CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ CHẤP NHẬN CỦA SINH VIÊN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về tự chấp nhận của sinh viên 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 1. Nghiên cứu về tự chấp nhận nói chung Khái niệm về cái tôi và những khía cạnh của nó được các nhà tâm lý học quan tâm từ rất sớm.
Tự chấp nhận đã được quan tâm trong tâm lý học về lý thuyết, nghiên cứu và đo lường nổi trội lên từ những năm đầu thế kỉ 20. Tâm lý học nhân văn là lý thuyết tâm lý đầu tiên nhấn mạnh, cân nhắc một cách rất nghiêm túc đối với giá trị và ý nghĩa của tự chấp nhận trong tâm lý học. Các nhà tâm lý học nhân văn tiêu biểu như Carl Roger, Abraham Maslow, Rollo May. Những bằng chứng đầu tiên trong nghiên cứu của Ryff (1989) “Thái độ tích cực đối với bản thân” được xem xét như một phần để định nghĩa tự chấp nhận và đo lường lòng tự trọng.
Những năm cuối thập niên 1940, các nghiên cứu về tự chấp nhận đa số chịu ảnh hưởng dưới góc độ nhân văn đều cho thấy mức độ tự chấp nhận cao có mối liên hệ tích cực với cảm xúc tích cực, làm hài lòng những mối quan hệ xã hội, thành tích và điều chỉnh những sự kiện tiêu cực trong đời sống (Williams & Lynn, 2010). Theo thời gian, tự chấp nhận tiếp tục được nhấn mạnh trong một số hình thức của Liệu pháp nhận thức - hành vi (CBT - Cognitive Behavior Therapy), đặc biệt trong Liệu pháp hành vi cảm xúc hợp lý (REBT - Rational Emotion Behavior Therapy). Năm 1962, Albert Ellis đã đề xuất nhấn mạnh đến sự tự chấp nhận vô điều kiện và xem đó là một khái niệm cốt lõi, một phần không thể thiếu trong liệu pháp nhận thức hành vi. Sau đó tự chấp nhận được đẩy mạnh lên làm nền tảng của Liệu pháp hành vi biện chứng (DBT - Dialectical Behavior Therapy) và Liệu pháp chấp nhận và chú tâm (ACT - Acceptance and Commitment Therapy) (Szentagotai & David, 2013).
Những nghiên cứu đầu tiên phản hồi về mối liên hệ giữa tự chấp nhận vô điều kiện và chấp nhận người khác vô điều kiện trong một dân số ngẫu nhiên từ những sinh viên khỏe mạnh và người lớn cho đến những bệnh nhân hay những tù nhân. Trong khi các nghiên cứu về sau cố gắng nhấn mạnh đến mối liên hệ của tự chấp nhận 10 Luan van với các yếu tố khác của hạnh phúc tâm lý (psychological well-being), sự khác biệt giữa tự chấp nhận và lòng tự trọng (Sheere, 1949; Berger, 1952; Suinn, 1961). Năm 2005, David và Szentagotai đã nghiên cứu một thực nghiệm đóng góp cho quan điểm rằng tự chấp nhận là điều cốt lõi để đạt được hạnh phúc. Nghiên cứu này cũng tin chắc rằng lý thuyết của liệu pháp hành vi cảm xúc hợp lý về tự chấp nhận có thể đóng góp những giá trị nền tảng, không chỉ cho việc nâng cao hiểu biết về hạnh phúc mà còn là việc làm thế nào để đạt được và duy trì hạnh phúc (David & Szentagotai, 2013).
Nghiên cứu của Macinnes (2006) đã tìm hiểu về mối liên hệ giữa các khái niệm lòng tự trọng và tự chấp nhận với sức khỏe tâm lý (Self-esteem and self-acceptance: An examination into their relationship and their effect on psychological health). Kết quả cho thấy, so với dân số chung mẫu nghiên cứu có mức độ tự chấp nhận và lòng tự trọng thấp; mức độ lo âu, trầm cảm và bệnh lý tâm lý (psychological ill health) cao hơn (Macinnes, 2006). Bernard và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu về tự chấp nhận trong giáo dục và tham vấn cho người trẻ (Self-Acceptance in the Education and Counseling of Young People). Năm 2007, ông xây dựng các bài học trong việc giáo dục học sinh về tự chấp nhận (Lesson to Teach Self-Acceptane).
Năm 2012, Bernard đã thực hiện một nghiên cứu trên 254 sinh viên của 4 trường học khác nhau tại Victoria, Úc. Để phát triển tự chấp nhận trong giáo dục và tham vấn cho học sinh, Bernard đã thiết kế bảng khảo sát dành cho trẻ em và thanh thiếu niên về tự chấp nhận (Bernard, 2012a). Ông đã đưa ra một vài lời khuyên tự giúp đỡ dành cho lứa tuổi học sinh trong việc tăng cường tự chấp nhận (Self-Help Tips for Strengthening Your Self-Acceptance) (Bernard, 2012b). Năm 2013, để giúp các em học sinh phát triển tự chấp nhận, ông đã xây dựng hệ thống bài tập nâng cao sự tự nhận thức qua các phản hồi (Bernard, Vernon, Terjesen & Kurasaki, 2013).
Dù là một khái niệm trung tâm của Liệu pháp hành vi cảm xúc hợp lý nhưng tự chấp nhận vô điều kiện lại chưa được kiểm chứng một cách đầy đủ qua các thực nghiệm. Theo đó, một nghiên cứu được Popov và cộng sự (2016) xây dựng trong bối cảnh thực nghiệm để kiểm tra sự ảnh hưởng của tự chấp nhận vô điều kiện trên sức khỏe tâm thần (Unconditional Self-Acceptance and Mental Health in Ego-provoking 11 Luan van experimental context) qua các yếu tố như mức độ tự chấp nhận, kiểu phản hồi và sự hài lòng đối với phản hồi (Popov, Radanovic & Biro, 2016). Năm 2017, Ciuhan và Dumitru đã tiến hành nghiên cứu trên mẫu 300 thanh thiếu niên Rumani (Unconditional Self-Acceptance, Functional and Dysfunctional Negative Emotions, and Self-Esteem as Predictors for Depression in Adolescents: a Brief Pilot Study Conducted in Romania). Kết quả cho thấy mối tương quan giữa tự chấp nhận vô điều kiện, lòng tự trọng và cảm xúc tiêu cực loạn chức năng (functional and dysfunctional negative emotions) của họ với mức độ trầm cảm của thanh thiếu niên tuổi từ 14 đến 17 tại Rumani (Ciuhan & Dumitru, 2017).
Trong vòng ba thập kỉ qua, một lượng lớn các nghiên cứu về tự chấp nhận đã được tiến hành trên thế giới. Từ đó cũng cung cấp, bổ sung thêm các bằng chứng ấn tượng có liên quan đến tầm quan trọng của tự chấp nhận cho sức khỏe tâm thần và cảm nhận hạnh phúc trong đời sống tâm lý con người. Nghiên cứu về tự chấp nhận và sự thể hiện bản thân Lứa tuổi thanh niên sinh viên đối mặt với những áp lực trong việc thể hiện bản sắc cá nhân với những người bạn, cụ thể là trong những kết nối có tính xã hội. Một nghiên cứu của Aricak và cộng sự (2015) tìm hiểu cách tự chấp nhận và giá trị tác động như thế nào đến việc sinh viên thể hiện chân thực bản sắc cá nhân trực tiếp và gián tiếp “như chính họ là” (Mediating effect of self-acceptance between values and offline/online identity expressions among college students).
Kết quả thể hiện rằng sự tự do là một giá trị có ý nghĩa ảnh hưởng đến xu hướng của người tham gia trong việc thể hiện bản sắc cá nhân trực tiếp và gián tiếp. Đồng thời nghiên cứu cũng cho thấy sự tự do, giá trị lãng mạn, phẩm giá con người, xã hội và giá trị nghề nghiệp có một chút ảnh hưởng tích cực nhưng không trực tiếp trên tính chân thực trong việc thể hiện bản sắc cá nhân; trong khi giá trị vật chất, tinh thần và giá trị trí tuệ có một chút ảnh hưởng tiêu cực không trực tiếp (Aricak, Dundar & Saldana, 2015). Một nghiên cứu khác của Denmark (1973) đã xác định tự chấp nhận cũng có mối liên hệ với sự thể hiện bản thân. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng người lãnh đạo với điểm tự chấp nhận vô điều kiện cao được đánh giá là hiệu quả nhất trên địa vị của họ (Szentagotai & David, 2013).
12 Luan van Năm 2016, một nghiên cứu của Popov và cộng sự được thực hiện để tìm hiểu về ảnh hưởng của tự chấp nhận vô điều kiện trên sức khỏe tâm thần qua các chỉ số trong bối cảnh thực nghiệm khơi dậy cái tôi (Unconditional Self-Acceptance and Mental Health in Ego-provoking experimental context). Nghiên cứu được thực hiện trên mẫu là 188 sinh viên, các nhà nghiên cứu đã minh hoạ cuộc nói chuyện trước đám đông, sau đó các sinh viên tham gia có thời gian chuẩn bị trước, trình bày và nhận được các phản hồi (tích cực, tiêu cực và trung tính) một cách ngẫu nhiên (Popov, Radanovic & Biro, 2016). Nghiên cứu về tự chấp nhận trong mối quan hệ với người khác Bên cạnh khái niệm về “tự chấp nhận vô điều kiện”, Albert Ellis có một quan điểm tương đồng, đó là “chấp nhận người khác vô điều kiện” (unconditional others acceptance). Ông định nghĩa rằng “chấp nhận người khác mà không cần bất kì điều kiện tiên quyết nào, không xem xét hành vi, quan điểm hay cách ứng xử của họ như thế nào” (Ellis, 1994).
Ellis đã nhận định rằng yếu tố chính của một mối quan hệ có hiệu quả, xét riêng trong mối quan hệ chính là tư duy hợp lý của mỗi người; người chấp nhận bản thân và người khác một cách vô điều kiện, đó là một điểm khởi đầu tốt đẹp để xây dựng và phát triển mối quan hệ. Ông cho rằng chìa khóa cho cả hai trong việc tìm kiếm và duy trì một mối quan hệ yêu thương là việc chấp nhận người khác một cách hoàn toàn mà không có bất kì sự mâu thuẫn nào trong tư tưởng, học cách để yêu mến sự tự do và sự khác biệt của mỗi cá nhân. Những năm đầu của thế kỉ 20, các nghiên cứu chủ yếu tìm hiểu về mối liên hệ giữa tự chấp nhận và chấp nhận người khác. Trong nghiên cứu của Sheerer (1949) đã tìm ra sự mối liên hệ giữa thái độ của tự chấp nhận và chấp nhận người khác, đây là một trong những nghiên cứu đầu tiên về tự chấp nhận vô điều kiện tập trung giải thích rằng cái tôi là một điểm tựa (anchor) ảnh hưởng đến góc nhìn và thái độ của chúng ta đối với người khác (Williams & Lynn, 2010).
Có các nghiên cứu phản hồi về sự liên hệ giữa tự chấp nhận vô điều kiện và chấp nhận người khác vô điều kiện trong một dân số ngẫu nhiên từ những sinh viên khỏe mạnh và người lớn cho đến những bệnh nhân hay những tù nhân (Sheerer, 1949). Hầu hết các nghiên cứu chủ yếu quan sát một mối quan hệ giữa cảm nhận về bản thân và với người khác dựa trên kinh nghiệm 13 Luan van lâm sàng, chỉ một số nghiên cứu gần đây mới cố gắng nghiên cứu mối quan hệ này một cách có hệ thống. Trên cơ sở nghiên cứu của Sheerer, một nghiên cứu được xây dựng trên mẫu là sinh viên của Trường Đại học Chicago nhằm tìm hiểu mối quan hệ về thái độ đối với bản thân và người khác (The relation between expressed acceptance of self and expressed acceptance of others) dưới ảnh hưởng từ tư tưởng của Carl Rogers.