CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHÓ KHĂN TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề về khó khăn trong hoạt động học tập Trong lịch sử nghiên cứu những vấn đề tâm lý, vấn đề khó khăn nói chung và khó khăn trong hoạt động học tập nói riêng đã được một số nhà nghiên cứu tâm lý xem xét dưới nhiều góc độ, nhiều loại khách thể khác nhau. Sau đây chúng tôi xin đưa ra một số quan điểm nghiên cứu về khó khăn nói chung và khó khăn trong hoạt động học tập của một số tác giả của nước ngoài và Việt Nam. Các công trình nghiên cứu trên thế giới Trong cuộc sống của mỗi người, học tập là một hoạt động không thể thiếu được.
Nó là phương thức giúp con người nhận thức thế giới một cách ngắn nhất và thuận lợi nhất để con người có tri thức cải tạo thế giới phục vụ cho cuộc sống của chính mình. Tuy nhiên, trong quá trình để con người biến những tri thức của nhân loại thành vốn kinh nghiệm riêng của cá nhân thì con người sẽ gặp không ít những khó khăn. Khi bàn về vấn đề khó khăn nói chung và khó khăn trong học tập thì ngay từ rất lâu, một số tác giả như B. ở Liên Bang Nga đã có những công trình nghiên cứu về khó khăn trong cuộc sống của học sinh và sinh viên.
Dựa trên các kết quả nghiên cứu, các tác giả đã làm sáng tỏ thực trạng và nguyên nhân một số khó khăn thường gặp trong đời sống của học sinh, sinh viên như là một hiện tượng tâm lý xã hội, chịu sự tác động của các quy luật phát triển tâm sinh lý lứa tuổi cũng như điều kiện sống và hoạt động của họ [65]. Bên cạnh đó, trong thập kỷ 70 của thế kỷ XX, Bianka Zazzo, giáo sư đại học EPHE Pari cùng các cộng sự là 12 chuyên gia cấp cao về tâm lý, y khoa và giáo dục đã nghiên cứu trẻ em từ lớp mẫu giáo đến cuối lớp 1 đã chỉ ra: “Khó khăn tâm lý lớn nhất mà trẻ gặp phải làm cản trở đến sự thích ứng với hoạt động học tập của trẻ là sự thay đổi môi trường hoạt động một cách triệt để, gọi là chuyển dạng hoạt động chủ đạo. Trẻ mẫu giáo lấy hoạt động vui chơi làm hoạt động chủ đạo, vừa học vừa chơi, hoạt động 13 đa dạng, tính tự do tùy hứng cá nhân nặng hơn là tính chỉ đạo của giáo viên, người lớn tuổi. Bước sang lớp 1, học tập là hoạt động chủ đạo, học sinh phải chấp hành nghiêm chỉnh mọi quy định theo sự chỉ đạo chặt chẽ của giáo viên, theo nguyên tắc lớp học.
Vì thế, trẻ nào vượt qua được khó khăn này thì sẽ học tốt, còn không vượt được thì sẽ dẫn đến tình trạng chán học, kết quả không cao” [56, tr. Cũng nghiên cứu về khó khăn trong hoạt động học tập học sinh lớp một, tác giả A. Petrovxki đã chia khó khăn của trẻ em khi đi học lớp một làm ba loại: + Những khó khăn có liên quan đến đặc điểm của chế độ học tập mới + Khó khăn trong việc thiết lập quan hệ giao tiếp mới với thầy cô và bạn bè + Khó khăn trong việc thích nghi với hoạt động mới, lúc đầu trẻ được chuẩn bị của gia đình, nhà trường, xã hội nên trẻ có tâm trạng vui thích, sẵn sàng đi học, và sau giảm dần khát vọng và chán học. [44] Bên cạnh đó, tác giả đã đề cập đến những nguyên nhân dẫn đến khó khăn, ảnh hưởng của những khó khăn nêu trên đến đời sống của trẻ và đề xuất một số biện pháp giải quyết khó khăn cho trẻ.
Như vậy, tác giả đã đi sâu nghiên cứu những khó khăn nảy sinh trong hoạt động học tập nhưng đó mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu ở học sinh lớp một. Theo nhà tâm lí học Maurice Debesse, trong công trình nghiên cứu về những khó khăn của trẻ đã chỉ ra rằng: Đứng trước ngưỡng cửa của lớp một, trẻ em gặp rất nhiều khó khăn, nhất là khó khăn về mặt tâm lý. Điều này đã ảnh hưởng đến sự thích ứng với hoạt động học tập, làm cho trẻ sợ học, không muốn tới trường và kết quả học tập không cao [20]. Trong công trình nghiên cứu của mình, V.
Cruchetxki đã đề cập đến những khó khăn trong hoạt động học tập của thiếu niên. Theo tác giả, trong quá trình học tập đôi khi có mâu thuẫn: Sự mong muốn trau dồi tri thức mâu thuẫn với thái độ bàng quan và thậm chí thái độ xấu đối với học tập ở trường, thái độ “phớt đời” đối với điểm số. Điều đó có thể là do phản ứng “độc đáo” với những thất bại nào đó trong học tập và xung đột với giáo viên. Những mâu thuẫn này gây ra một số khó khăn đáng kể cho thiếu niên.
Cũng theo tác giả, thiếu niên thường xúc động mạnh với những thất bại trong việc học tập của mình, nhưng lòng tự trọng đôi khi khiến cho các em có thái độ thờ ơ 14 và lãnh đạm đối với thành tích học tập. Nguyên nhân làm giảm sút hứng thú học tập ở các em có thể là do xuất hiện những thú vui khác mạnh mẽ hơn (đọc sách, chơi tem, chơi cờ. Schwarzer (1981) cho rằng: Ở tất cả các lớp học đều có một số học sinh hay sợ. Khi có những yêu cầu về thành tích, chúng nhanh chóng cảm thấy bị đe dọa ghê gớm và thường phản ứng lại bằng các trạng thái tâm lý bực dọc và hành vi nhận thức sai.
Người ta thấy luôn tương quan nghịch giữa một bên là sự lo sợ chung, sợ trường học và sợ thi và một bên là những đòi hỏi thành tích nhận thức cao. [49] Ballard và Clauchy (1985), trong cuốn cẩm nang của mình đã chỉ ra những khó khăn trong quá trình học tập của từng sinh viên châu Á khi học tại các trường Đại học của Úc. Hai tác giả đã khẳng định: Sinh viên đến từ các nền văn hoá khác nhau thường đặt ra các mục đích khác nhau trong cách nghĩ và cách học của họ. Hầu hết sinh viên nghĩ và học theo cách mà họ đã được đào tạo ở trường phổ thông và đại học, vì vậy họ có thể đã thành công ở ngôi trường và đất nước của họ nhưng lại gặp thất bại ở đất nước khác, môi trường học tập khác.
Bằng kinh nghiệm và kiến thức khoa học của mình các tác giả đã giúp một số sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh người Nhật, Singapo, Indonexia tháo gỡ một số khó khăn trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường Đại học của hai ông. Các tác giả kết luận: Sinh viên cần phải có một sự chuyển biến lớn giữa các nền văn hoá, kiến thức khác nhau để thích ứng với môi trường học tập mới.9-18] Trong bài báo: “Sốc văn hoá trong học đọc và viết: phát triển kỹ năng đọc, viết ở trường đại học”, M. Nevile (1996) đã cho rằng: SV mới vào trường đại học không có những kỹ năng đọc, viết để đảm bảo cho việc nghiên cứu ở trường đại học. Trong ý thức của nhiều SV, các em quan tâm đến nội dung học tập hơn là việc phát triển những kỹ năng đọc, viết.
Nhiều SV không nhận ra việc viết bài luận của họ không chỉ cần thể hiện sự chính xác về nội dung mà còn phải đảm bảo tính khoa học và có cấu trúc chặt chẽ. Vì vậy, nhiều SV đã thất bại trong việc trình bày bài viết của mình. Các em đã không biết thể hiện cấu trúc, ý tưởng cũng như đưa ra cách lập luận của mình cho phù hợp với yêu cầu của giáo viên. SV cần phải có cái nhìn mới trong cách viết vì nó là một trong những cách thể hiện ý nghĩ, hành động và sự định hướng giá trị phù hợp với hoàn cảnh của các trường đại học hiện nay.
Sullivan (1996) trong bài báo của mình: “Ảnh hưởng của văn hóa xã hội đến những kiểu tương tác trong lớp học”. Tác giả đã chỉ ra rằng: Những SV Việt Nam đã quen với kiểu học tương tác mà trong đó việc nói “đan xen và đồng thời” là chuẩn mực, khi sang học các lớp học ở Mỹ lại “im lặng” là do khó khăn tâm lý. Ở Việt Nam, khi giáo viên đặt câu hỏi, một SV đứng lên trả lời, còn những SV khác nói lên suy nghĩ của mình một cách “đan xen và đồng thời” với SV đó.Vì vậy, SV này có thể liên hợp các câu trả lời khác nhau để cho mình câu trả lời đúng. Còn ở Mỹ, khi giáo viên đặt câu hỏi SV thường tự trả lời, không trông chờ bất cứ một sự giúp đỡ nào từ bạn bè.
Do vậy, khi học ở Mỹ, SV Việt Nam có thể cảm thấy nhút nhát hoặc im lặng bởi không khí mà trong đó một người nói tại một thời điểm là cưỡng bức. SV Việt Nam thường coi những thành viên khác trong lớp là một phần cơ thể của mình, thiếu họ, SV ấy cảm thấy cánh tay phải của mình đã bị gẫy. Winkelman (2002-2003) với bài báo “Sốc văn hoá và sự thích ứng”, đã chỉ ra: Bản chất của sốc văn hoá đã cho thấy phải nhận thức và hiểu được cần phải điều chỉnh hành vi ứng xử cho phù hợp với các nét văn hoá bị sốc và có chiến lược thực hiện cho việc giải quyết nó. Chiến lược thích ứng cần phải có sự chỉ dẫn của những người có liên quan được thể hiện trên các tài liệu, phải được hướng dẫn về sự giao thoa văn hoá và vai trò của sự giao thoa đó.
[86] Theo các tác giả Quinn, Muldoon và Hollingworth (2002), sinh viên thường gặp khó khăn trong việc hiểu rõ yêu cầu của nhiệm vụ học tập, quản lý thời gian, sử dụng phương pháp học tập hiệu quả, sử dụng tri thức đã học vào bài thi. Trong một công trình mới đây, Palmer và Puri (2006) đã chỉ ra những nhóm khó khăn lớn mà sinh viên thường gặp phải khi học ở trường Đại học, đó là: + Khó khăn khi rời mái ấm gia đình và bắt đầu cuộc sống ở trường Đại học. Để người thân, gia đình, bạn bè ở lại chốn quê nhà, sinh viên đến trường Đại học với nỗi nhớ nhà và lo nghĩ về người thân. 16 + Khó khăn khi sống ở môi trường mới cùng với người khác.
Sinh viên phải xem xét, lựa chọn nơi ở phù hợp với điều kiện kinh tế, đặc điểm cá nhân và giải quyết mâu thuẫn có thể nảy sinh khi sống cùng người khác. + Khó khăn trong việc đảm bảo ăn uống có lợi cho sức khỏe với điều kiện kinh phí hạn hẹp.