Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Tính tích cực hoc tập — một van dé từ lâu đã được nhiều nhà tâm lý học, giáo dục học trong nước cũng như trên thé giới quan tam nghiên cứu dưới rất nhiều góc độ khác nhau. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Trước hét, phải kê dén các tác giả nghiên cứu về vai trò, ý nghĩa cua tính tích cực, tính tích cực học tập và các thành phân của nó làm nên móng cho các công trình nghiên cứu tiếp theo, đó là: - Ngay từ thời cổ đại, van dé phát huy tính tích cực học tập đã được chú ý. Nhà triết học Hy Lạp Xôcrat đã đề ra phương pháp vấn đáp Ơristic.
Với phương pháp này, người thay giáo đã dẫn dat, gợi mở dé học sinh đi tìm chân lý, hình thành tính tự lực và phát huy trí lực của họ. - Đầu thế kỷ XVI, nhà giáo dục học Tiệp Khắc Kômenxki trong tác phẩm “Lý luận dạy học vi đại” của minh, lần đầu tiên trong lịch sử đã nêu tính tự giác, tính tích cực với tư cách là một trong những nguyên tắc dạy học quan trọng và cơ bản nhất.LRubinxtein khang định “Bat kỳ hoạt động nào của con người cũng xuất phát từ chỗ nó là như một cá nhân, như một chủ thê của hoạt động đó”. Chỉ có trong hoạt động và bằng hoạt động thì tính tích cực cũng như tâm lý, ý thức của con người mới bộc lộ, nảy sinh, hình thành và phát triển [30, tr. Thứ hai, dựa trên tư tưởng nghiên cứu của các tác giả trên, hàng loạt công trình nghiên cứu về sự hình thành tính tích cực và tính tích cực học tập của học sinh ra đời, tiêu biêu là các công trình của các tác giả: - LF.Kharlamop với tác phẩm “Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào”.
Trong tác phẩm, ông đã nêu lên một loạt những phương pháp, những thủ thuật như phép tương tự, phép phân tích — tong hợp, quy nạp, tim nguyên nhân gây ra hiện tượng, nhắn mạnh mâu thuẫn chứa dung trong tài liệu, nhằm kích thích và phát huy tính tích cực nhận thức ở học sinh. Tự học cũng có khả năng phát huy tính tích cực học tập của học sinh ở mức độ cao nên giáo viên chỉ dẫn chu đáo giúp học sinh xác định nhiệm vụ vả trình tự thực hiện, giúp học sinh có hướng tự học [22]. - LIa Lecner với “Dạy học nêu van đê”, tác giả coi dạy học nêu vân đê là một phương pháp cơ bản nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh [24].Ok6n trong cuôn “Những cơ sở của việc dạy học nêu van đê”, tác giả cho răng tính tích cực là lòng mong muôn hành động được nảy sinh một cách không chủ định và gây nên những biêu hiện bên ngoài hoặc bên trong của sự hoạt động, chủ thé đã ý thức được mục đích hành động [28]. - Nhà giáo dục Nga K.Usinxki trong các tác phẩm của mình đã nhiều lần khẳng định tầm quan trọng của tính tích cực và độc lập trong quá trình học tập của học sinh.
Ông coi tính tích cực vả tính độc lập là cơ sở vững chắc cho mọi sự học tập có hiệu quả. Vì vậy, khi dạy cho học sinh các môn học, giáo viên tạo ra cho họ tự mình nhớ lại cái mà mình quan sát và cuối cùng rut ra kêt luận từ những quan sát của mình [6]. Và còn rất nhiều các công trình nghiên cứu về lý luận và thực tiễn gắn liên với tên tuôi của các nha tâm ly học và giáo dục học như: I.K Balanxki, LA Hina, M. Như vậy, các nhà Giáo dục học và Tâm lý học đều cho rằng tính tích cực học tập của học sinh là sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý nhằm nhận thức và cải tạo thế giới đồng thời cũng nhận thức và cải tạo chính bản thân mình.
Tính tích cực học tập của học sinh được nảy sinh, hình thành và phát triển trong hoạt động và băng hoạt động. Người học chỉ có thé chiếm lĩnh được kinh nghiệm xã hội, chiếm lĩnh tri thức của nhân loại thành tri thức của bản thân khi họ tích cực, chủ động hoạt động, tự chiếm lĩnh và khám phá ra tri thức dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo của người dạy. Các công trình nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về van đề phát huy tính tích cực học tập và độc lập nhận thức, nghiên cứu tính tích cực hóa hoạt động học tập ở học sinh, sinh viên đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Tiêu biểu có thê kê đên một sô tác giả sau: - Nguyễn Như An với công trình: “Phát huy tính tích cực học tập và nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học giáo dục ở các khoa không chuyên tâm lý giáo duc” [1].
- Đặng Vũ Hoạt cho rằng tính tích cực nhận thức biểu hiện ở chỗ huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý, đặc biệt là chức năng tư duy. Trong đó, sự kết hợp thông nhất giữa các yếu tô tâm lý nhận thức với các yếu tô tình cảm ý chí càng linh hoạt bao nhiêu thì ở học sinh tính tích cực càng cao bấy nhiêu [19]. - Nguyễn Ngọc Bảo: Với công trình nghiên cứu “Một vài suy nghĩ về khái niệm tính tích cực, tính độc lập nhận thức và mối liên hệ giữa chúng”, tác giả cho răng tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thê đối với khách thé thông qua sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý nhằm giải quyết những vấn đề học tập. Nó vừa là mục đích học tập vừa là phương tiện vừa là điều kiện để đạt mục đích, vừa là kết quả của học tập.
Nó là sản phẩm hoạt động cá nhân [6, tr. - Trần Bá Hoành với các công trình: “Phương pháp dạy học tích cực”, nghiên cứu giáo dục (3), 1991; Trần Bá Hoành, Lê Tràng Định, Phó Đức Hòa: “Áp dụng dạy học tích cực trong môn tâm lý — giáo dục học”. Trong đó các tác giả nêu lên khái niệm tính tích cực nhận thức trên cơ sở tiếp thu quan niệm của IL. Các tác giả coi “hứng thú va tự giác là hai yếu tố tâm lý tạo nên tính tích cực”, theo họ tính tích cực là phẩm chất vốn có của con người và được biểu hiện trong hoạt động.
Tính tích cực học tập là sự gắng sức cao trong hoạt động học tập mà chủ yếu trong hoạt động nhận thức [16], [17]. - Các nhà Tâm lý học Sư phạm như Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng, Phạm Thành Nghị, Phan Trọng Ngọ.trong các công trình nghiên cứu của mình cũng đã coi hoạt động học tập của học sinh, sinh viên là một quá trình nhận thức tích cực. Đó là hoạt động đặc thù chỉ có ở con người nhằm lĩnh hội tri thức nhân loại chuyên thành tâm lý, ý thức của bản thân cho nên muốn đạt được mục đích dạy học thì phải tạo ra được tính tích cực trong hoạt động học của học sinh, sinh viên, làm cho “Các em vừa ý thức được đối tượng cần lĩnh hội vừa biết cách chiếm lĩnh được đối tượng đó” [20]. Một số luận văn, luận án liên quan đến đề tài: - Luận án PTS của Nguyễn Xuân Thức với đề tài “Nghiên cứu tính tích cực giao tiếp của trẻ mẫu giáo 5 — 6 tuổi trong hoạt động vui choi” đã chỉ rõ cơ sở lý luận về tính tích cực nói chung và tính tích cực học tập của học sinh nói riêng [33].
- Luận án Tiến sỹ Tâm lý học của Đỗ Thị Coỏng: “Nghiên cứu tính tích cực học tập môn tâm lý học của sinh viên đại học sư phạm Hải Phòng” đã nghiên cứu tính tích cực học tập môn tâm lý của học sinh được biêu hiện ở các mặt: nhận thức, thái độ, các hành động học và kết quả học tập [9]. - Luận văn thạc sỹ Tâm lý học của Phạm Minh Thu: “Tính tích cực học tập môn tâm ly học của học sinh trung học chuyên nghiệp” [31]. Như vậy, các công trình nghiên cứu đã khang định ý nghĩa của tính tích cực và đưa ra một số biện pháp nâng cao yếu tố tâm lý đó góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh, sinh viên. Tuy nhiên, vấn đề tính tích cực học tập môn CT, đặc biệt lại nghiên cứu trên khách thê là học sinh các trường trung cấp Công an nhân dân thì vẫn còn ít người nghiên cứu.
Chính vì vậy, khi chọn đề tài này, chúng tôi hy vọng sẽ góp một phần vào việc nâng cao chất lượng học tập môn CT ở các trường Trung cấp Công an nói chung và đặc biệt là ở trường TCCSNDI nói riêng. Một số khái niệm cơ bản 1. Hoạt động học tập 1. Khái niệm hoạt động học tập Học tập là một trong những hoạt động cơ bản giúp người học tiếp thu nền văn hoá xã hội, những tri thức, kinh nghiệm xã hội — lịch sử dé biến thành “vốn” riêng của mỗi người.
Dé lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội có nhiều cách học. Theo tác giả Lê Văn Hồng có hai cách: học ngẫu nhiên và học có mục đích [20, tr. - Học ngẫu nhiên: Việc nắm vững được tri thức, kinh nghiệm, hình thành những kỹ năng, kỹ xảo cũng như các phương thức hành vi thông qua việc thực hiện các hoạt động khác nhau trong đời sống hàng ngảy. Nói cách khác việc học diễn ra một cách không chủ định, không có mục đích đặt trước.
Kết quả của cách học này 1a: những kinh nghiệm lĩnh hội được không trùng hợp với những mục đích trực tiếp của chính hoạt động hay hành vi. Người học chỉ lĩnh hội những gì liên quan trực tiếp với các nhu cầu, hứng thú, các nhiệm vụ trước mắt, còn cái khác thì bỏ qua. Cách học này chỉ mang lại cho con người những kiến thức tiền khoa học, có tính chất ngẫu nhiên, rời rạc, không hệ thống, chỉ hình thành những năng lực thực tiễn do kinh nghiệm hàng ngày trực tiếp mang lại. Song, thực tiễn lại đòi hỏi con người phải có những tri thức khoa học thực sự, phải hình thành những năng lực thực tiễn mới mà cách học ngẫu nhiên dựa trên cơ sở hoạt động sống “tự nhiên” không thé tạo ra được.
Dé dat được điều này con người cần phải tiễn hành một hoạt động đặc biệt mà mục đích cơ bản của nó chính là học. Hoạt động đó được gọi là hoạt động học (có thể gọi là học có mục đích hay học tập). - Học có mục đích: là một dạng hoạt động đặc thù của con người.