Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG TRƯỜNG TỪ VỰNG HỖ TRỢ DẠY HỌC VIẾT VĂN TẢ NGƯỜI CHO HỌC SINH LỚP NĂM 1. Các khái niệm công cụ 1. Nghĩa và trường nghĩa * Nghĩa Nghĩa của mỗi từ được cộng đồng ngôn ngữ thừa nhận như một quy ước chung về quan hệ giữa vỏ âm thanh (cái biểu đạt) và nội dung biểu thị (cái được biểu đạt) của từ.
Vũ Thị Ân (2015) đã chỉ ra: “Nghĩa của từ là nội dung biểu thị sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan bằng vỏ ngữ âm của từ. Hay nghĩa của từ là mối quan hệ của từ với sự vật hay khái niệm, biểu tượng trong thực tế khách quan. Vậy trong luận văn này, chúng tôi hiểu nghĩa của từ là quy ước chung về quan hệ giữa vỏ âm thanh (cái biểu đạt) và nội dung biểu thị (cái được biểu đạt - sự vật, tính chất, hoạt động, quan hệ,…) của từ. * Trường nghĩa Lương Diễm Linh (2015) đã nghiên cứu về trường nghĩa và ứng dụng trường nghĩa để đưa ra một số biện pháp mở rộng vốn từ cho HS lớp bốn thông qua hoạt động dạy học môn Khoa học.
Vũ Thị Ân (2015) đã nhấn mạnh: “Trường nghĩa là tập hợp các từ có nét chung về nghĩa. Nói cách khác, một tập hợp từ theo tiêu chí về nghĩa gọi là một trường nghĩa. Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là trường nghĩa. Đó là những tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa.
De Sausure trong “Giáo trình ngôn ngữ học đại cương” đã chỉ ra hai dạng quan hệ chung nhất của ngôn ngữ: quan hệ ngang (hay quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính, quan hệ ngữ đoạn) và quan hệ dọc (hay quan hệ trực tuyến, quan hệ hình). 8 Trường nghĩa ngang (trường nghĩa tuyến tính) được tạo nên bằng cách chọn một từ gốc rồi tìm tất cả các từ có thể kết hợp với nó thành chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu). Khai thác lớp từ gần nghĩa, đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng âm của từ ngữ cũng là cách xem xét từ ngữ theo trường nghĩa tuyến tính. Trường nghĩa tuyến tính góp phần làm sáng tỏ những quan hệ cấu trúc ngữ nghĩa của từ vựng, phát hiện những đặc điểm nội tại và những đặc điểm hoạt động của từ.
Trường nghĩa dọc bao gồm hai trường nghĩa biểu vật và biểu niệm. Trường nghĩa biểu vật bao gồm những từ ngữ được sắp xếp theo từng phạm vi sự vật, hiện tượng mà chúng biểu thị. Một trường biểu vật là tập hợp những từ đồng nghĩa hay có nét nghĩa biểu vật với tên gọi danh từ khái quát phạm trù biểu vật. Mặt khác, trường nghĩa biểu niệm là tập hợp các từ có cùng cấu trúc biểu niệm.
Ngoài trường nghĩa ngang và trường nghĩa dọc, trường liên tưởng ra đời là sự bổ sung cho hệ thống khái niệm trường nghĩa trong từ vựng học. Trường liên tưởng là cách phản ánh quan niệm từ không chỉ là một thể cấu trúc (quan điểm cấu trúc trong ngôn ngữ học) mà còn là một thực thể xã hội và cá nhân sống động. Vì vậy, các trường liên tưởng thường không ổn định, nên ít có tác dụng phát hiện cấu trúc về ngữ nghĩa của các từ và từ vựng. Nhưng liên tưởng có hiệu lực lớn trong việc giải thích sự dùng từ của cá nhân, sự ưa thích lựa chọn những từ nào đấy để nói, phong cách nói viết của từng người.
Vậy, trong luận văn này, chúng tôi xây dựng trường từ vựng tả người nhìn từ góc độ trường nghĩa dọc (cụ thể là trường nghĩa biểu vật). Chúng tôi dựa vào quan điểm của Đỗ Hữu Châu (1999) để trình bày về trường biểu vật này. Trường nghĩa biểu vật là tập hợp các từ ngữ đồng nhất với nhau về nghĩa biểu vật (về phạm vi biểu vật). Để xác lập trường nghĩa biểu vật, người ta chọn một danh từ biểu thị sự vật làm gốc, rồi trên cơ sở đó thu thập các từ ngữ có cùng phạm vi biểu vật với danh từ được chọn làm gốc đó.
Các danh từ này phải có tính khái quát cao gần như là tên gọi của các phạm trù biểu vật. Như vậy, chúng ta sẽ đưa một từ vào một trường biểu vật nào đó khi nét nghĩa biểu vật của nó 9 trùng với tên gọi của danh từ trên. Vì từ có tính nhiều nghĩa biểu vật, do đó từ có thể nằm trong nhiều trường nghĩa biểu vật khác nhau hay trong nhiều trường nhỏ khác nhau tuỳ theo số lượng các ý nghĩa biểu vật của nó. Trường từ vựng Trường từ vựng là một trong những lí thuyết quan trọng của ngôn ngữ học, được các nhà nghiên cứu đề cập đến từ sớm.
Nghiên cứu về trường từ vựng không chỉ giúp phát hiện những mối quan hệ ngữ nghĩa của hệ thống từ vựng mà còn cho thấy vẻ đẹp phong phú đa dạng của hệ thống từ ngữ. Thật vậy, Blachowicz và nnk (2006) đã chỉ ra rằng chúng ta cần tập trung vào các cách giúp HS sở hữu những từ mà chúng ta tin rằng chúng cần từng lĩnh vực nội dung. Nghiên cứu cho thấy các nhà giáo dục tập trung vào bốn phương pháp thực hành giúp phát triển vốn từ, ngôn ngữ nói cho HS: Một là, phát triển khả năng nhận biết từ và yêu thích từ thông qua chơi chữ. Một số chiến lược và hoạt động tập trung vào khía cạnh phát triển từ vựng thông qua trò chơi với các từ.
Hai là, xây dựng hướng dẫn rõ ràng, phong phú để xây dựng vốn từ vựng. Blachowicz và Fisher đề xuất mô hình STAR vì nó cung cấp hướng dẫn từ vựng rõ ràng. Ba là xây dựng chiến lược để phát triển độc lập của HS. Điều này giúp HS học cách hiểu từ vựng bằng cách sử dụng các gợi ý ngữ cảnh, các bộ phận của từ, có thể dẫn đến việc sở hữu từ.
GV cần giảng dạy một cách rõ ràng cho HS cách sử dụng các công cụ này để phát triển các kĩ năng cần thiết sử dụng các ngữ cảnh, trường từ vựng và từ điển. Bốn là thu hút HS tương tác tích cực với nhiều loại sách. Chúng ta cần cho HS tiếp xúc với nhiều dạng văn học theo nhiều cách khác nhau bao gồm cả vieehc đọc to, đọc nhỏ, đọc thầm và giúp HS phát triển vốn từ vựng. Về mục tiêu: Các chiến lược xây dựng trường từ vựng cho GV tập trung vào bốn phương pháp thục hành này để phát triển trường từ vựng cho HS tiểu học trong lớp học.
Khái niệm trường (trường, trường từ vựng, trường từ vựng ngữ nghĩa) cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất. Trong bài viết về “Đặc điểm trường từ vựng 10 – ngữ nghĩa” của “nước” và “lửa” trong tiếng Việt” (Phạm Thị Châu Pha, Trần Thị Phương Lý, 2016), nhóm tác giả cũng chỉ ra rằng Saussure với luận điểm “Giá trị của bất cứ yếu tố nào cũng do những yếu tố xung quanh quy định” đã thúc đẩy một cách quyết định sự hình thành nên lí thuyết về trường. Tvier và Weisgerberg cho rằng, trong ngôn ngữ, mỗi từ tồn tại trong một trường, giá trị của nó là do quan hệ với các từ khác trong trường quyết định. Đỗ Hữu Châu (1999), đã tiếp thu lí thuyết về trường của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới và đưa ra quan niệm riêng của mình.
Thứ nhất, ông phân lập từ vựng của một ngôn ngữ thành các trường từ vựng ngữ nghĩa là để phát hiện ra tính hệ thống và cấu trúc của hệ thống từ vựng về mặt ngữ nghĩa, tức là để tìm ra và giải thích các cơ chế đồng loạt chi phối sự sáng tạo nên đơn vị và hoạt động của chúng trong quá trình sử dụng ngôn ngữ làm công cụ giao tiếp. Thứ hai, đã phân biệt ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm thì cơ sở để phân lập trường là sự đồng nhất nào đó trong ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm của các từ. Cho nên, có thể phân ra hai loại trường từ vựng ngữ nghĩa lớn là trường biểu vật và trường biểu niệm chứ không phải là trường sự vật và trường khái niệm. Theo Đỗ Hữu Châu (1999), một loạt các từ được liên kết lại nhờ sự đồng nhất của một nét nghĩa gọi là trường từ vựng.
Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa. Đó là tập hợp những từ đồng nhất với nhau một nét nào đó về nghĩa. Văn miêu tả Miêu tả Nguyễn Trí (2001) nhận định: Văn miêu tả vẽ ra các sự vật, sự việc, hiện tượng, con người… bằng ngôn ngữ một cách sinh động, cụ thể. Văn miêu tả giúp người đọc nhìn rõ chúng, tưởng như mình đang xem tận mắt, bắt tận tay.
Nó là sự kết tinh của những nhận xét tinh tế, những rung động sâu sắc mà người viết đã thu lượm được khi quan sát cuộc sống. 11 Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cho rằng: Miêu tả là làm cho sự vật hiện ra, chuyển động, rực rỡ, có tình,… bằng từ ngữ. Văn miêu tả Trong cuốn “Văn miêu tả và phương pháp dạy văn miêu tả ở tiểu học” (Nguyễn Trí, 1998), tác giả cho rằng văn miêu tả là vẽ ra các sự vật, sự việc, hiện tượng, con người bằng từ ngữ một cách sinh động, cụ thể. Theo nhận định này, văn miêu tả là một bức tranh được vẽ lại, tái hiện lại bằng ngôn ngữ, bằng văn bản nghệ thuật từ kết quả của một quá trình quan sát chủ động, tích cực về các đặc điểm của sự vật, hiện tượng một cách chân thực, sinh động, tinh tế qua sự tiếp cận trực tiếp bằng các giác quan, cảm xúc, ngôn ngữ, tri thức của người viết nhằm gửi đến người đọc, người nghe cái đẹp của cuộc sống.
Từ đó, chúng ta có thể thấy rằng: Văn miêu tả sử dụng ngôn ngữ để làm làm cho sự vật, sự việc, hiện tượng, con người hiện ra, chuyển động, rực rỡ, có tình,… thông qua quá trình quan sát, cảm nhận, đánh giá. Lí luận dạy học văn miêu tả người 1. Hệ thống các kĩ năng làm văn Hoạt động lời nói là một cấu trúc động bao gồm bốn giai đoạn kế tiếp nhau: định hướng, lập chương trình, thực hiện hoá chương trình và kiểm tra. Cấu trúc này đã được các tác giả phương pháp dạy học làm văn vận dụng triệt để khi xây dựng hệ thống kĩ năng làm văn.
Có thể thấy mối quan hệ này trong sơ đồ sau: Bảng 1. Mối quan hệ giữa cấu trúc lời nói và hệ thống kĩ năng làm văn Cấu trúc hoạt động lời nói Hệ thống kĩ năng làm văn Định hướng 1. Kĩ năng xác định đề bài, yêu cầu và giới hạn đề bài bài viết (kĩ năng tìm hiểu đề). Kĩ năng xác định tư tưởng cơ bản của bài viết.