đẳng lập.
  • Đối chiếu số lượng yếu tố cấu tạo: Luận án phân loại chi tiết các nhóm thuật ngữ từ 1 yếu tố đến 7 yếu tố cấu tạo và nhóm từ viết tắt.
Nhóm cấu tạo Đặc điểm trong tiếng Anh Đặc điểm trong tiếng Việt
Thuật ngữ 1 yếu tố Từ đơn (fire), từ phái sinh có 1 hình vị thực (detector, odorless) Từ đơn thuần Việt hoặc Hán - Việt (cháy)
Thuật ngữ 2 yếu tố Từ ghép (wildfire, fire-fighting), cụm từ (smoke alarm) Từ ghép chính phụ, từ ghép đẳng lập, ngữ 2 từ (cháy dị thể, lăng giá)
Thuật ngữ 3 đến 7 yếu tố Các cụm danh từ phức hợp mở rộng (automatic fire extinguishing system) Cụm từ có cấu trúc nhiều tầng bậc bổ ngữ (hệ thống chữa cháy tự động bằng khí)
Thuật ngữ viết tắt Phổ biến cao trong văn bản kỹ thuật và tiêu chuẩn (NFPA, SCBA) Chủ yếu tiếp nhận nguyên dạng dạng viết tắt tiếng Anh hoặc phiên âm
  • Đối chiếu từ loại và mô hình cấu tạo: Luận án phân tích từ loại của hệ thuật ngữ PCCC Anh - Việt (Bảng 2.12), cho thấy danh từ và cụm danh từ chiếm tỷ lệ áp đảo. Về trật tự mô hình (Bảng 2.13), tiếng Anh tuân thủ trật tự định ngữ đứng trước trung tâm (Modifier + Head), trong khi tiếng Việt tuân thủ trật tự trung tâm đứng trước định ngữ (Trung tâm + Định ngữ).

Chương 3: Đối chiếu phương thức tạo lập và đặc điểm định danh của thuật ngữ phòng cháy chữa cháy Anh – Việt

Chương 3 khảo sát và so sánh các con đường hình thành và đặc trưng định danh của thuật ngữ PCCC trong hai ngôn ngữ:

  • Phương thức tạo lập trong tiếng Anh: Thuật ngữ hóa từ ngữ thông thường (fuel, nozzle, monitor); tạo thuật ngữ trên cơ sở ngữ liệu vốn có (ghép từ, phái sinh); tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài (gốc Latin, Hy Lạp, Pháp); tiếp nhận từ các ngành khoa học khác (hóa học, vật lý, xây dựng, điện lực).
  • Phương thức tạo lập trong tiếng Việt: Dựa vào ngôn ngữ bản ngữ (thuật ngữ hóa từ thông thường); tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài qua dịch nghĩa, sao phỏng, hoặc phiên âm; kết hợp cơ sở tiếng Việt với yếu tố mượn.
  • Đối chiếu đặc điểm định danh: Phân tích theo kiểu ngữ nghĩa và cách thức biểu thị, so sánh 7 phạm trù ngữ nghĩa tiêu biểu:
Phạm trù ngữ nghĩa PCCC Biểu hiện trong tiếng Anh Biểu hiện trong tiếng Việt
1. Chủ thể hoạt động PCCC Thuật ngữ chỉ lực lượng, nhân viên chữa cháy, cứu nạn (firefighter, incident commander) Cụm từ chỉ chức danh, vai trò (chiến sĩ chữa cháy, chỉ huy chữa cháy)
2. Sự vật là đối tượng PCCC Thuật ngữ chỉ vật liệu cháy, công trình, đám cháy (combustible material, structure) Tên gọi vật chất, công trình, chất cháy (vật liệu dễ cháy, chất nguy hiểm cháy)
3. Thiết bị dùng trong PCCC Tên các công cụ, phương tiện, hệ thống báo cháy, chữa cháy (fire extinguisher, sprinkler, nozzle) Danh từ chỉ phương tiện, thiết bị, hệ thống (bình chữa cháy, đầu phun sprinkler, lăng phun)
4. Quá trình, hoạt động PCCC Thuật ngữ chỉ diễn tiến cháy, trinh sát, cứu nạn, dập lửa (fire suppression, evacuation) Cụm từ chỉ hành động kỹ thuật, chiến thuật (dập tắt đám cháy, thoát nạn, cứu hộ)
5. Hiện tượng trong PCCC Tên các hiện tượng nhiệt động, cháy nổ đặc thù (flashover, backdraft, boilover) Mô tả hiện tượng vật lý - hóa học (cháy bùng, nổ giật lùi, hiện tượng sôi trào)
6. Không gian, địa điểm PCCC Khu vực cháy, lối thoát nạn, vùng nguy hiểm (fire compartment, escape route) Vị trí địa lý, phân vùng kiến trúc (khoang cháy, lối thoát nạn, vùng đệm an toàn)
7. Thời gian hoạt động PCCC Thời gian cháy tự do, thời gian chịu lửa, thời gian trễ (fire resistance rating, response time) Khoảng thời gian định mức, giới hạn (thời gian chống chịu lửa, thời gian phản ứng)
  • Thực trạng và đề xuất chuẩn hóa: Luận án chỉ ra thực trạng sử dụng thuật ngữ PCCC tiếng Việt còn tồn tại hiện tượng đa nghĩa không mong muốn, sử dụng nhiều biến thể dịch thuật khác nhau cho cùng một khái niệm gốc tiếng Anh, nhiều thuật ngữ còn dài dòng mang tính giải thích. Luận án đề xuất các nguyên tắc và giải pháp chuẩn hóa thuật ngữ PCCC tiếng Việt.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận:

  • Giới thiệu và hệ thống hóa khung cơ sở lý luận về thuật ngữ học nói chung và thuật ngữ PCCC nói riêng, cập nhật các khuynh hướng tiếp cận hiện đại như lý thuyết giao tiếp, tiếp cận tri nhận, xử lý ngôn ngữ tự nhiên và trí tuệ nhân tạo.
  • Xác định rõ nét khái niệm "yếu tố cấu tạo thuật ngữ" phù hợp với đặc thù loại hình học của tiếng Anh (hòa kết) và tiếng Việt (đơn lập).
  • Cung cấp cơ sở khoa học đối chiếu toàn diện về các mô hình cấu trúc, phương thức tạo lập và đặc trưng định danh ngữ nghĩa giữa hai hệ thuật ngữ thuộc hai ngữ hệ khác nhau.

Đóng góp về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp bức tranh khảo sát định lượng trên 2.250 cặp thuật ngữ Anh - Việt thuộc 7 phạm trù ngữ nghĩa cốt lõi của ngành PCCC.
  • Phát hiện các điểm bất cập, không đồng nhất trong thực tiễn dịch thuật và sử dụng thuật ngữ PCCC tại Việt Nam.
  • Đề xuất các phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm xây dựng, chỉnh lý và chuẩn hóa hệ thuật ngữ PCCC tiếng Việt, trực tiếp phục vụ việc hoàn thiện các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia (như bộ TCVN 9310), công tác biên soạn giáo trình, từ điển chuyên ngành và nâng cao hiệu quả giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành PCCC.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi tư liệu khảo sát tập trung chủ yếu vào 2.250 đơn vị thuật ngữ thuộc 7 phạm trù ngữ nghĩa tiêu biểu nhất, chưa thể bao quát toàn bộ các ngách kỹ thuật sâu hoặc các thuật ngữ mới phát sinh trong công nghệ chữa cháy đặc chủng.
  • Đối tượng khảo sát giới hạn trong cặp ngôn ngữ Anh - Việt trên văn bản viết (tài liệu quy chuẩn, từ điển, giáo trình), chưa mở rộng khảo sát sâu ngữ liệu giao tiếp thực tế tại hiện trường hoặc so sánh mở rộng với các ngôn ngữ khác (như tiếng Pháp, tiếng Nga).

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi đối chiếu sang các phân ngành hẹp như điều tra nguyên nhân cháy, an toàn cháy công trình hạt nhân, công nghệ chữa cháy hóa chất nguy hiểm.
  • Xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa thuật ngữ PCCC Anh - Việt đa phương tiện có tích hợp giải nghĩa và sơ đồ phân loại khái niệm.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn cho các đối tượng:

  • Giảng viên và học viên: Dùng làm tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập môn Tiếng Anh chuyên ngành PCCC tại Trường Đại học PCCC và các cơ sở đào tạo liên quan.
  • Cán bộ thực tiễn và chuyên gia PCCC: Tra cứu, thống nhất khái niệm kỹ thuật trong văn bản hành chính, quy chuẩn an toàn và công tác chỉ huy tác chiến.
  • Nhà nghiên cứu ngôn ngữ học và dịch thuật: Tham khảo mô hình phân tích cấu tạo, lý thuyết định danh và phương pháp nghiên cứu đối chiếu thuật ngữ chuyên ngành.
  • Cơ quan quản lý và biên soạn tiêu chuẩn: Cung cấp luận cứ khoa học để chỉnh lý, bổ sung bộ tiêu chuẩn thuật ngữ TCVN 9310 và biên soạn các bộ từ điển đối chiếu song ngữ, đa ngữ.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa "yếu tố cấu tạo thuật ngữ" như thế nào để áp dụng cho cả tiếng Anh và tiếng Việt? Tác giả xác định yếu tố cấu tạo thuật ngữ là đơn vị cơ sở có nghĩa làm thành tố trực tiếp tạo nên thuật ngữ, phản ánh khái niệm hoặc thuộc tính của khái niệm trong lĩnh vực PCCC. Trong tiếng Anh hòa kết, yếu tố cấu tạo là hình vị đối với từ đơn/từ phái sinh hoặc từ đối với từ ghép/cụm từ. Trong tiếng Việt đơn lập, theo quan điểm kế thừa từ Phạm Hùng Việt, yếu tố cấu tạo là hình vị đối với từ đơn, là từ hoặc tổ hợp từ đối với cấu tạo phức. Hư từ biểu thị quan hệ ngữ pháp không được tính là yếu tố cấu tạo nội dung khái niệm.

2. Tiêu chuẩn nào được luận án coi là bắt buộc đối với thuật ngữ PCCC? Luận án khẳng định tính khoa học (bao gồm tính chính xác, tính hệ thống, tính ngắn gọn) và tính quốc tế là hai tiêu chuẩn bắt buộc đối với mọi thuật ngữ chuyên ngành ở bất kỳ ngôn ngữ nào. Trong khi đó, tính dân tộc là tiêu chuẩn không bắt buộc tuyệt đối, mức độ thể hiện phụ thuộc vào đặc thù của từng ngành khoa học và quy luật ngữ âm, chữ viết của ngôn ngữ bản địa tiếp nhận.

3. Khảo sát của luận án bao gồm bao nhiêu thuật ngữ và phân bố theo những phạm trù nào? Nghiên cứu khảo sát 2.250 thuật ngữ PCCC tiếng Anh và 2.250 thuật ngữ PCCC tiếng Việt, phân bố qua 7 phạm trù ngữ nghĩa: (1) chủ thể hoạt động PCCC; (2) sự vật là đối tượng PCCC; (3) thiết bị dùng trong PCCC; (4) quá trình, hoạt động xảy ra trong PCCC; (5) hiện tượng thường xảy ra trong PCCC; (6) không gian, địa điểm diễn ra hoạt động PCCC; (7) thời gian diễn ra hoạt động PCCC.

4. Luận án phân biệt thuật ngữ PCCC với danh pháp và từ nghề nghiệp dựa trên các đặc trưng nào? Thuật ngữ gắn liền với hệ thống khái niệm logic của ngành khoa học, thực hiện chức năng định nghĩa khái niệm; danh pháp là hệ thống ký hiệu, tên riêng quy ước (như tên cơ quan NFPA, Cục PCCC) mang chức năng gọi tên đối tượng rời rạc. Thuật ngữ có cấu trúc hệ thống chặt chẽ, trong khi từ nghề nghiệp là các đơn vị từ vựng mang tính phương ngữ xã hội của nhóm người hành nghề thủ công, không tạo thành hệ thống khái niệm khép kín.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Đối chiếu thuật ngữ phòng cháy chữa cháy Anh - Việt" của tác giả Nguyễn Bích Ngọc là công trình nghiên cứu chuyên sâu về ngôn ngữ học so sánh đối chiếu, giải quyết thỏa đáng vấn đề cấu tạo, tạo lập và định danh của hệ thuật ngữ PCCC trong hai ngôn ngữ. Bằng việc phân tích ngữ liệu 2.250 cặp thuật ngữ qua 7 phạm trù ngữ nghĩa cốt lõi, tác giả đã làm rõ các quy luật liên kết hình thức và biểu đạt ngữ nghĩa của tiếng Anh và tiếng Việt chuyên ngành. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở lý luận ngôn ngữ học vững chắc và luận cứ thực tiễn quan trọng phục vụ công tác chuẩn hóa thuật ngữ PCCC tiếng Việt, biên soạn từ điển chuyên ngành và nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ chuyên ngành PCCC.