Nghiên cứu về tự chấp nhận của sinh viên khoa tâm lý học tại trường ĐH Sư Phạm TP.HCM

Nghiên cứu hệ thống về tự chấp nhận của sinh viên tâm lý học tại ĐH Sư Phạm TP.HCM, phương pháp định lượng kết hợp định tính, góp phần phát triển

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận

2018-2019

93
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục đích nghiên cứu

0.3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

0.4. Giả thuyết nghiên cứu

0.5. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.6. Giới hạn nghiên cứu

0.7. Phương pháp nghiên cứu

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ CHẤP NHẬN CỦA SINH VIÊN

1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về tự chấp nhận của sinh viên

1.1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.1.1. Nghiên cứu về tự chấp nhận nói chung

1.2. Nghiên cứu về tự chấp nhận và sự thể hiện bản thân

1.3. Nghiên cứu về tự chấp nhận trong mối quan hệ với người khác

Tóm tắt

I. Giới thiệu về tự chấp nhận

Tự chấp nhận là một khái niệm quan trọng trong tâm lý học, đặc biệt trong bối cảnh sinh viên tâm lý học tại ĐH Sư Phạm TP.HCM. Tự chấp nhận không chỉ là việc chấp nhận bản thân mà còn là quá trình nhận thức và đánh giá giá trị của chính mình. Theo Albert Ellis, tự chấp nhận vô điều kiện là một thành tố cốt lõi trong liệu pháp hành vi cảm xúc hợp lý (REBT). Điều này nhấn mạnh rằng cá nhân cần phải chấp nhận mọi khía cạnh của bản thân, bao gồm cả những sai lầm và thất bại. Việc này giúp sinh viên có thể phát triển tâm lý tích cực và tự tin hơn trong cuộc sống. Nghiên cứu cho thấy rằng tự chấp nhận có mối liên hệ chặt chẽ với sức khỏe tâm lý và cảm giác hạnh phúc. Những sinh viên có mức độ tự chấp nhận cao thường có khả năng đối phó tốt hơn với áp lực và khó khăn trong học tập.

II. Tình trạng tự chấp nhận của sinh viên

Nghiên cứu cho thấy rằng mức độ tự chấp nhận của sinh viên Khoa Tâm lý học tại ĐH Sư Phạm TP.HCM chủ yếu ở mức trung bình. Điều này có thể do nhiều yếu tố như áp lực học tập, kỳ vọng từ gia đình và xã hội. Sinh viên thường phải đối mặt với những khó khăn trong việc xác định bản thân và giá trị của mình. Một số sinh viên có thể cảm thấy không đủ tự tin để thể hiện bản thân, dẫn đến việc thiếu tự chấp nhận. Theo khảo sát, có sự khác biệt về mức độ tự chấp nhận giữa các năm học và thành tích học tập. Những sinh viên năm cuối thường có mức độ tự chấp nhận cao hơn so với sinh viên năm nhất, điều này cho thấy sự trưởng thành và phát triển trong quá trình học tập.

III. Các yếu tố tác động đến tự chấp nhận

Nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến tự chấp nhận của sinh viên, bao gồm giá trị bản thân, sự hỗ trợ từ bạn bè và gia đình, cũng như các trải nghiệm cá nhân. Sinh viên có nền tảng gia đình vững chắc và được hỗ trợ thường có mức độ tự chấp nhận cao hơn. Ngược lại, những sinh viên gặp khó khăn trong mối quan hệ xã hội hoặc có trải nghiệm tiêu cực trong quá khứ có thể gặp khó khăn trong việc chấp nhận bản thân. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc tham gia vào các hoạt động xã hội và phát triển kỹ năng giao tiếp có thể giúp nâng cao tự chấp nhận. Việc xây dựng một môi trường học tập tích cực và hỗ trợ cũng là yếu tố quan trọng giúp sinh viên phát triển tâm lýtự chấp nhận.

IV. Giải pháp nâng cao tự chấp nhận

Để nâng cao tự chấp nhận cho sinh viên, cần có các chương trình hỗ trợ tâm lý và phát triển bản thân. Các hoạt động như hội thảo, khóa học về kỹ năng sống và tư vấn tâm lý có thể giúp sinh viên hiểu rõ hơn về giá trị bản thân và cách chấp nhận chính mình. Ngoài ra, việc khuyến khích sinh viên tham gia vào các hoạt động ngoại khóa và tình nguyện cũng có thể giúp họ phát triển tự tintự chấp nhận. Các giảng viên cũng nên tạo ra một môi trường học tập thân thiện, nơi sinh viên cảm thấy an toàn để thể hiện bản thân mà không sợ bị đánh giá. Điều này không chỉ giúp sinh viên nâng cao tự chấp nhận mà còn góp phần vào sự phát triển toàn diện của họ.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ CHẤP NHẬN CỦA SINH VIÊN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về tự chấp nhận của sinh viên 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 1. Nghiên cứu về tự chấp nhận nói chung Khái niệm về cái tôi và những khía cạnh của nó được các nhà tâm lý học quan tâm từ rất sớm.

Tự chấp nhận đã được quan tâm trong tâm lý học về lý thuyết, nghiên cứu và đo lường nổi trội lên từ những năm đầu thế kỉ 20. Tâm lý học nhân văn là lý thuyết tâm lý đầu tiên nhấn mạnh, cân nhắc một cách rất nghiêm túc đối với giá trị và ý nghĩa của tự chấp nhận trong tâm lý học. Các nhà tâm lý học nhân văn tiêu biểu như Carl Roger, Abraham Maslow, Rollo May. Những bằng chứng đầu tiên trong nghiên cứu của Ryff (1989) “Thái độ tích cực đối với bản thân” được xem xét như một phần để định nghĩa tự chấp nhận và đo lường lòng tự trọng.

Những năm cuối thập niên 1940, các nghiên cứu về tự chấp nhận đa số chịu ảnh hưởng dưới góc độ nhân văn đều cho thấy mức độ tự chấp nhận cao có mối liên hệ tích cực với cảm xúc tích cực, làm hài lòng những mối quan hệ xã hội, thành tích và điều chỉnh những sự kiện tiêu cực trong đời sống (Williams & Lynn, 2010). Theo thời gian, tự chấp nhận tiếp tục được nhấn mạnh trong một số hình thức của Liệu pháp nhận thức - hành vi (CBT - Cognitive Behavior Therapy), đặc biệt trong Liệu pháp hành vi cảm xúc hợp lý (REBT - Rational Emotion Behavior Therapy). Năm 1962, Albert Ellis đã đề xuất nhấn mạnh đến sự tự chấp nhận vô điều kiện và xem đó là một khái niệm cốt lõi, một phần không thể thiếu trong liệu pháp nhận thức hành vi. Sau đó tự chấp nhận được đẩy mạnh lên làm nền tảng của Liệu pháp hành vi biện chứng (DBT - Dialectical Behavior Therapy) và Liệu pháp chấp nhận và chú tâm (ACT - Acceptance and Commitment Therapy) (Szentagotai & David, 2013).

Những nghiên cứu đầu tiên phản hồi về mối liên hệ giữa tự chấp nhận vô điều kiện và chấp nhận người khác vô điều kiện trong một dân số ngẫu nhiên từ những sinh viên khỏe mạnh và người lớn cho đến những bệnh nhân hay những tù nhân. Trong khi các nghiên cứu về sau cố gắng nhấn mạnh đến mối liên hệ của tự chấp nhận 10 Luan van với các yếu tố khác của hạnh phúc tâm lý (psychological well-being), sự khác biệt giữa tự chấp nhận và lòng tự trọng (Sheere, 1949; Berger, 1952; Suinn, 1961). Năm 2005, David và Szentagotai đã nghiên cứu một thực nghiệm đóng góp cho quan điểm rằng tự chấp nhận là điều cốt lõi để đạt được hạnh phúc. Nghiên cứu này cũng tin chắc rằng lý thuyết của liệu pháp hành vi cảm xúc hợp lý về tự chấp nhận có thể đóng góp những giá trị nền tảng, không chỉ cho việc nâng cao hiểu biết về hạnh phúc mà còn là việc làm thế nào để đạt được và duy trì hạnh phúc (David & Szentagotai, 2013).

Nghiên cứu của Macinnes (2006) đã tìm hiểu về mối liên hệ giữa các khái niệm lòng tự trọng và tự chấp nhận với sức khỏe tâm lý (Self-esteem and self-acceptance: An examination into their relationship and their effect on psychological health). Kết quả cho thấy, so với dân số chung mẫu nghiên cứu có mức độ tự chấp nhận và lòng tự trọng thấp; mức độ lo âu, trầm cảm và bệnh lý tâm lý (psychological ill health) cao hơn (Macinnes, 2006). Bernard và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu về tự chấp nhận trong giáo dục và tham vấn cho người trẻ (Self-Acceptance in the Education and Counseling of Young People). Năm 2007, ông xây dựng các bài học trong việc giáo dục học sinh về tự chấp nhận (Lesson to Teach Self-Acceptane).

Năm 2012, Bernard đã thực hiện một nghiên cứu trên 254 sinh viên của 4 trường học khác nhau tại Victoria, Úc. Để phát triển tự chấp nhận trong giáo dục và tham vấn cho học sinh, Bernard đã thiết kế bảng khảo sát dành cho trẻ em và thanh thiếu niên về tự chấp nhận (Bernard, 2012a). Ông đã đưa ra một vài lời khuyên tự giúp đỡ dành cho lứa tuổi học sinh trong việc tăng cường tự chấp nhận (Self-Help Tips for Strengthening Your Self-Acceptance) (Bernard, 2012b). Năm 2013, để giúp các em học sinh phát triển tự chấp nhận, ông đã xây dựng hệ thống bài tập nâng cao sự tự nhận thức qua các phản hồi (Bernard, Vernon, Terjesen & Kurasaki, 2013).

Dù là một khái niệm trung tâm của Liệu pháp hành vi cảm xúc hợp lý nhưng tự chấp nhận vô điều kiện lại chưa được kiểm chứng một cách đầy đủ qua các thực nghiệm. Theo đó, một nghiên cứu được Popov và cộng sự (2016) xây dựng trong bối cảnh thực nghiệm để kiểm tra sự ảnh hưởng của tự chấp nhận vô điều kiện trên sức khỏe tâm thần (Unconditional Self-Acceptance and Mental Health in Ego-provoking 11 Luan van experimental context) qua các yếu tố như mức độ tự chấp nhận, kiểu phản hồi và sự hài lòng đối với phản hồi (Popov, Radanovic & Biro, 2016). Năm 2017, Ciuhan và Dumitru đã tiến hành nghiên cứu trên mẫu 300 thanh thiếu niên Rumani (Unconditional Self-Acceptance, Functional and Dysfunctional Negative Emotions, and Self-Esteem as Predictors for Depression in Adolescents: a Brief Pilot Study Conducted in Romania). Kết quả cho thấy mối tương quan giữa tự chấp nhận vô điều kiện, lòng tự trọng và cảm xúc tiêu cực loạn chức năng (functional and dysfunctional negative emotions) của họ với mức độ trầm cảm của thanh thiếu niên tuổi từ 14 đến 17 tại Rumani (Ciuhan & Dumitru, 2017).

Trong vòng ba thập kỉ qua, một lượng lớn các nghiên cứu về tự chấp nhận đã được tiến hành trên thế giới. Từ đó cũng cung cấp, bổ sung thêm các bằng chứng ấn tượng có liên quan đến tầm quan trọng của tự chấp nhận cho sức khỏe tâm thần và cảm nhận hạnh phúc trong đời sống tâm lý con người. Nghiên cứu về tự chấp nhận và sự thể hiện bản thân Lứa tuổi thanh niên sinh viên đối mặt với những áp lực trong việc thể hiện bản sắc cá nhân với những người bạn, cụ thể là trong những kết nối có tính xã hội. Một nghiên cứu của Aricak và cộng sự (2015) tìm hiểu cách tự chấp nhận và giá trị tác động như thế nào đến việc sinh viên thể hiện chân thực bản sắc cá nhân trực tiếp và gián tiếp “như chính họ là” (Mediating effect of self-acceptance between values and offline/online identity expressions among college students).

Kết quả thể hiện rằng sự tự do là một giá trị có ý nghĩa ảnh hưởng đến xu hướng của người tham gia trong việc thể hiện bản sắc cá nhân trực tiếp và gián tiếp. Đồng thời nghiên cứu cũng cho thấy sự tự do, giá trị lãng mạn, phẩm giá con người, xã hội và giá trị nghề nghiệp có một chút ảnh hưởng tích cực nhưng không trực tiếp trên tính chân thực trong việc thể hiện bản sắc cá nhân; trong khi giá trị vật chất, tinh thần và giá trị trí tuệ có một chút ảnh hưởng tiêu cực không trực tiếp (Aricak, Dundar & Saldana, 2015). Một nghiên cứu khác của Denmark (1973) đã xác định tự chấp nhận cũng có mối liên hệ với sự thể hiện bản thân. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng người lãnh đạo với điểm tự chấp nhận vô điều kiện cao được đánh giá là hiệu quả nhất trên địa vị của họ (Szentagotai & David, 2013).

12 Luan van Năm 2016, một nghiên cứu của Popov và cộng sự được thực hiện để tìm hiểu về ảnh hưởng của tự chấp nhận vô điều kiện trên sức khỏe tâm thần qua các chỉ số trong bối cảnh thực nghiệm khơi dậy cái tôi (Unconditional Self-Acceptance and Mental Health in Ego-provoking experimental context). Nghiên cứu được thực hiện trên mẫu là 188 sinh viên, các nhà nghiên cứu đã minh hoạ cuộc nói chuyện trước đám đông, sau đó các sinh viên tham gia có thời gian chuẩn bị trước, trình bày và nhận được các phản hồi (tích cực, tiêu cực và trung tính) một cách ngẫu nhiên (Popov, Radanovic & Biro, 2016). Nghiên cứu về tự chấp nhận trong mối quan hệ với người khác Bên cạnh khái niệm về “tự chấp nhận vô điều kiện”, Albert Ellis có một quan điểm tương đồng, đó là “chấp nhận người khác vô điều kiện” (unconditional others acceptance). Ông định nghĩa rằng “chấp nhận người khác mà không cần bất kì điều kiện tiên quyết nào, không xem xét hành vi, quan điểm hay cách ứng xử của họ như thế nào” (Ellis, 1994).

Ellis đã nhận định rằng yếu tố chính của một mối quan hệ có hiệu quả, xét riêng trong mối quan hệ chính là tư duy hợp lý của mỗi người; người chấp nhận bản thân và người khác một cách vô điều kiện, đó là một điểm khởi đầu tốt đẹp để xây dựng và phát triển mối quan hệ. Ông cho rằng chìa khóa cho cả hai trong việc tìm kiếm và duy trì một mối quan hệ yêu thương là việc chấp nhận người khác một cách hoàn toàn mà không có bất kì sự mâu thuẫn nào trong tư tưởng, học cách để yêu mến sự tự do và sự khác biệt của mỗi cá nhân. Những năm đầu của thế kỉ 20, các nghiên cứu chủ yếu tìm hiểu về mối liên hệ giữa tự chấp nhận và chấp nhận người khác. Trong nghiên cứu của Sheerer (1949) đã tìm ra sự mối liên hệ giữa thái độ của tự chấp nhận và chấp nhận người khác, đây là một trong những nghiên cứu đầu tiên về tự chấp nhận vô điều kiện tập trung giải thích rằng cái tôi là một điểm tựa (anchor) ảnh hưởng đến góc nhìn và thái độ của chúng ta đối với người khác (Williams & Lynn, 2010).

Có các nghiên cứu phản hồi về sự liên hệ giữa tự chấp nhận vô điều kiện và chấp nhận người khác vô điều kiện trong một dân số ngẫu nhiên từ những sinh viên khỏe mạnh và người lớn cho đến những bệnh nhân hay những tù nhân (Sheerer, 1949). Hầu hết các nghiên cứu chủ yếu quan sát một mối quan hệ giữa cảm nhận về bản thân và với người khác dựa trên kinh nghiệm 13 Luan van lâm sàng, chỉ một số nghiên cứu gần đây mới cố gắng nghiên cứu mối quan hệ này một cách có hệ thống. Trên cơ sở nghiên cứu của Sheerer, một nghiên cứu được xây dựng trên mẫu là sinh viên của Trường Đại học Chicago nhằm tìm hiểu mối quan hệ về thái độ đối với bản thân và người khác (The relation between expressed acceptance of self and expressed acceptance of others) dưới ảnh hưởng từ tư tưởng của Carl Rogers.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu về tự chấp nhận của sinh viên khoa tâm lý học tại trường ĐH Sư Phạm TP.HCM" của tác giả Lê Thị Toàn, dưới sự hướng dẫn của Th.S. Đinh Thảo Quyên, tập trung vào việc khám phá khái niệm tự chấp nhận trong bối cảnh sinh viên ngành tâm lý học. Nghiên cứu này không chỉ giúp sinh viên hiểu rõ hơn về bản thân mà còn cung cấp những thông tin quý giá về cách mà tự chấp nhận ảnh hưởng đến quá trình học tập và phát triển cá nhân. Đặc biệt, bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng lòng tự tin và sự chấp nhận bản thân trong môi trường học tập, từ đó giúp sinh viên có thể phát huy tối đa tiềm năng của mình.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác liên quan đến tâm lý học và giáo dục, bạn có thể tham khảo thêm bài viết Nghiên Cứu Về Kỹ Năng Học Tập Của Sinh Viên Sư Phạm Kỹ Thuật, nơi nghiên cứu về kỹ năng học tập của sinh viên, hoặc Khó Khăn Trong Hoạt Động Học Tập Của Sinh Viên Người Dân Tộc Chăm Tại Trường Cao Đẳng Sư Phạm Ninh Thuận, bài viết này đề cập đến những thách thức mà sinh viên gặp phải trong quá trình học tập. Cả hai tài liệu này đều liên quan đến tâm lý học và giáo dục, giúp bạn mở rộng hiểu biết về các vấn đề trong học tập và phát triển cá nhân.