Chương 1 TỔNG QUAN 1. Giới thiệu về Trầm cảm 1. Khái niệm Trầm cảm Theo định nghĩa của WHO: Trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ biến. Nó được đặc trưng bởi nỗi buồn dai dẳng và không có hứng thú hoặc niềm vui trong các hoạt động bổ ích hoặc thú vị trước đó.
Nó cũng có thể làm rối loạn giấc ngủ và cảm giác thèm ăn. Tình trạng mệt mỏi và kém tập trung là phổ biến. Theo bảng phân loại tâm thần lần thứ 5 của hiệp hội tâm thần học Mỹ (DSM – V, 2013): “Trầm cảm là trạng thái rối loạn cảm xúc, biểu hiện bằng giảm khí sắc, mất mọi quan tâm thích thú, giảm năng lượng dẫn đến tăng sự mệt mỏi và giảm hoạt động, phổ biến là tăng sự mệt mỏi sau một số cố gắng nhỏ, tồn tại trong một khoảng thời gian kéo dài, ít nhất là hai tuần” [2] Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 ( ICD-10 ), trầm cảm điển hình thường được biểu hiện bằng khí sắc trầm, mất mọi quan tâm hay thích thú, giảm năng lượng dẫn tới tăng sự mệt mỏi và giảm hoạt động, tồn tại trong khoảng thời gian ít nhất là 2 tuần. Ngoài ra, còn có các triệu chứng khác như giảm sự tập trung chú ý, giảm tính tự trọng và lòng tự tin, ý tưởng bị tội và không xứng đáng, nhìn vào tương lai ảm đạm bi quan, ý tưởng và hành vi tự huỷ hoại hoặc tự sát, rối loạn giấc ngủ, ăn ít ngon miệng… Từ các định nghĩa trên, trầm cảm được xem như biểu hiện của các mặt: cảm xúc, nhận thức, cơ thể, hành vi.
Dịch tễ Trầm cảm Trầm cảm là một tình trạng bệnh lý phổ biến trên thế giới, với tỷ lệ mắc bệnh cao. Theo WHO, năm 2021 ước tính có khoảng 280 triệu người trên thế giới bị trầm cảm. Trầm cảm cũng là nguyên nhân hàng đầu gây ra tàn tật trên toàn thế giới và là nguyên nhân chính gây ra gánh nặng bệnh tật toàn cầu. Các nghiên cứu về rối loạn trầm cảm của WHO cho thấy nguy cơ bị bệnh trong toàn bộ cuộc đời là khoảng 10%.
Tại Hoa Kỳ (2017), rối loạn trầm cảm ảnh hưởng đến khoảng 17,3 triệu người Mỹ trưởng thành, 3 chiếm khoảng 7,1%. Đối với đối tượng trẻ em từ 3-17 tuổi, theo một số thống kê của CDC Hoa Kỳ, trầm cảm đứng thứ 4 trong nhóm các rối loạn tâm thần ở trẻ, với con số ước tính khoảng 2,7 triệu trẻ được chẩn đoán ( khoảng 4,4% ) trầm cảm trong giai đoạn 2016-2019 [5], thống kê còn cho thấy có khoảng 1/5 số trẻ từ 12-17 tuổi (20,9%) đã từng trải qua giai đoạn trầm cảm nghiêm trọng [6]. Cũng theo CDC Hoa Kỳ, tỉ lệ trẻ “ Từng được chẩn đoán mắc trầm cảm” trong độ tuổi từ 6-17 tuổi tăng từ 5,4% trong năm 2003 lên thành 8% trong năm 2007 và tăng 8,4 % vào năm 2011-2012 [5]. Tại Việt Nam, trầm cảm đang có xu hướng gia tăng và trẻ hóa, độ tuổi vị thành niên đáng báo động.
Theo Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1, tỷ lệ mắc 10 chứng rối loạn tâm thần phổi biến tại Việt Nam là 14,2%, trong đó riêng rối loạn trầm cảm chiếm 2,45%. Nhưng đến nay, tỉ lệ mắc các vấn đề tâm thần này đã lên đến khoảng 30%, trong đó trầm cảm chiếm 25% ( tức là khoảng 7,5% dân số).Nếu như trước kia, trầm cảm thường được biết đến ở đối tượng phụ nữ sau sinh và người cao tuổi thì hiện nay trầm cảm có thể xảy ra với bất kỳ ai. Đặc biệt là tình trạng trầm cảm ở đối tượng thanh thiếu niên từ 14-29 tuổi đang ở mức đáng báo động. Theo số liệu công bố trong nước, Việt Nam có ít nhất ba triệu thanh thiếu niên có biểu hiện rối loạn sức khỏe tâm thần, chỉ 20% trong số đó được chẩn đoán và điều trị thích hợp [7] 1.
Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh Trầm cảm Trầm cảm do nhiều nguyên nhân gây ra, nhưng tóm tắt có 3 nguyên nhân chính: Trầm cảm nội sinh; Trầm cảm tâm sinh; Trầm cảm thực tổn. Trầm cảm nội sinh là trầm cảm do mất cân bằng, các chất dẫn truyền thần kinh cảm xúc, các amin sinh học như serotonin, noradrenalin, dopamin. Trầm cảm tâm sinh là trầm cảm xuất hiện sau sự cố sang chấn, căng thẳng kéo dài. Trầm cảm thực tổn là trầm cảm xuất hiện trên nền tảng có tổn thương ở não hoặc các bệnh lý cơ thể ngoài não, ảnh hưởng đến hoạt động chức năng của não.
[8] -Yếu tố di truyền: Các nghiên cứu gia đình cho thấy 50% số bệnh nhân rối loạn cảm xúc có ít nhất một người cha hoặc mẹ mắc rối loạn cảm xúc thường là trầm cảm [9] [10] - Cơ chế dẫn truyền thần kinh: Theo giả thuyết này, các nhà nghiên cứu thấy có tổn thương hệ thống dẫn truyền thần kinh ở các vùng khác nhau của não gây ra các rối loạn trầm cảm. [11] [12] 4 Giả thuyết về nor-epinephrin, giả thuyết về dopamine: Theo tác giả Blows (2000) serotonin và noradrenaline ảnh hưởng rất lớn đến hành vi về tâm thần trong khi đó dopamine chỉ ảnh hưởng đến vận động [11] - Nhân cách, các sự kiện trong cuộc sống (stress): Bệnh nhân trầm cảm thường trải nghiệm các stress mạnh trong thời gian trước đó. Người ta cho rằng stress có thể là nguyên nhân hoặc yếu tố thúc đẩy cho giai đoạn trầm cảm nhẹ, hoặc là yếu tố làm trầm trọng thêm của các trường hợp trầm cảm nặng. Những yếu tố nguy cơ làm gia tăng trầm cảm ở trẻ em Trầm cảm có thể xảy ra ở trẻ em ở mọi lứa tuổi, mặc dù thanh thiếu niên có nguy cơ cao nhất.
Sự khác biệt về tỉ lệ trầm cảm ở trẻ nữ và trẻ nam cũng là khác nhau. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng những giới nữ thì có tỉ lệ mắc trầm cảm cao gấp đôi so với nam giới trong suốt cuộc đời. Các nguy cơ khác cũng có thể làm gia tăng trầm cảm như: thường xuyên trong trạng thái căng thẳng mệt mỏi, hay các biến cố của cuộc sống như: bị lạm dụng, chấn thương hay khi bị một căn bệnh mãn tính nào đó. Các yếu tố nguy cơ từ gia đình như: bất đồng mối quan hệ với bố mẹ, hoàn cảnh gia đình khó khăn hay việc không nhận được sự giúp đỡ về cảm xúc từ những người thân yêu, gần gũi.
[13] [14] [15] Các yếu tố về phương diện cá nhân. - Yếu tố căng thẳng: Một số nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng, căng thẳng trong cuộc sống có thể gây ra một loạt thay đôi tâm-sinh lý, bao gồm kích hoạt trục hạ đồi- tuyến yên- thượng thận ( HPA) và hệ thần kinh giao cảm [17]. Ở lứa tuổi học sinh, vấn đề căng thẳng trong học tập là một yếu tố nguy cơ nổi bật trong các vấn đề liên quan đến việc gia tăng trầm cảm ở học sinh. Học sinh thương chịu nhiều áp lực bời kỳ vọng từ phía gia đình và nhà trường.
Quá trình ngồi trên ghế nhà trường học sinh phải trải qua mức độ căng thẳng cao trong suốt sự nghiệp đèn sách. Những bài kiểm tra ở các cấp độ, những kỳ thi như tốt nghiệp hay thi đại học, hay là những gánh nặng về số lượng bài tập về nhà, lượng kiến thức ghi nhớ khiến nhiều học sinh rơi vào tình trạng căng thẳng, mệt mỏi. [18] Đặc biệt, trong thời kỳ dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp trên toàn thế giới, giáo dục trực tuyến đã được áp dụng làm phương thức học tập ở hầu hết các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Việc thực hiện giáo dục trực tuyến mang lại sự tiện lợi và cung cấp đầy đủ kiến thức cho học sinh trong bối cảnh dịch bệnh lây lan.
Thế nhưng, việc phải ở trong nhà quá lâu, 5 chất lượng học tập cũng không thể cung cấp đủ kiến thức như dạy học trực tiếp tại trường, cùng với đó là tình trạng thời gian giải trí trên các thiết bị di động với thời lượng lớn trong ngày, là các yếu tố nguy cơ làm tình trạng trầm cảm tại học sinh gia tăng. Nhiều nghiên cứu trên thế giới chỉ ra rằng, thực trạng lo âu , trầm cảm ở học sinh trung học phổ thông gia tăng đáng kể khi thực hiện giáo dục trực tuyến thời kỳ COVID-19 [4]. - Mức độ lòng tự trọng: sự suy giảm lòng tự trọng được xác địch ở giai đoạn giữa các đợt của các rối loạn tâm trạng, đây là đặc điểm có liên quan đến trầm cảm tái diễn và ý nghĩ tự tử ở các bệnh nhân trầm cảm, tuy nhiên, cơ sở di truyền của mối liên hệ này chưa được xác định rõ ràng. Việc tìm ra mối liên hệ giữa mức độ của lòng tự trọng đối với bệnh nhân trầm cảm là cần thiết.
[19] - Các bệnh mãn tính làm tăng tỷ lệ trầm cảm: Tỷ lệ mắc trầm cảm ở những người mắc bệnh nội khoa mãn tính cao hơn đáng kể so với những người khỏe mạnh bình thường. Tỷ lệ mắc trầm cảm trong nhóm bệnh nhân rất cao, từ 20 đến 40%. Gánh nặng về trầm cảm đơn thuần hay kết hợp với các bệnh lý mãn tính đều gây những tổn hại về cả thể chất lẫn tinh thần một cách nghiêm trọng. Trầm cảm cần được điều trị để càng sớm càng tốt và cũng là để tránh khả năng có thể gây phức tạp thêm quá trình điều trị bệnh nội khoa sẵn có [20].
- Yếu tố giới tính: + Ở học sinh nữ,là nhóm đối tượng có nguy cơ trầm cảm cao và nhiều yếu tố liên quan đến vấn đề trầm cảm. một số yếu tố liên quan làm gia tăng trầm cảm ở phụ nữ như: Các yếu tố nội tiết: Ảnh hưởng của nội tiết đến trầm cảm đặc biệt liên quan đến tuổi dậy thì. Kinh nguyệt: nhiều trẻ gái trải nghiệm những thay đổi tâm trạng trong khoảng thời gian kinh nguyệt, đặc biệt là vào giai đoạn đầu của tuổi dậy thì, khi mà cơ thể có sự thay đổi lớn, bên cạnh đó là các vấn đề liên quan đến rối loạn kinh nguyệt cũng là mối liên quan đến tình trạng trầm cảm ở trẻ [16]. Mang thai và sinh sản: Mang thai sớm hay các biến động nội tiết xảy ra trong thai kỳ, đặc biệt là khi kết hợp với mối quan hệ căng thẳng và lo lắng, có thể làm gia tăng trầm cảm [21].
+ Ở học sinh nam: trầm cảm thường liên quan đến chỉ số như khuynh hướng hành vi bốc đồng hoặc làm dùng rượu hay chất gây nghiện [22].