chương I: Qua các nghiên cứu về bắt nạt nói chung và bắt nạt bằng lời nói nói riêng cho thấy hành vi bắt nạt là phổ biến ở HS trung học. Bắt nạt có đặc điểm riêng gắn với giới tính, lứa tuổi và môi trƣờng. Bên cạnh đó là nhận thức, thái độ và cảm nhận của HS là nhân tố ảnh hƣởng mạnh đến hành vi bắt nạt. Có thể thay đổi thực trạng bắt nạt bằng các giải pháp cụ thể.
Những kết luận khái quát trên là cơ sở để nhóm tác giả dự án xây dựng chiến lƣợc nghiên cứu và đề xuất giải pháp cho vấn đề bắt nạt bằng lời nói ở HS THPT Tân Kỳ. 9 skkn CHƢƠNG II THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM GIẢM THIỆU HÀNH VI BẮT NẠT BẰNG LỜI NÓI ĐỐI VỚI HS TẠI TRƢỜNG THPT TÂN KỲ 2. Thực trạng bắt nạt bằng lời nói đối với HS tại trƣờng THPT Tân Kỳ 2. Thuận lợi - Hằng năm SGD&ĐT luôn có các văn bản hƣớng dẫn giáo dục đạo đức cho HS kịp thời, giúp nhà trƣờng có cơ sở đề ra kế hoạch giáo dục HS từ đầu năm.
- Nhà trƣờng có một tập thể sƣ phạm đoàn kết, công tác giáo dục đạo đức HS luôn đƣợc coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong các buổi họp hội đồng, giáo viên chủ nhiệm, tổ chuyên môn. - Trƣờng THPT Tân Kỳ thƣờng xuyên tổ chức các chƣơng trình, hoạt động ngoại khóa sinh động nhằm giáo dục đạo đức, nhân cách, kỹ năng sống cho HS. - Nhà trƣờng đã giao cho nhóm giáo dục công dân, BCH đoàn trƣờng tiến hành lồng ghép giáo dục đạo đức HS vào các buổi sinh hoạt Đoàn thƣờng kỳ, hoạt động NGLL… có tính giáo dục cao, các tổ chuyên môn trong nhà trƣờng phối hợp đồng bộ trong công tác giáo dục đạo đức HS. - Tập thể giáo viên có trình độ, nhiệt tình, có ý thức trách nhiệm, đoàn kết nội bộ, có tinh thần học hỏi phấn đấu vƣơn lên.
- Các hoạt động giáo dục HS luôn đƣợc các bậc phụ huynh quan tâm, giúp đỡ, góp phần không nhỏ nâng cao thành tích giáo dục chung của nhà trƣờng. - Công tác giáo dục HS của nhà trƣờng trong những năm gần đây có nhiều bƣớc phát triển, chất lƣợng giáo dục có nhiều chuyển biến tích cực, các nhiệm vụ trọng tâm của ngành đƣợc tổ chức thực hiện đạt kết quả tốt. Số lƣợng HS khá, giỏi về học lực, xếp loại hạnh kiểm khá, tốt dần tăng lên. Khó khăn, hạn chế - Các em HS ở độ tuổi này không còn là trẻ con mà cũng chƣa là ngƣời lớn thực sự, tâm lý phát triển phức tạp, nhiều lúc ƣơng ngạnh, hiếu thắng, thậm chí có những biểu hiện bất cần có thể dẫn tới hành động tiêu cực.
Tính cách các em cũng dễ nóng nảy, hay cãi cọ, cáu gắt, vui buồn vô cớ, có bạn dễ làm những việc điên rồ, ngông cuồng, quá khích, chống đối. Một thực tế cho thấy tỷ lệ tội phạm hay các vụ án bạo lực, tự hành xác, tự tử phần lớn rơi vào lứa tuổi này. HS nhƣ những mầm cây xanh tƣơi, nếu chăm bón tốt thì sẽ có hoa thơm trái ngọt, nếu lơ là, gió bão, mƣa nắng cuộc đời sẽ làm những mầm xanh trụi lá. - Là HS ở một huyện miền núi, số HS trải dài ở nhiều xã đặc biệt khó khăn dẫn đến việc quan tâm con em học tập của phụ huynh còn nhiều hạn chế.
Cùng với đó là công tác phối hợp giữa nhà trƣờng với phụ huynh trong việc giáo dục HS cũng gặp nhiều khó khăn. 10 skkn - Ngân sách chi thƣờng xuyên nhà trƣờng còn hạn chế, gây ảnh hƣởng không nhỏ cho các hoạt động ngoại khóa giáo dục đạo đức HS. - Cơ sở vật chất nhà trƣờng còn thiếu thốn, chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu giảng dạy, diện tích các phòng học còn nhỏ, sân chơi bãi tập chƣa tốt, các phòng chức năng còn thiếu chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu dạy và học theo chƣơng trình. - Do ảnh hƣởng của mạng di động đã dẫn tới HS sa vào các trò chơi trên điện thoại, ảnh hƣởng quá trình học tập của các em.
- Một số giáo viên chƣa có kinh nghiệm trong công tác tƣ vấn tâm lý cho HS. Bên cạnh đó nhiều giáo viên chủ nhiệm còn chƣa thực sự quan tâm đến HS, thiếu sự phối hợp với gia đình để nắm rõ hoàn cảnh của các em nên chƣa phát hiện đƣợc hành vi bắt nạt để có các giải pháp ngăn chặn sớm. Đánh giá chung thực trạng hành vi bắt nạt bằng lời nói đối với HS tại trƣờng THPT Tân Kỳ. Mức độ phổ biến của hành vi bắt nạt bằng lời nói đối với HS THPT Tân Kỳ.
Chúng tôi tiến hành khảo sát, điều tra trên 259 HS từ lớp 10 đến lớp 12 năm học 2020-2021 của trƣờng THPT Tân Kỳ, cụ thể nhƣ sau: Bảng 2. Thống kê khách thể nghiên cứu thực trạng Nam Nữ Trƣờng Khối Khối Khối Khối Khối Khối Tổng 10 11 12 10 11 12 THPT Tân Kỳ 40 45 42 41 48 43 127 132 259 Qua khảo sát 259 HS ở 3 khối trƣờng THPT Tân Kỳ bằng phiếu khảo sát phụ lục 1 câu 3 chúng tôi thống kê đƣợc kết quả nhƣ sau: 50.70% Bằng hành động 25.69% Bằng lời nói trực tiếp 20.00% Qua phương tiện khác 10.00% Em đã từng chứng Em đã từng bắt nạt Em đã từng bị bắt Biểu đồ 2.kiến Mức việc độbắt phổnạtbiến của người khác hành vi bắt nạt bằngnạt lời nói ở HS trƣờng THPT Tân Kỳ. 11 skkn Nhận xét : Qua biểu đồ 2.1 ta thấy trong cả 3 trƣờng hợp đƣợc khảo sát là chứng kiến việc bắt nạt, đã từng bắt nạt và từng bị bắt nạt cho thấy hành vi bắt nạt bằng lời nói trực tiếp chiếm tỉ lệ cao nhất. Đối với ngƣời chứng kiến thì hành vi bắt nạt bằng lời nói chiếm tỉ lệ cao 39.38% trong khi đó bắt nạt bằng hành động ít hơn chiếm 32.82%; bắt nạt qua phƣơng tiện khác là 27.
Đối với hành vi từng bắt nạt ngƣời khác: hành vi đã từng bắt nạt ngƣời khác bằng lời nói chiếm tỉ lệ rất cao 51.35% ; bắt nạt bằng hành động 28.96%; bắt nạt qua phƣơng tiện khác 19. Đối với trƣờng hợp từng bị bắt nạt: bắt nạt bằng ngôn từ vẫn chiếm tỉ lệ biểu hiện cao nhất chiếm 47.50%; các trƣờng hợp bị bắt nạt bằng hành động chiếm 28.50%; bắt nạt qua phƣơng tiện khác chỉ chiếm 24. Số liệu khảo sát câu nói bắt nạt HS đã từng nói hay đã từng nghe cũng thể hiện sự phổ biến của bắt nạt bằng lời nói. Số liệu thể hiện ở bảng 2.2 cho thấy trên 50% HS đã từng nghe và nói những câu bắt nạt điển hình của HS lứa tuổi THPT hiện nay16.
Các hành vi bắt nạt bằng lời nói phổ biến ở HS trƣờng THPT Tân Kỳ (n=259) TT Câu mà bạn đã từng nói hoặc từng nghe Số Tỷ lệ lƣợng % “Nhìn mày thế này, chắc bố mẹ mày cũng chẳng tốt 133 51.35% A đẹp gì cho cam" B “Nhìn cái nhà thằng này đã biết không phải ngƣời tốt" 128 49.42% C “Đã xấu còn thích đăng ảnh”, "Chỉnh nát hết rồi" 181 69.88% D “Xấu nhƣ mày cũng có ngƣời thích?” 187 72.20% “Học xã hội dễ bỏ mẹ, bọn lƣời động não mới theo 134 51.74% E khối xã hội" F “Học nhƣ thế này thì học làm gì" 189 72.97% H “Đến cả mày cũng thi đƣợc điểm cao hơn tao nữa" 152 58.69% Kết luận: Qua sơ đồ 2.2 thì Bắt nạt bằng lời nói (BNBLN) là hiện tƣợng phổ biến trong HS trƣờng THPT Tân Kỳ hiện nay. Nhận thức và ứng xử của HS về hành vi bị bắt nạt bằng lời nói. Mức độ nhận diện đúng về hành vi bắt nạt bằng lời nói của HS THPT Tân kỳ. 16 Các câu nói này đƣợc trích từ câu 9 phiếu điều tra 12 skkn Chúng tôi tiến hành khảo sát bằng câu hỏi 8 phiếu khảo sát, tiến hành xử lý và cho ra kết quả mức độ nhận diện đúng về hành vi bắt nạt của HS trƣờng THPT Tân Kỳ nhƣ sau: 21.62% Đúng hoàn toàn 78.38% Đúng một phần Biểu đồ 2.
Mức độ nhận diện hành vi bắt nạt bằng lời nói của HS THPT Tân kỳ Nhận xét: Trong số 259 HS tham gia khảo sát có: - 203 HS nhận diện đúng và đầy đủ về hành vi bắt nạt bằng lời nói, chiếm tỉ lệ 78.38% - 56 HS chiếm tỉ lệ 21.62% nhận diện chƣa đầy đủ về hành vi bắt nạt bằng lời nói, chỉ nhận diện đƣợc một số hành vi bắt nạt và bỏ sót các hành vi bắt nạt khác - Không có HS nào nhận diện sai về hành vi bắt nạt bằng lời nói. Kết luận: Các HS nhận ra đƣợc hành vi nào là hành vi bắt nạt bằng lời nói hay nói cách khác nhận diện đúng hành vi bắt nạt bằng lời nói. Mức độ nhận thức của HS THPT Tân Kỳ về tác hại của bắt nạt bằng lời nói. Chúng tôi tiến hành khảo sát câu hỏi 4 trong phiếu khảo sát và biết đƣợc mức độ nhận thức của HS THPT Tân Kỳ về tác hại của bắt nạt bằng lời nói nhƣ sau: Bạn có nghĩ rằng lời nói có khả năng gây tổn thƣơng ngƣời khác 1.29% Không Không rõ Biểu đồ 2.
Nhận thức của HS trƣờng THPT Tân Kỳ về tác hại của BNBLN 13 skkn Nhận xét: Trong số 259 HS tham gia khảo sát, có: - 252 HS trả lời có: chiếm tỉ lệ 97.29% - 2 HS trả lời không: chiếm tỉ lệ 0.78 % - 5 HS trả lời không rõ: chiếm tỉ lệ 1.93 % Kết luận: Số liệu khảo sát cho thấy đại bộ phận (97,29%) HS THPT Tân Kỳ nhận thức chính xác cả về khái niệm lẫn tác động tiêu cực của hành vi bắt nạt bằng lời nói. Hầu nhƣ không có HS nhận thức sai hoặc không biết về tác hại của loại hành vi này. Ứng xử của HS THPT Tân Kỳ với bắt nạt bằng lời nói. Chúng tôi tiến hành khảo sát câu hỏi 7 phiếu khảo sát với 259 em HS của trƣờng THPT Tân Kỳ đã cho kết quả sau: Rất nhiều các em chƣa biết cách ứng xử với hành vi bắt nạt bằng lời nói cả trong trƣờng hợp bị bắt nạt và cả trƣờng hợp chứng kiến bắt nạt.