Luận án tiến sĩ thực trạng sức khỏe tâm thần học đường ở học sinh trung học cơ sở tại hà nội và kết quả can thiệp bằng liệu pháp hành vi năm 2015 2020

Luận án phân tích sức khỏe tâm thần học đường ở học sinh trung học cơ sở tại Hà Nội và hiệu quả can thiệp liệu pháp hành vi giai đoạn 2015-2020.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2023

179
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Một số khái niệm

1.1.1. Khái niệm tuổi học đường, vị thành niên

1.1.2. Khái niệm sức khỏe tâm thần

1.1.3. Các khái niệm về rối loạn sức khỏe tâm thần

1.2. Thực trạng sức khỏe tâm thần học đường

1.2.1. Thực trạng sức khỏe tâm thần học đường trên thế giới

1.2.2. Thực trạng sức khỏe tâm thần học đường tại Việt Nam

1.2.3. Một số yếu tố liên quan đến sức khoẻ tâm thần học đường

1.2.3.1. Yếu tố sinh học
1.2.3.2. Yếu tố tâm lý
1.2.3.3. Yếu tố gia đình - xã hội

1.3. Can thiệp trẻ mắc tăng động giảm chú ý và rối loạn kèm theo

1.3.1. Can thiệp y tế

1.3.2. Can thiệp hành vi

1.3.3. Can thiệp tâm thần xã hội và giáo dục

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Địa điểm, đối tượng và thời gian nghiên cứu

3.1.1. Địa điểm nghiên cứu

3.1.2. Đối tượng nghiên cứu

3.1.3. Thời gian nghiên cứu

3.2. Phương pháp nghiên cứu

3.2.1. Thiết kế nghiên cứu

3.2.2. Cỡ mẫu và chọn mẫu trong nghiên cứu

3.2.3. Nội dung và biến số trong nghiên cứu

3.2.4. Phương pháp và công cụ thu thập thông tin

3.2.5. Kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu

3.2.6. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

3.2.7. Sai số và cách hạn chế sai số

3.3. Hạn chế nghiên cứu

3.4. Đạo đức nghiên cứu

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Thực trạng sức khỏe tâm thần học đường ở học sinh trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội

4.2. Một số yếu tố liên quan đến sức khỏe tâm thần ở học sinh trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội

4.3. Kết quả can thiệp hành vi trong điều trị tăng động giảm chú ý và các rối loạn tâm thần kèm theo từ năm 2016 đến 2020

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Thực trạng sức khỏe tâm thần học đường

Thực trạng sức khỏe tâm thần học đường tại Hà Nội trong giai đoạn 2015-2020 cho thấy một bức tranh đáng lo ngại. Theo các nghiên cứu, tỷ lệ học sinh mắc các rối loạn tâm thần như trầm cảm, lo âu và rối loạn hành vi ngày càng gia tăng. Cụ thể, một nghiên cứu cho thấy khoảng 10-25% học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thần. Các yếu tố như áp lực học tập, môi trường gia đình và sự thiếu hụt trong chăm sóc sức khỏe tâm thần đã góp phần làm gia tăng tình trạng này. Việc thiếu các chương trình can thiệp kịp thời đã dẫn đến những hệ lụy nghiêm trọng cho sự phát triển của trẻ em và thanh thiếu niên. Đặc biệt, các rối loạn như tăng động giảm chú ý (ADHD) và rối loạn cư xử (RLCX) thường gặp ở lứa tuổi học đường, ảnh hưởng đến khả năng học tập và hòa nhập xã hội của học sinh.

1.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần học đường

Nhiều yếu tố sinh học, tâm lý và xã hội tác động đến sức khỏe tâm thần của học sinh. Yếu tố sinh học bao gồm di truyền và sự phát triển não bộ, trong khi yếu tố tâm lý liên quan đến tính cách và khả năng đối phó với stress. Yếu tố gia đình, như sự hỗ trợ từ cha mẹ và môi trường sống, cũng đóng vai trò quan trọng. Các nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ em sống trong môi trường gia đình không ổn định có nguy cơ cao hơn mắc các rối loạn tâm thần. Hơn nữa, áp lực từ bạn bè và xã hội cũng có thể dẫn đến tình trạng rối loạn tâm thần ở học sinh. Việc nhận thức và can thiệp sớm là rất cần thiết để giảm thiểu tác động tiêu cực của những yếu tố này.

II. Can thiệp liệu pháp hành vi

Can thiệp liệu pháp hành vi đã được áp dụng tại Hà Nội từ năm 2016 đến 2020 với mục tiêu cải thiện tình trạng sức khỏe tâm thần cho học sinh mắc tăng động giảm chú ý và các rối loạn kèm theo. Nghiên cứu cho thấy liệu pháp hành vi có hiệu quả trong việc giảm triệu chứng và cải thiện hành vi của trẻ. Các chương trình can thiệp bao gồm việc giáo dục cha mẹ, giáo viên và học sinh về các kỹ năng ứng phó và quản lý cảm xúc. Kết quả cho thấy tỷ lệ học sinh có triệu chứng giảm chú ý giảm đáng kể sau can thiệp. Việc áp dụng liệu pháp hành vi không chỉ giúp cải thiện tình trạng tâm lý mà còn nâng cao khả năng học tập và hòa nhập xã hội của học sinh.

2.1. Hiệu quả của can thiệp hành vi

Kết quả nghiên cứu cho thấy can thiệp hành vi đã mang lại những cải thiện rõ rệt trong tình trạng sức khỏe tâm thần của học sinh. Cụ thể, tỷ lệ học sinh mắc tăng động giảm chú ý giảm từ 19,2% xuống còn 10% sau khi áp dụng liệu pháp hành vi. Học sinh cũng cho thấy sự cải thiện trong khả năng tập trung và hành vi xã hội. Các chuyên gia khuyến nghị rằng việc tiếp tục áp dụng và mở rộng các chương trình can thiệp hành vi là cần thiết để đảm bảo sức khỏe tâm thần cho học sinh. Điều này không chỉ giúp giảm tỷ lệ mắc rối loạn mà còn tạo ra một môi trường học tập tích cực hơn cho trẻ em.

III. Giáo dục sức khỏe tâm thần

Giáo dục về sức khỏe tâm thần là một phần quan trọng trong việc nâng cao nhận thức và phòng ngừa các rối loạn tâm thần ở học sinh. Các chương trình giáo dục cần được triển khai tại các trường học để giúp học sinh hiểu rõ về sức khỏe tâm thần, các triệu chứng của rối loạn và cách thức ứng phó. Việc giáo dục không chỉ dành cho học sinh mà còn cần bao gồm cha mẹ và giáo viên để tạo ra một mạng lưới hỗ trợ vững chắc cho trẻ. Các nghiên cứu cho thấy rằng khi học sinh được trang bị kiến thức về sức khỏe tâm thần, họ có khả năng nhận diện và xử lý các vấn đề tâm lý tốt hơn.

3.1. Tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe tâm thần

Giáo dục sức khỏe tâm thần giúp học sinh phát triển kỹ năng sống cần thiết để đối phó với áp lực và căng thẳng trong cuộc sống. Các chương trình giáo dục có thể bao gồm các hoạt động như thảo luận nhóm, trò chơi và các buổi hội thảo về tâm lý học. Những hoạt động này không chỉ giúp học sinh nhận thức về bản thân mà còn tạo cơ hội để họ chia sẻ và hỗ trợ lẫn nhau. Hơn nữa, việc giáo dục về sức khỏe tâm thần cũng giúp giảm kỳ thị và nâng cao sự hiểu biết trong cộng đồng về các vấn đề tâm lý, từ đó tạo ra một môi trường an toàn và thân thiện cho trẻ em.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm tuổi học đường, vị thành niên Tuổi học đường là độ tuổi hay khoảng thời gian khi một trẻ bình thường đi học, gồm hai giai đoạn: giai đoạn học sinh tiểu học từ 7 - 11 tuổi và giai đoạn tiền dậy thì từ 12 - 15 tuổi [36]. Tuổi vị thành niên là những người trong độ tuổi 10 - 19, bắt đầu bởi hiện tượng “lớn lên” về thể chất, đúng nghĩa được gọi là hiện tượng “dậy thì”.

Tuổi vị thành niên nằm trong khoảng thời gian từ lúc dậy thì đến lúc trưởng thành. Lứa tuổi này còn gọi là lứa tuổi thiếu niên và nó có một vị trí đặc biệt trong thời kỳ phát triển của trẻ em [36], [37]. Vị trí đặc biệt này được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: "thời kỳ quá độ", "tuổi khó bảo", "tuổi bất trị", "tuổi khủng hoảng". Những tên gọi đó nói lên tính phức tạp và tầm quan trọng của lứa tuổi này trong quá trình phát triển của trẻ em.

Các vấn đề về SKTT thường xuất hiện lần đầu tiên từ giai đoạn vị thành niên. Về xã hội, đây là thời kỳ hình thành nhân cách có nhiều sự thay đổi về thể chất và tinh thần, là giai đoạn chuyển tiếp từ lứa tuổi trẻ em thành người trưởng thành. Tuổi vị thành niên đôi khi cũng được phân định thành: vị thành niên sớm (10 - 14 tuổi), vị thành niên trung bình (15 - 17 tuổi) và vị thành niên muộn (18 - 19 tuổi) [38]. Khái niệm sức khỏe tâm thần Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): “Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không đơn thuần là không có bệnh hay thương tật”.

“Sức khỏe tâm thần không chỉ là không có bệnh tâm 4 thần mà còn có thể được hiểu là một trạng thái hoàn toàn thoải mái mà trong đó mỗi cá nhân nhận thức được năng lực của mình, có thể đối phó với các tình huống căng thẳng thông thường của cuộc sống, có thể lao động sản xuất và có ích, có khả năng đóng góp cho cộng đồng”. Sức khỏe tâm thần tốt không đơn giản là không có bệnh tâm thần mà còn là tập hợp các kỹ năng cần thiết để đối phó với những thách thức của cuộc sống [37]. Vậy có thể thấy SKTT là một phần không thể tách rời của sức khỏe nói chung; SKTT có mối liên quan mật thiết với sức khỏe thể chất và hành vi. Như vậy, định nghĩa về SKTT không dễ dàng có được sự thống nhất do những khác biệt về giá trị và văn hóa giữa các quốc gia.

Năm 2003, Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra khái niệm: “Sức khoẻ khoẻ tâm thần là trạng thái khỏe mạnh của mỗi cá nhân để họ nhận biết được các khả năng của bản thân, có thể đương đầu với những căng thẳng thông thường trong cuộc sống, có thể học tập và làm việc một cách hiệu quả và có thể tham gia, góp phần vào các hoạt động của cộng đồng” [37]. Các khái niệm về rối loạn sức khỏe tâm thần * Rối loạn tâm thần và hành vi: là những bệnh lý tâm thần đủ tiêu chuẩn chẩn đoán. Rối loạn tâm thần và hành vi gây ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng nhận thức, cảm xúc hoặc xã hội. Rối loạn tâm thần bao gồm các loại và mức độ khác nhau của một số rối loạn tâm thần chủ yếu như: trầm cảm, lo âu, nghiện chất, rối loạn tâm thần và sa sút trí tuệ.

* Vấn đề sức khỏe tâm thần: là những phàn nàn khó chịu thường xuyên hơn mức bình thường và nó bao gồm các rối loạn nhất thời như phản ứng của cơ thể đối với các sang chấn tâm lý. Vấn đề SKTT thường nhẹ hơn và ít kéo dài như các RLTT nhưng nó có thể dễ dàng phát triển thành các RLTT. Việc phân biệt nhiều khi không rõ và chủ yếu dựa vào mức độ và thời gian kéo dài của các triệu chứng [35], [39]. 5 * Tăng động giảm chú ý (ADHD): là một rối loạn phát triển phổ biến nhất ở trẻ, đặc trưng bởi sự giảm duy trì chú ý và tăng hoạt động ở trẻ em hoặc vị thành niên so với trẻ cùng lứa tuổi và mức độ phát triển.

ADHD thường được chẩn đoán ban đầu ở trẻ nhỏ và kết thúc khi trưởng thành. Trẻ ADHD có thể gặp vấn đề về tập trung, kiểm soát hành vi bồng bột (hành động không suy nghĩ về hậu quả sẽ xảy ra), hoặc hoạt động quá mức [40]. * Rối loạn cư xử (RLCX): là một rối loạn tâm thần phổ biến và rất nguy hiểm và thường xuất hiện ở thời thơ ấu hoặc thanh thiếu niên được đặc trưng bởi hành vi hung hăng và chống đối xã hội nghiêm trọng. Rối loạn này thường xảy ra đồng thời với rối loạn tăng động giảm chú ý và thường dẫn tới rối loạn nhân cách chống đối xã hội ở tuổi trưởng thành.

Trẻ mắc RLCX có xu hướng gây tổn thương và có thể khó khăn để hòa nhập với bạn bè [41], [42]. * Rối loạn cảm xúc: bao gồm các rối loạn mà trong đó sự xáo trộn cơ bản là một sự thay đổi về cảm xúc hay khí sắc sang trạng thái trầm cảm (có hoặc không kèm theo lo âu) hoặc trạng thái hưng phấn. Sự thay đổi về khí sắc thường kèm theo một sự thay đổi về toàn bộ mức độ hoạt động. Phần lớn các rối loạn này có khuynh hướng tái phát và khởi phát từng giai đoạn riêng biệt, thường liên quan tới các sự kiện hoặc các tình huống gây stress [42].

* Rối loạn chống đối thách thức (RLCĐTT): biểu hiện là rối loạn cư xử, thường xảy ra ở trẻ nhỏ đặc trưng chủ yếu ở hành vi phá phách, không vâng lời, thách thức một cách rõ rệt, không bao gồm các hành vi phạm pháp hoặc các dạng nặng hơn của hành vi chống đối và gây hấn [19]. * Rối loạn lo âu (RLLA): là một rối loạn cảm xúc đặc trưng bởi cảm giác lo sợ lan tỏa, khó chịu, mơ hồ kèm theo các triệu chứng thần kinh tự chủ như: Đau đầu, vã mồ hôi, hồi hộp, cảm giác siết chặt ở ngực, khô miệng, khó chịu ở thượng vị và bứt rứt, không thể ngồi hoặc đứng yên một chỗ. Người bình thường lo âu là tín hiệu báo động báo trước một nguy hiểm sắp xảy ra [42]. Thực trạng sức khỏe tâm thần học đường 1.

Thực trạng sức khỏe tâm thần học đường trên thế giới Trên thế giới, khoảng 7 - 10% trẻ em và thanh thiếu niên mắc phải các rối loạn tâm thần cần điều trị. Tỷ lệ này cao hơn ở các vùng đô thị đông dân có nhiều yếu tố xã hội không thuận lợi, đặc biệt ở tuổi dậy thì. Những trạng thái tâm lý bệnh học trẻ em thường gặp là: Hành vi gây rối và chống đối xã hội (những rối loạn hướng ngoại) tỷ lệ mắc là 3 - 5%; rối loạn cảm xúc (những rối loạn hướng nội) tỷ lệ gặp là 2 - 5%; những trở ngại tâm lý và rối loạn dạng cơ thể chiếm 1 - 3%; hiếm gặp hơn là các rối loạn tâm thần trẻ em và rối loạn sự phát triển nói chung (rối loạn phổ tự kỷ) gặp 0,1% [43]. Các rối loạn tâm thần thường đặc trưng theo từng giai đoạn phát triển của trẻ và đối với lứa tuổi thanh thiếu niên thường gặp đó là các vấn đề về cảm xúc như: trầm cảm, lo âu; các rối loạn liên quan đến stress, rối loạn phổ tự kỷ, rối loạn trong học tập, rối loạn ứng xử, rối loạn tâm thần thể chống đối, các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất gây nghiện.

Những rối loạn hành vi gây rối và chống đối xã hội thường gặp ở trẻ trai nhiều gấp 2 đến 3 lần trẻ gái. Tỷ lệ giữa nam và nữ tương đồng hơn với các rối loạn cảm xúc. Trẻ gái lại hay gặp trầm cảm và chứng biếng ăn nhiều hơn so với trẻ trai. Chỉ có 10 - 22% trẻ em trong số này được phát hiện bởi các cán bộ y tế chăm sóc sức khỏe ban đầu.

Còn lại đa số không được phát hiện sớm và không nhận được sự chăm sóc thích hợp về mặt y tế [27], [44]. Các nghiên cứu trên thế giới chỉ ra mức độ đáng quan tâm về SKTT ở trẻ em. Nghiên cứu Sayal và cộng sự (2018) cho thấy RLTT & HV trẻ em và thanh thiếu niên 17% [45]. Nghiên cứu Murray và cộng sự (2019) trẻ từ 9 - 13 tuổi: tỷ lệ trung bình 3 tháng của bất kỳ rối loạn nào là 13,3% (95% CI: 11,7- 15), tỷ lệ 31% trẻ gái và 42% trẻ trai có ít nhất một RLTT [46].

Trẻ bị rối loạn tâm thần tại Mỹ lên tới 20,9% trong đó rối loạn lo âu cao nhất với 13%, rối 7 loạn hành vi 10,3%. Các nghiên cứu trước đây, ước tính 13 - 20% trẻ em sống ở Mỹ (1/5 trẻ em) gặp một rối loạn tâm thần trong một năm và khoảng 247 tỷ đô la Mỹ mỗi năm dành cho vấn đề RLTT của trẻ em [47]. Nghiên cứu của John David và cộng sự (2007) mắc ADHD ở trẻ 5 đến 15 tuổi là 2,23%; RLCX hoặc RLCĐTT dao động từ 5% đến 14% [48]. Nghiên cứu của Meltzer (2007) trẻ từ 5 - 15 tuổi tại Anh có 9,5% trẻ có ít nhất một RLTT đặc thù theo ICD-10 [25].

Theo Trung tâm Thông tin Chăm sóc Xã hội và Sức khỏe nước Anh, ở giai đoạn bắt đầu tuổi vị thành niên 18% trẻ 7 - 16 tuổi và 22% độ tuổi 17 - 24 có thể RLTT [49]. Cowie và cộng sự (2013) nghiên cứu trên 1829 trẻ 11 - 14 tuổi tại 51 trường THCS của Anh về tình trạng bắt nạt; 27,6% học sinh nam và 33,4% học sinh nữ xác nhận đã từng bị bắt nạt tại trường [50]. Tại Na Uy, Einar Heiervang (2007) nghiên cứu trên 9.430 trẻ 8 - 10 tuổi thấy tỷ lệ trẻ có RLTT & HV đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán theo DSM-IV là 7% [51]. Theo nghiên cứu về sức khỏe tâm thần học đường ở 8 nước Châu Âu có 22% trẻ được xác định có ít nhất một RLTT, dao động từ 16,4% ở Hà Lan đến 27,9% ở Bulgaria [52].

Tại Đức theo Marc Schmid (2008) nghiên cứu ở trẻ em trong cô nhi viện Đức thấy tỷ lệ các RLTT đáp ứng các tiêu chuẩn của ICD-10 là 59,9% trong đó chủ yếu là các rối loạn hành vi ứng xử [54]. Tại Úc, theo Gudrun Wagner và cộng sự (2017) nghiên cứu sử dụng tiêu chuẩn DSM-5 cho kết quả tỷ lệ hiện mắc của ít nhất một RLTT trong 3615 thanh thiếu niên từ 10 đến 18 tuổi là 23,9% [55].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Sức Khỏe Tâm Thần Học Đường: Can Thiệp Liệu Pháp Hành Vi Tại Hà Nội (2015-2020)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng sức khỏe tâm thần của học sinh tại Hà Nội trong giai đoạn 2015-2020. Tác giả phân tích các phương pháp can thiệp liệu pháp hành vi và hiệu quả của chúng trong việc cải thiện sức khỏe tâm thần cho học sinh. Bài viết không chỉ nêu rõ những thách thức mà học sinh phải đối mặt mà còn đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống tinh thần cho các em.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo bài viết Luận án tiến sĩ nhu cầu được trợ giúp tâm lý của học sinh trong một số trường trung học phổ thông huyện Đan Phượng Hà Nội, nơi khám phá nhu cầu hỗ trợ tâm lý của học sinh. Ngoài ra, bài viết Thực trạng trầm cảm ở học sinh lớp 12 tại trường trung học phổ thông Việt Nam Ba Lan thành phố Hà Nội sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tình trạng trầm cảm trong lứa tuổi học sinh. Cuối cùng, bài viết Thực trạng sức khỏe tâm thần và một số yếu tố liên quan của học sinh một trường trung học phổ thông tại thành phố Nam Định tỉnh Nam Định năm 2021 cung cấp cái nhìn tổng quát về sức khỏe tâm thần của học sinh ở một khu vực khác, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này.