CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Các định nghĩa, khái niệm.1 Khái niệm về SKTT và vấn đề SKTT Khái niệm sức khỏe tâm thần (WHO, 2001): SKTT không chỉ là không bị mắc các rối loạn về tâm thần. Sức khỏe tâm thần được định nghĩa là một tình trạng sức khỏe mà mỗi cá nhân nhận thức rõ khả năng của mình, có thể đối phó với những căng thẳng bình thường trong cuộc sống, làm việc hiệu quả và thành công và có thể đóng góp cho cộng đồng. SKTT bao hàm trạng thái thoải mái, sự tự tin vào năng lực bản thân, tính tự chủ, năng lực và khả năng nhận biết những tiềm năng của bản thân (2). SKTT là sự hài hòa giữa các mối quan hệ giữa bản thân và người khác, môi trường xã hội giúp cá nhân học tập làm việc một cách hiệu quả nhất (3,4).
SKTT là nền tảng của sự khỏe mạnh và hoạt động hiệu quả cho mỗi cá nhân và cộng đồng. Vấn đề SKTT là trạng thái tâm lý bất thường, có rối loạn hay dị tật tâm thần hoặc đơn thuần là một trạng thái tâm thần không thoải mái, không được cân bằng về cảm xúc, không có sự hòa hợp giữa các mối quan hệ cá nhân, gia đình, xã hội. Cá nhân có vấn đề SKTT không nhận ra năng lực của mình hoặc ít có khả năng giải quyết các vấn đề xảy ra hàng ngày với thái độ quá tiêu cực và cực đoan, từ đó dẫn đến không làm việc hiệu quả (3). Rối loạn tâm thần là trạng thái tâm trí liên quan đến sự nhầm lẫn giữa điều gì là thực và điều gì không có thực.
Rối loạn tâm thần có thể ảnh hưởng đến tất cả năm giác quan, hành vi và cảm xúc của họ. Trong một giai đoạn rối loạn tâm thần, tâm trí mất một số liên lạc với thực tế. Một người có thể có những trải nghiệm khó hiểu và đáng sợ không chỉ đối với bản thân mà còn đối với những người xung quanh. Vấn đề SKTT thường nhẹ và ngắn hơn so với rối loại tâm thần nhưng nó có thể phát triển thành các rối loạn tâm thần.
Một người có thể gặp một hoặc nhiều vấn đề SKTT nhưng chưa chắc đã bị rối lọan tâm thần.2 Khái niệm về vị thành niên VTN là một giai đoạn chuyển tiếp thể chất và tinh thần trong sự phát triển của con người diễn ra giữa giai đoạn trẻ em và trưởng thành (14). Đây là giai đoạn phát triển đặc biệt với một loạt những thay đổi về thể chất, tâm lý và sự thay đổi về các kết nối xã hội và tách khỏi cha mẹ, nhằm đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ của lứa tuổi. Đây cũng là giai đoạn dễ nảy sinh nhiều rối nhiễu tâm lý nhất so với các lứa tuổi khác và cần thiết được quan tâm chú ý nhiều hơn. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), lứa tuổi VTN từ 10-19 tuổi, thường được chia ra làm 3 giai đoạn: • VTN sớm (10-13 tuổi): nhóm tuổi này bao gồm học sinh lớp 4, lớp 5 của bậc tiểu học và lớp 6, lớp 7 của bậc THCS.
Ở giai đoạn này VTN phụ thuộc chủ yếu vào gia đình. Đây là khoảng thời gian các em bắt đầu chuyển từ trẻ con sang người lớn, tập làm quen và học hỏi những kĩ năng cơ bản nhất ngoài môi trường gia đình. • VTN giữa (14-16 tuổi): nhóm tuổi này bao gồm học sinh lớp 8, lớp 9 của bậc THCS và lớp 10 của bậc THPT. Giai đoạn này VTN phát triển cả về thể chất và xuất hiện những thay đổi về mặt tâm lý.
Trong giai đoạn này VTN phụ thuộc nhiều vào gia đình. Tuy nhiên các em có xu hướng chia sẻ và tương tác nhiều hơn với bạn bè. Bắt đầu nảy sinh sự tò mò về sự phát triển của bản thân cũng như sự khác biệt về giới tính. • VTN muộn (17-19 tuổi): nhóm tuổi này bao gồm các học sinh lớp 11 và lớp 12 của bậc THPT.
Đây là giai đoạn kết thúc quá trình giáo dục cơ bản, đồng thời đây cũng là giai đoạn mà mỗi cá nhân VTN cần lựa chọn định hướng nghề nghiệp cho tương lai của bản thân mình. Đây cũng là giai đoạn hòan thiện sự phát triển về mặt thể chất và thay đổi về mặt tâm lý phù hợp với sự thay đổi trong môi trường gia đình và trường học. Tại Việt Nam, theo “Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản” ban hành kèm theo quyết định số 4128/QĐ-BYT ngày 29/7/2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế, lứa tuổi VTN từ 10-18 tuổi và được chia ra 3 giai đoạn: 6 • VTN sớm (10 - 13 tuổi) • VTN giữa (14-16 tuổi) • VTN muộn (17-18 tuổi) (15). Sự phân chia các nhóm dựa trên sự phát triển thể chất, tâm lý xã hội của từng thời kỳ.
Trong nghiên cứu, ĐTNC đang theo học cấp THPT nằm trong độ tuổi 15-18 tuổi, hiện đang học lớp 10 đến lớp 12. Đây là độ tuổi chuyển giao giữa nhóm VTN giữa và nhóm VTN muộn. Đây là khoảng thời gian các em định hướng giá trị bản thân cũng như con đường tương lai. Cùng với đó là môi trường học tập căng thẳng, cạnh tranh khiến tâm lí ở VTN căng trở nên nhạy cảm, dễ nảy sinh các rỗi nhiễu về mặt tâm lý.3 Phân loại Sức khỏe tâm thần: Hiện nay phân loại SKTT được sử dụng phổ là Bảng phân loại quốc tế về bệnh tật tử vong theo ICD-10.
Theo quyết định số 4469 ngày 28/10/2020 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành “Bảng phân loại quốc tế mã hoá bệnh tật, nguyên nhân tử vong ICD 10 (được dịch từ Bảng phân loại quốc tế về bệnh tật và nguyên nhân tử vong do Tổ chức Y tế Thế giới chủ trì sửa đổi, bổ sung phiên bản sửa đổi lần thứ 10 ban hành năm 1990 và cập nhật lần cuối vào 2019) và “Hướng dẫn mã hoá bệnh tật theo ICD 10” áp dụng tại các cơ sở khám, chữa bệnh trên toàn quốc, rối loạn tâm thần hành vi bao gồm: 1. Rối loạn tâm thần thực tổn bao gồm rối loạn tâm thần triệu chứng: F00-F09 2. Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng chất tác động tâm thần: F10-F19 3. Tâm thần phân liệt, rối loạn dạng phân liệt và hoang tưởng: F20-F29 4.
Rối loạn khí sắc (cảm xúc): F30-F39 5. Các rối loạn bệnh tâm căn có liên quan đến stress và rối loạn dạng cơ thể: F40-F48 6. Hội chứng hành vi kết hợp với rối loạn sinh lý và nhân tố cơ thể: F50-F59 7. Rối loạn nhân cách và hành vi ở người trưởng thành: F60-F69 8.
Chậm phát triển tâm thần: F70-F79 9. Các rối loạn về phát triển tâm lý: F80-F89 10. Các rối loạn hành vi và cảm xúc thường khởi phát ở tuổi trẻ em và thanh 7 thiếu niên: F90-F98 11. Rối loạn tâm thần không biệt định: F99 (16).
Các vấn đề SKTT trong nghiên cứu cho đối tượng lứa tuổi vị thành niên thuộc phân nhóm 10: F90-F98 (16).4 Công cụ đánh giá tình trạng sức khoẻ tâm thần vị thành niên Có ba bộ công cụ thường được sử dụng trong nghiên cứu SKTT VTN hiện nay là: Bảng hỏi dành cho vị thành niên (YSR-The youth selfreport), Bảng kiểm hành vi trẻ em (CLCB-The child behavior checklist) và Bộ công cụ những điểm mạnh và khó khăn (SDQ-The StrengtHọc sinh and Difficulties Questionnaire).1 Bảng hỏi dành cho vị thành niên (YSR-The youth self report) Bộ công cụ YSR được tác giả Achenbach phát triển (17,18), được nhóm tác giả Đặng Hoàng Minh và cộng sự việt hóa và chuẩn hóa ở Việt Nam trong dự án “Dịch tễ học các vấn đề sức khỏe tinh thần trẻ em Việt Nam năm 2008”. Có 112 câu hỏi tương ứng với 112 biểu hiện trong khoảng thời gian 6 tháng tính đến thời điểm đánh giá trong bảng hỏi YSR. Trong mỗi câu hỏi có 3 mức độ được đánh giá: (0: không đúng; 1: một phần đúng một phần sai; 2: rất đúng hoặc thường xuyên đúng). Có 2 cách tính điểm trong bộ công cụ YSR: (1) tính điểm tổng của thang đo, (2) tính điểm theo 8 hội chứng của thang đo: hành vi xâm kích, vấn đề chú ý, lo âu/trầm cảm, các vấn đề xã hội, bệnh tâm thể, thu mình/trầm cảm, phá bỏ qui tắc, vấn đề tư duy.
Ưu điểm của bảng hỏi này: có độ tin cậy cao, được sử dụng để sàng lọc cũng như chuẩn đoán các vấn đề tâm thần của trẻ em (19). Tuy nhiên hạn chế của bộ công cụ là khá dài (112 câu hỏi) và phải mua bản quyền từ tác giả.2 Bảng kiểm CBCL-The child behavior checklist Bảng kiểm CBCL do tác giả Achenbach phát triển và đã được dịch sang 58 ngôn ngữ khác nhau. Bảng kiểm CBCL có bảng kiểm: dành cho trẻ từ 2-3 tuổi (do cha mẹ điền); dành cho trẻ từ 6-18 tuổi (cho trẻ và cha mẹ điền). Có 113 câu hỏi được đánh giá theo 3 mức độ (0: không đúng; 1: một phần đúng một phần sai; 2: rất đúng hoặc thường xuyên đúng).
Trong bảng kiểm CBCL, có 8 thang đo là lo âu/trầm cảm, than phiền cơ thể, thu mình, vi phạm luật lệ và tính công kích, vấn đề xã hội, vấn đề tư duy, vi phạm luật lệ và tính công kích. Ưu điểm của bảng kiểm này là có độ tin cậy 8 cao, đánh giá được nhiều vấn đề SKTT, đánh giá được nhiều độ tuổi (20). Tuy nhiên cũng như bộ công cụ YSR, bảng kiểm CBCL cần nhiều thời gian để điền phiếu và phải mua bản quyền của tác giả (18).3 Bảng hỏi điểm mạnh và khó khăn (SDQ hay SDQ 25-The StrengtHọc sinh and Difficulties Questionnaire). Bộ công cụ SDQ 25 là bảng hỏi được thiết kế bởi tác giả Robert Goodman tại Viện Tâm thần London thuộc Đại học London xây dựng năm 1997 (21,22).
Công cụ nghiên cứu sử dụng đo lường SKTT của học sinh trong nghiên cứu này là bộ công cụ SDQ 25 được Trung tâm nghiên cứu và đào tạo phát triển cộng đồng (RTCCD) nghiên cứu và chuẩn hóa tháng 2/2005 tại Việt Nam (23). Bộ công cụ SDQ 25 có 3 bảng hỏi sàng lọc các vấn đề SKTT của trẻ cho 3 đối tượng trả lời bao gồm: trẻ từ 11-17 tuổi, cha mẹ và giáo viên của trẻ 3-17 tuổi nhằm đánh giá các biểu hiện dưới góc nhìn của trẻ, người chăm sóc và giáo viên. Khả năng chẩn đoán của bộ câu hỏi SDQ25 phiên bản tiếng Việt RTCCD 2004 đạt từ 0,70 đến 0.79 tuỳ theo đối tượng và phương thức lấy tin. Khả năng chẩn đoán của bộ câu hỏi SDQ25 không khác nhau giữa phương thức tự điền và phỏng vấn.