CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu tâm lý học đường 1. Lịch sử nghiên cứu tâm lý học đường tại nước ngoài Tâm lý học đường là một nhánh của nghành Tâm lý học được ra đời vào những năm đầu thế kỷ XX tại Mỹ. Hiện nay, dịch vụ này đã phát triển và rất được quan tâm tại những nước phát triển.
Đây là ứng dụng thực tế của Tâm lý học vào môi trường học đường, trong đó có vận dụng các kiến thức, kỹ năng của Tâm lý học phát triển, Tâm lý học nhận thức, Tâm lý học giáo dục và Tâm lý học lâm sàng. Davis có thể được xem là một trong những người đầu tiên trong lĩnh vực này khi giới thiệu một chương trình “Những hướng dẫn về nghề nghiệp và đạo đức” (Vocational and Moral Guidance) cho học sinh trường công và Frank Parsons, được xem như là cha đẻ của nghề Hướng dẫn (còn gọi là Khải đạo), khi ông giới thiệu cuốn sách “Lựa chọn một nghề” (Choosing a Vocation) (1909), trong đó ông trình bày những phương pháp kết nối những đặc điểm tính cách của mỗi cá nhân với một nghề nghiệp. Frank Parsons đã hình dung ra công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp có hệ thống trong trường học. Nguyên tắc của ông trong công tác hướng dẫn tư vấn nghề đã ảnh hưởng sâu sắc đến những lĩnh vực rộng lớn hơn của công tác tham vấn.
Mục đích chính của Parsons đối với công tác hướng dẫn tư vấn nghề được thể hiện trong 3 quá trình: (1) Thấu hiểu một cách rõ ràng về bản thân, về khả năng thích hoài bão, nguồn lực cũng như những hạn chế của cá nhân đối với nghề, động lực thúc đẩy cá nhân chọn nghề. (2) Kiến thức về những yêu cầu, điều kiện của thành công, những thuận lợi và khó khăn, sự đền bù; những cơ hội và những triển vọng phát triển trong giới hạn khác nhau của công việc. (3) Nguyên nhân thực sự trong mối liên hệ của hai nhóm trong thực tế. 5 luan an Sau này, mặc dù công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp trong trường học được phát triển, song nhiều người đã tán thành việc cần có một cách tiếp cận rộng hơn với tham vấn trong trường học.
Những người này cho rằng, những chuyên gia tư vấn hướng nghiệp không nên chỉ tập trung quan tâm về nghành nghề mà nên chú ý đến sự khác biệt lớn trong những nhu cầu về tâm lý và giáo dục của học sinh. Nói cách khác, những chuyên gia tư vấn hướng nghiệp phải là những nhà tham vấn tâm lý. Trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất, nhu cầu đánh giá các cá nhân bằng trắc nghiệm xuất hiện. Khi chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, đã kéo theo những hậu quả tâm lý nặng nề làm nảy sinh nhu cầu này càng cao và nó đã tác động một cách trực tiếp đến hoạt động hướng nghiệp trong trường học [35].
Năm 1927, chuyên nghành Tâm lý học đường đầu tiên được đào tạo tại trường Đại học New York bao gồm đào tạo đại học và sau đại học. Trong những năm sau đó, tham vấn nói chung và tham vấn tâm lý học đường được nhìn nhận một cách đầy đủ và chính thống hơn. Năm 1930, lý thuyết về các nhân tố và đặc điểm của E. Williamson – lý thuyết chỉ đạo cho hoạt động tham vấn ra đời.
Năm 1940, Đạo luật về giáo dục hướng nghiệp (George Barden) ra đời đã đem lại những nguồn lực quan trọng cho sự phát triển và hỗ trợ cho hoạt động tham vấn trong môi trường học đường cũng như những môi trường khác. Đây là lần đầu tiên những nhà tham vấn tâm lý học đường, những kiểm huấn viên địa phương và các tiểu ban nhận được những sự hỗ trợ chính thức từ chính phủ về sự quản lý, điều hành, tài chính, nhân lực…. Do đó, hoạt động này dần dần đi vào quy củ hơn. Năm 1953, Hiệp hội các nhà tham vấn tâm lý học đường Mỹ (ASCA) tham gia vào APGA – tiền thân của Hiệp hội tham vấn tâm lý Hoa Kỳ ACA (American Counseling Association) ngày nay.
Năm 1962, trong cuốn sách của Wrenn “Nhà tham vấn trong một thế giới thay đổi” (The Counselor in a changing world) đã định chế hóa các mục tiêu của tham vấn học đường. 6 luan an Năm 1964, Hiệp hội các nhà tham vấn tâm lý học đường Hoa Kỳ phát triển các vai trò và chức năng dành cho các nhà tham vấn tâm lý học đường. Năm 1980, các nhà tham vấn tâm lý học đường đã thay đổi chức năng và vai trò của nhà tâm lý học đường từ “đánh giá và đánh giá chuyên sâu” (assessment and placement intensive) sang “đánh giá và can thiệp sâu đối với những nhóm có nguy cơ ở trường phổ thông” (preferential assessment, interventions and at least secondary prevention for at risk groups). Những thay đổi này đã làm cho nỗ lực đáp ứng nhu cầu của sinh viên, học sinh cũng như phụ huynh học sinh, giáo viên và cộng đồng ngày được nâng cao.
Đến những năm của thập niên 80, 90, nhu cầu về việc làm rõ những đặc tính và vai trò của nhà tham vấn tâm lý học đường được xuất hiện với sự “chín muồi” của những vấn đề pháp lý liên quan. Đến năm 1997, các tiêu chuẩn quốc gia dành cho các hoạt động tham vấn, hỗ trợ tâm lý học đường (National Standards for School Counseling Programs) xuất hiện. Kể từ đó, nghành tham vấn Tâm lý học đường được xem như chính thức ra đời. Hiện nay, Hiệp hội các nhà tham vấn Tâm lý học đường Hoa Kỳ (ASCA) được xem như là nguồn tham khảo và kiểu mẫu cho các chương trình tham vấn, hỗ trợ tâm lý học đường của hầu hết các nước trên thế giới.
ASCA hiện là một phân hội của ACA với hơn 23.000 hội viên trên toàn thế giới. Ngày nay, các dịch vụ tham vấn, hỗ trợ tâm lý học đường đã trở nên phổ biến và không thể thiếu được trong các trường học, các cơ sở đào tạo ở Anh, Pháp, Nga, Đức…. và nhiều quốc gia khác trên thế giới. Ở Nga, hoạt động trợ giúp tâm lý xuất hiện muộn hơn vào khoảng những năm 80 của thế kỷ XX cùng với những thực nghiệm tâm lý nhằm ứng dụng Tâm lý học vào các trường học của thành phố Mátxcơva.
Tại đây, chính sự xuất hiện nhiều chương trình, nhiều phương pháp dạy học khác nhau, các cơ sở đào tạo mới ra đời và sự xuất hiện của các giá trị mới như tự do tư duy, tính tích cực…. đã thúc đẩy sự phát triển của loại hình dịch vụ vừa ra đời này. Lịch sử nghiên cứu tâm lý học đường tại Việt Nam Hiện nay, Tâm lý học đường trên thế giới đã có một quá trình phát triển lâu dài. Tuy nhiên, ở nước ta, Tâm lý học đường vẫn còn là một lĩnh vực khá mới mẻ.
Các hoạt động tham vấn, trợ giúp tâm lý học đường cho học sinh, sinh viên còn chưa được đầu tư và quan tâm đúng mức. Trước đây, trong thời gian chiếm đóng miền Nam Việt Nam, Mỹ đã cho triển khai các hoạt động Khải đạo trong các trường học. Đến năm 1975, khi miền Nam được giải phóng, cách thức tiếp cận với giáo dục đã thay đổi làm cho hoạt động này không còn tồn tại trong các trường học với đúng nghĩa của nó nữa. Năm 1984, trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ và tâm bệnh N-T do bác sĩ Nguyễn Khắc Viện thành lập đã trở thành nơi đầu tiên thực hành, phát triển nghề tham vấn trong đó có lĩnh vực tâm lý trẻ em và gia đình.
Phương châm nghiên cứu của trung tâm là chiết trung, không suy tôn một trường phái nào, không lấy một học thuyết nào làm chính thống. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là nghiên cứu sâu từng trường hợp. Phương pháp này xuất phát từ quan điểm mỗi con người là thế giới riêng. Ngoài nghiên cứu ứng dụng, trung tâm còn biên soạn nhiều đầu sách, chương trình đào tạo, dịch và phổ biến một số phương pháp nghiên cứu tâm lý trẻ em.[4] Ngoài ra phải kể đến các công trình nghiên cứu của Viện tâm lý học, khoa Tâm lý – giáo dục của trường Đại học Sư Phạm, khoa Tâm lý học – trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, các tổ bộ môn tâm lý - giáo dục các trường đại học, cao đẳng sư phạm trong cả nước.
Đó là những cơ sở không chỉ đào tạo nghành tâm lý, giáo dục mà còn là những cơ sở nghiên cứu về tâm lý học đường ở nước ta.Trong những năm qua, sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước có ảnh hưởng nhiều đến hoạt động giáo dục và đào tạo trong nhà trường, gia đình và xã hội. Khi đời sống kinh tế được nâng cao đã làm cho học sinh, sinh viên có điều kiện phát triển về thể lực, trí lực, về kỹ năng sống… Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi quan trọng do sự phát triển 8 luan an kinh tế - xã hội mang lại thì nó cũng có những thách thức. Có thể thấy, trong thập niên gần đây,có khá nhiều học sinh, sinh viên trong các trường học vẫn đang phải đối mặt với các vấn đề tâm sinh lý trong tiến trình phát triển con người và vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình hội nhập. Thực tế cho thấy, chưa bao giờ học sinh phổ thông lại phải chịu một áp lực học tập lớn như hiện nay bởi những kì vọng của gia đình và bối cảnh cạnh tranh gắt gao của cơ chế thị trường.
Những áp lực này đã tạo nên những khó khăn tâm lý rất lớn và các em cần tới sự trợ giúp. Trong nghiên cứu “Một số yếu tố ảnh hưởng đển công tác hướng nghiệp cho học sinh trong các trường trung học phổ thông hiện nay”(Hội thảo Giáo dục Việt Nam trong bối cảnh hội nhập WTO. Hội tâm lí học – giáo dục học 7/2007) tác giả Phạm Mạnh Hà đưa ra nhận định, gần 80% trẻ có rối nhiễu tâm lý có căn nguyên từ học đường. Khi khảo sát thực trạng lo âu của học sinh trung học phổ thông ở Hà Nội năm 2006 người ta thấy cứ 10 trẻ đến tư vấn và trị liệu rối nhiễu tâm lý thì có 7 đến 8 trẻ có căn nguyên liên quan tới vấn đề học đường.Trên nhiều phương tiện truyền thông đại chúng người ta cũng cảnh bảo hiện tượng tự tử hiện nay của học sinh sinh viên cũng xuất phát từ một trong số lý do liên quan tới học tập của các em.