Chương 1. Cơ sở lý luận về năng lực hợp tác giải quyết vấn đề của học sinh trung học cơ sở Chương 2. Tổ chức và phương pháp nghiên cứu năng lực hợp tác giải quyết vấn đề của học sinh trung học cơ sở Chương 3. Kết quả nghiên cứu thực tiễn năng lực hợp tác giải quyết vấn đề của học sinh trung học cơ sở 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC HỢP TÁC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Tổng quan nghiên cứu về năng lực hợp tác giải quyết vấn đề của học sinh trung học cơ sở Tổng quan nghiên cứu về năng lực hợp tác giải quyết vấn đề của học sinh trên thế giới và Việt Nam cho thấy, các nghiên cứu đề cập về các hướng sau: - Nghiên cứu năng lực hợp tác - Nghiên cứu năng lực giải quyết vấn đề - Nghiên cứu năng lực hợp tác giải quyết vấn đề 1. Các nghiên cứu về năng lực hợp tác của học sinh Theo tìm hiểu của chúng tôi năng lực hợp tác (Collaboration competency) được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu trên nhiều hướng khác nhau như khái niệm, biểu hiện, cấu trúc, phát triển năng lực hợp tác thông qua dạy học môn học và hoạt động giáo dục. - Hướng nghiên cứu về khái niệm, biểu hiện của năng lực hợp tác Xu hướng định nghĩa nhấn mạnh đến tính đối xứng của tri thức, địa vị, mục tiêu, vai trò và nhiệm vụ của các thành viên trong nhóm hợp tác. Một trong những đại diện của xu hướng định nghĩa này là Dillenbourg, 1999 cho rằng sự hợp tác bao gồm sự đối xứng của tri thức, đối xứng về địa vị và đối xứng về mục tiêu, nhưng vai trò và nhiệm vụ của mỗi người trong sự hợp tác có thể khác nhau.
Ông cũng nêu bật sự khác biệt giữa sự cộng tác (cooperation) và sự hợp tác (collaboration). Sự cộng tác phụ thuộc vào sự đối xứng của hành động với việc người học làm các công việc song song và cuối cùng đưa cả hai phần lại với nhau làm một. Tác giả đã chỉ ra được sự đối xứng giữa các thành viên trong quá trình hợp tác, tuy nhiên trong quá trình hợp tác không nhất thiết phải đối xứng về địa vị, tri thức mà quan trọng là các thành viên đều vì mục tiêu chung và thể hiện trách nhiệm hỗ trợ lẫn nhau để đạt được mục tiêu đó. Xu hướng định nghĩa năng lực hợp tác chú trọng đến sự phụ thuộc lẫn nhau với sự các kĩ năng về giao tiếp về liên kết giữa các thành viên của nhóm được chấp nhận của nhiều tác giả.
Một trong những tác giả nổi bật theo tiếp cận này Fullan và Scott, 2014 cho rằng năng lực hợp tác là quá trình các cá nhân làm việc phụ thuộc lẫn nhau với kỹ năng giao tiếp và liên kết mạnh mẽ bao gồm hiệu quả quản lý động lực nhóm, đưa ra quyết định để cùng học hỏi lẫn nhau và góp phần vào việc học khác. Các tác giả đã làm nổi bật được sự phụ thuộc lẫn nhau, liên kết mạnh mẽ giữa 10 các thành viên trong quá trình hợp tác. Tuy nhiên chưa làm rõ được yếu tố thống nhất cùng thực hiện mục tiêu. Những năm gần đây, xu hướng khái niệm năng lực hợp tác là đóng góp của cá nhân trong hiệu quả của nhóm được chấp nhận khá rộng rãi.
Đại diện xu hướng này Scoular và cộng sự, 2020 cho rằng năng lực hợp tác: là năng lực của một cá nhân đóng góp hiệu quả trong một nhóm. Điều này liên quan đến sự kiên trì, đóng góp vào kiến thức của nhóm, đánh giá cao đóng góp của những người khác và giải quyết sự khác biệt. Sự hợp tác hiệu quả liên quan đến sự phân công lao động với những người tham gia tích cực vào cuộc thảo luận dẫn đến kết quả là sự tổng hợp các nỗ lực của họ. Trong định nghĩa này, các tác giả đã đề cập đến khía cạnh mới hơn các định nghĩa trước đó là chấp nhận sự khác biệt, phân công lao động phù hợp trong quá trình hợp tác.
Tuy nhiên, trong định nghĩa này vẫn chưa nêu bật được bản chất sự tương tác, hỗ trợ trong quá trình hợp tác vì mục tiêu chung. Ở Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về kĩ năng hợp tác, học hợp tác và năng lực hợp tác. Khi nghiên cứu về hợp tác, các tác giả đều cho rằng hợp tác chứa đựng sự chung sức của “hợp lực” và “cộng tác”, có sự hỗ trợ lẫn nhau của phối hợp và bổ sung cho nhau (Nguyễn Thanh Bình, 1998). Khái quát hơn năng lực hợp tác là một dạng năng lực cho phép cá nhân kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức giữa tri thức cần thiết cho sự hợp tác, kỹ năng và thái độ, giá trị, động cơ cá nhân nhằm đáp ứng yêu cầu của hoạt động hợp tác trong bối cảnh cụ thể.
Trong đó, mỗi cá nhân thể hiện sự tích cực, tự giác, sự tương tác và trách nhiệm cao trên cơ sở huy động những tri thức, kỹ năng của bản thân nhằm giải quyết có hiệu quả hoạt động hợp tác (Lê Thị Minh Hoa, 2015). Khi nghiên cứu về đánh giá năng lực hợp tác của HS trong dạy học ở trường THPT, tác giả Lê Thị Thu Hiền, 2015 cho rằng năng lực hợp tác là năng lực cá nhân được dùng để hoàn thành nhiệm vụ được giao trong điều kiện được trao đổi với các thành viên khác trong nhóm. Cách định nghĩa này đã nêu được điều kiện trao đổi với các thành viên để hoàn thành nhiệm vụ, tuy nhiên định nghĩa này chưa làm rõ được bản chất của hợp tác là tương tác, hỗ trợ lẫn nhau, thống nhất và hoàn thành mục tiêu chung. Khi nghiên cứu về phát triển năng lực hợp tác Hoàng Thị Xuân Hòa (2015) đã tổng kết về 7 dấu hiệu của sự hợp tác hiệu quả: (1) Có mục đích chung, trách nhiệm chung; (2) Công việc được phân công phù hợp với năng lực của từng người; (3) Chấp hành kỉ luật, tuân theo những quy định chung và theo sự chỉ đạo, hướng dẫn của người đứng đầu.
(4) Một người vì mọi người, mọi người vì một người. (5) Chia sẻ nguồn lực và thông tin, cùng hoàn thành nhiệm vụ. (6) Khích lệ tinh thần tập thể hơn là sự đề cao ganh đua. (7) Hành động nhiều hơn lời nói, nhường nhịn vì lợi ích tập thể.
Với các biểu hiện này của năng 11 lực hợp tác được tác giả nêu khá đầy đủ và rõ ràng. Các khía cạnh xã hội, sự tương tác trong quá trình hợp tác được nêu bật tuy nhiên chưa đề cập đến kết quả của quá trình hợp tác. Tóm lại, các nghiên cứu đã chỉ ra khái niệm và biểu hiện của năng lực hợp tác theo các cách tiếp cận khác nhau. Trong luận án này sẽ kế tục và phát triển cách tiếp cận của các xu hướng nghiên cứu mới về năng lực hợp tác là đóng góp hiệu quả của cá nhân vào nhóm.
Năng lực hợp tác là quá trình các cá nhân trong nhóm cùng đóng góp tri thức, kĩ năng và thái độ hợp tác để cùng nhau phối hợp, tương tác, hỗ trợ và thực hiện có kết quả mục tiêu chung. Trong quá trình đó, đòi hỏi mỗi cá nhân phải thể hiện được kĩ năng giao tiếp, lắng nghe, chấp nhận khác biệt, phân công công viên, động viên, khích lệ và hỗ trợ nhau để cùng hoàn thành mục tiêu chung của nhóm. - Hướng nghiên cứu về cấu trúc năng lực hợp tác Một trong những cấu trúc về năng lực hợp tác được chấp nhận rộng rãi là cấu trúc chia năng lực hợp tác thành 3 thành tố: (1) Sự tham gia, (2) tiếp nhận quan điểm và (3) quy định xã hội của Hesse, 2015 đề xuất trong ACT21s. Sự tham gia đề cập đến sự gắn bó của người học với nhiệm vụ, mức độ họ kiên trì giải quyết vấn đề và mức độ tương tác của họ với những người khác.
Tiếp nhận quan điểm tập trung vào chất lượng của sự tương tác giữa những người học trong quá trình hợp tác giải quyết vấn đề. Quy định xã hội đề cập đến cách người học điều hướng không gian hợp tác và bao gồm thương lượng và giải quyết những khác biệt, đánh giá bản thân và đồng nghiệp của họ và chịu trách nhiệm giải quyết vấn đề. Cấu trúc này tác giả đã chỉ ra được các thành phần cơ bản trong hợp tác tuy nhiên vẫn chưa đề cập đến yếu tố mục tiêu và đánh giá quá trình hợp tác. Mô hình cấu trúc năng lực hợp tác gồm 3 thành tố: (1) Xây dựng hiểu biết chung; (2) Cùng đóng góp và (3) Điều tiết được đề xuất bởi Scoular và cộng sự 2020 trong Hội đồng nghiên cứu Giáo dục Úc (Australian Council for Educational Research ACER).
Nhóm tác giả mô tả các năng lực thành phần và tiêu chí rất cụ thể như: (1) Xây dựng hiểu biết chung: học sinh xây dựng hiểu biết chung về mục tiêu, sự am hiểu hiểu về nhiệm vụ và khả năng tương tác cùng các thành viên trong nhóm; (2) Cùng đóng góp: các thành viên trong nhóm cần phải có sự đóng góp các trách nhiệm đã thoả thuận và công nhận sự đóng góp của nhau; (3) Điều tiết: quy định về tính năng động của nhóm nhằm đảm bảo giải quyết khác biệt giữa các thành viên, đảm bảo các đóng góp mang tính xây dựng, duy trì hiểu biết và sẻ chia trong 12 nhóm, tổ chức và phân bổ lại nếu gặp các vấn đề phát sinh (Scoular và cộng sự 2020). Mô hình cấu trúc của nhóm tác giả đã phản ánh khá đầy đủ các năng lực thành phần, các thành tố, các hành vi của năng lực hợp tác tuy nhiên chưa làm rõ đến việc hỗ trợ để hoàn thành mục tiêu chung. Ở Việt Nam, nhiều tác giả đồng thuận và sử dụng cấu trúc năng lực hợp tác được tạo thành bởi 3 mặt sau: (1)Tri thức: hiểu biết về năng lực hợp tác; (2) Kỹ năng: kỹ năng tham gia công việc, kỹ năng cộng tác, kỹ năng xây dựng và duy trì sự tin tưởng, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn và bất đồng và (3) Giá trị, thái độ, động cơ với hoạt động hợp tác: thấy được sự cần thiết hợp tác, có mong muốn hợp tác, chủ động tích cực, tự giác, tự nguyện và có trách nhiệm với hoạt động (Lê Thị Minh Hoa, 2015; Phạm Thị Thanh Hội và Phạm Huyền Phương, 2015…) Cách cấu trúc này chưa thực sự cụ thể hóa các hành vi đo được trong 2 thành tố tri thức và thái độ.