CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU NGUY CƠ SỬ DỤNG MA TÚY Ở HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển, có nhiều công trình nghiên cứu về nguy cơ sử dụng ma tuý, các yếu tố cấu thành nguy cơ SDMT ở nhóm lứa tuổi học sinh trung học phổ thông được thực hiện và công bố. Van Hasselt, Michel Hersen và Jane A.Bukstein và Janice Mc Gillivray (Đại học Pittsburgh) và Andrea Hunter (Đại học Michigan) (1993) nghiên cứu về phòng ngừa nguy cơ sử dụng ma túy đối với trẻ em Mỹ gốc Phi và gia đình của họ. Công trình này đặc biệt đề cập đến các nhân tố thuộc về gia đình và kinh tế xã hội đối với sự gia tăng một cách phổ biến việc lạm dụng ma túy trong nhóm trẻ em Mỹ gốc Phi lứa tuổi THCS và THPT.
Trong đó, các nhân tố về gia đình bao gồm: cha mẹ ly thân, ly hôn; thiếu sự quan tâm giữa các thành viên và giữa cha mẹ với con cái; gia đình có người sử dụng ma tuý và nghiện rượu bia, gia đình có cha mẹ vi phạm pháp luật và ở tù, gia đình có khó khăn về kinh tế. Các nhân tố về kinh tế xã hội bao gồm: mức sống và điều kiện kinh tế khó khăn, tình trạng không/thiếu có việc làm, mức sống dưới trung bình và thường xuyên có tình trạng vi phạm pháp luật, tội phạm. Những điều kiện đó sẽ có thể khiến cho trẻ em tiếp cận sử dụng ma tuý và mang lại những hậu quả lớn cho các em. Nghiên cứu cũng xem xét đến việc phòng ngừa dựa trên việc sử dụng những kinh nghiệm và chiến lược của các chuyên gia về sức khỏe tâm thần.
Đồng thời nghiên cứu này là cơ sở cho một dự án về xây dựng một môi trường học đường không có việc lạm dụng ma túy [44]. Kurth, and Harold W.Neighbors (1991) nghiên cứu sự khác biệt trong việc sử dụng ma túy hợp pháp và bất hợp pháp của học sinh THPT tại Mỹ. Nghiên cứu cho biết sự khác biệt các yếu tố về tính cách, nhân cách của các sắc tộc, quốc gia khác nhau tạo nên sự khác nhau trong việc sử dụng ma tuý, loại ma tuý sử dụng. Cụ thể, trong nhóm học sinh nghiên cứu 8 thì những học sinh bản địa, chính gốc thường có nguy cơ sử dụng thuốc lá, rượu và các chất ma túy bất hợp pháp.
Trong đó, tỉ lệ học sinh da trắng nhiều hơn học sinh da đen. Người Mỹ gốc Á chiếm tỉ lệ SDMT thấp nhất. Khả năng sử dụng ma túy cao đáng kể là nhóm học sinh Tây ban nha với loại ma túy sử dụng phổ biến là Cocaine ở học sinh nam. Xu hướng chung của việc SDMT là sử dụng trong những nhóm nhỏ [30].Lee (1999) thuộc trường Đại học West Indies (University of the West Indies, Kingston, Jamaica) nghiên cứu về “Sử dụng ma túy bất hợp pháp trong học sinh trung học phổ thông ở Jamaica”, năm 1999.
Công trình này công bố kết quả điều tra, đánh giá việc sử dụng ma túy bất hợp pháp trong học sinh THPT ở Jamaica với tổng cộng 2417 học sinh THPT thuộc 26 trường thuộc thành thị và nông thôn được điều tra. Trong đó có 1063 em nam và 1354 em nữ; 1072 em ở khu vực nông thôn và 1345 em ở khu vực thành thị; học sinh lớp 10 là 1317 em và học sinh lớp 11 là 1100 em. Kết quả đánh giá cho biết về tình hình sử dụng các chất ma túy trong các em: 10,2% sử dụng cần sa, 2,2% sử dụng Cocain, 1,5% sử dụng Heroin và 1,2% sử dụng ma túy thuộc nhóm Opium. Tỉ lệ học sinh THPT sử dụng ma túy ở nam cao hơn nữ, và ở khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn.
Những yếu tố ban đầu được xác định là những yếu tố nguy cơ dẫn đến sử dụng ma tuý là môi trường có sẵn ma tuý, hoàn cảnh gia đình nghèo khó, ít hiểu biết về tính chất và tác hại của ma tuý, giao lưu đua đòi bạn bè [56]. Các tác giả Ryoko Yamaguchi, Lloyd D. O’Malley (2003) nghiên cứu về “Mối quan hệ giữa học sinh sử dụng ma túy trái phép và ma túy học đường- Những cách thức nghiên cứu” đã chỉ ra những cách nhận biết học sinh sử dụng ma túy, thái độ của học sinh đối với việc SDMT. Nghiên cứu này cũng chỉ ra cách phòng ngừa hành vi sử dụng ma túy, những giá trị, thái độ và quan niệm có giá trị quan trọng trong việc tham gia giải quyết tình trạng này nhằm ngăn ngừa việc sử dụng và sử dụng thử ma túy trong học sinh [72].
Các tác giả Rachel Lipari của Samhsa và Larry A. Pemberton (2015) của RTI International đã phối hợp nghiên cứu về “yếu tố nguy cơ, yếu tố bảo vệ và cơ sở của việc sử dụng chất: kết quả nghiên cứu từ cuộc điều tra quốc gia năm 2014 về sử dụng ma tuý và sức khoẻ”. Nghiên cứu này chỉ ra rằng: năm 2014, hầu hết cá nhân từ 12 đến 25 tuổi có nguy cơ cao sử 9 dụng ma tuý thuộc nhóm ảo giác là cocain và LSD. Cũng trong lứa tuổi trên, tỉ lệ cá nhân có nguy cơ sử dụng heroin chiếm khoảng 83,1% và tỉ lệ cá nhân có nguy cơ sử dụng các đồ uống có cồn lại giảm một nửa so với thời gian từ 2002 đến 2013.
Trong khi đó, tỉ lệ cá nhân có nguy cơ sử dụng thuốc lá khoảng 1-2 bao/ngày lại có xu hướng chững lại và ổn định [51]. Claire James (2013) thuộc Tổ chức Mentor (Anh)- là tổ chức từ thiện phòng ngừa SDMT cho trẻ em, trong ấn bản “Drug Prevention Programmes in Schools: What is the evidence?” đề cập đến các lý thuyết và mô hình phòng ngừa SDMT trong học đường dành cho học sinh từ 11 đến 18 tuổi dựa trên các nghiên cứu thực chứng. Các nghiên cứu thực chứng đó chỉ ra các yếu tố, biểu hiện và dấu hiệu ban đầu của việc sử dụng ma tuý như việc thử dùng ma tuý, sử dụng rượu, bia, thuốc lá quá mức,. trên cơ sở đó xây dựng nên các chương trình giáo dục chủ động cho trẻ em trong học đường như giáo dục kỹ năng sống phòng chống ma tuý, giới tính,… nhằm trang bị cho các em kỹ năng tự phòng ngừa SDMT và ngăn ngừa các hành vi SDMT bất hợp pháp trước khi các em sử dụng ma tuý [48].
Nghiên cứu của Glen R. Fleckenstein (2012) chỉ ra tình trạng sử dụng và lạm dụng ma tuý ở Mỹ, những biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn lạm dụng ma tuý. Cụ thể trong nghiên cứu này, tác giả đề cập đến tình hình sử dụng, lạm dụng ma tuý trong các nhóm cộng đồng tại Mỹ, bao gồm nhóm thanh thiếu niên; vai trò và tác dụng của hệ thống luật pháp Mỹ đối với việc lạm dụng ma tuý Ma tuý và việc kiểm soát phòng ngừa ngay từ khi chưa sử dụng ma tuý. Nghiên cứu cũng mô tả các hiệu ứng dược học của rượu, thuốc lá và chất ma tuý khác khi vào cơ thể, từ đó đề xuất luật pháp cần có quy định để kiểm soát sự lưu hành các chất này trước khi đưa vào cơ thể, các quy định về kiểm soát các yếu tố xã hội trong cộng đồng nhằm ngăn chặn ma tuý và sử dụng ma tuý có hiệu quả [45][46].
Nghiên cứu của Văn phòng phục vụ sức khoẻ và con người Mỹ về tình trạng phụ thuộc ma tuý trong xã hội Mỹ (1987) đưa trong tài liệu “Lạm dụng ma tuý và nghiên cứu về lạm dụng ma tuý: báo cáo nghiên cứu thứ hai tới Quốc hội” đã chỉ ra những nguy cơ chết người do tiêm chích dẫn đến tỷ lệ bệnh AIDS ngày càng cao. Nghiên cứu cũng chỉ ra các biện pháp để phòng tránh việc tiếp cận sử dụng ma tuý và điều trị tác hại của ma tuý đối với các nhóm lứa tuổi, 10 trong đó có lứa tuổi học sinh trung học phổ thông. Trong nghiên cứu cũng mô tả cụ thể về các chất độc của ma tuý đối với cơ thể người sử dụng [67]. Nghiên cứu của M.
Hodgson (1991) thuộc tổ chức y tế thế giới (WHO) trong “Biện pháp đối với các vấn đề về ma tuý và rượu trong cộng đồng: Sổ tay chăm sóc sức khoẻ người lao động với những hướng dẫn cho huấn luyện viên” năm 1991 đã đưa ra những đánh giá chung về tình hình lạm dụng ma tuý và rượu ở cá nhân, gia đình và các tầng lớp trong cộng đồng, nhất là nhóm học sinh. Nghiên cứu cũng chỉ ra những nguyên nhân căn bản của việc sử dụng ma tuý là từ cá nhân, từ thói quen của một nhóm người và truyền thống của một cộng đồng người. Nghiên cứu cũng đưa ra những hướng dẫn về cách thức tổ chức việc phục vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người sau cai nghiện ma tuý để phòng ngừa lạm dụng ma tuý, rượu; phòng tránh và giảm bớt sự lạm dụng rượu. Nghiên cứu nhấn mạnh đến vai trò của sự trợ giúp cá nhân, giáo dục đào tạo trong cộng đồng, nhằm phòng ngừa và giải quyết những vấn đề hậu quả của việc lạm dụng ma tuý và rượu [42].
Bachman, và John E. Schulenberg (2011) thuộc Viện điều tra xã hội thuộc Đại học Tổng hợp Michigan, dưới sự tài trợ của Viện nghiên cứu Quốc gia về lạm dụng ma túy của Mỹ (NIDA), đã nghiên cứu về vấn đề “Học sinh Trung học phổ thông và những xu hướng của tuổi thanh niên”. Nghiên cứu đã chỉ ra tình trạng sử dụng và thử sử dụng các chất ma tuý của lứa tuổi thanh niên ở Mỹ gắn liền với xu hướng thích hưởng thụ và trải nghiệm những điều mới lạ trong học sinh THPT tại Mỹ. Những vấn đề giáo dục trong nhà trường, gia đình và những biến đổi của môi trường xã hội, vấn đề di cư và sắc tộc, bạo lực học đường đã ảnh hưởng đến xu hướng của lứa tuổi học sinh THPT.
Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho biết những xu hướng này đang có chiều hướng ngày càng phức tạp và khó kiểm soát. Công trình nghiên cứu của các tác giả Denise Kandel, Eric Single, và Ronald C. Kessler (1976) về “Dịch tễ học về việc sử dụng ma túy trong học sinh trung học bang New York: phân bố, khuynh hướng và thay đổi trong tỉ lệ sử dụng” đã đánh giá về việc sử dụng rượu, thuốc lá, amphetamine, LSD, Cocain, các loại ma túy gây ảo giác khác trong lứa tuổi đầu thanh niên đang học Trung học phổ thông. Nghiên cứu này chỉ ra một số yếu tố đưa đến việc SDMT ở nhóm học sinh THPT gồm có: tò mò, thích thử nghiệm cảm giác lạ, thể hiện 11 bản thân trong nhóm bạn.