Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm tuổi học đường, vị thành niên Tuổi học đường là độ tuổi hay khoảng thời gian khi một trẻ bình thường đi học, gồm hai giai đoạn: giai đoạn học sinh tiểu học từ 7 - 11 tuổi và giai đoạn tiền dậy thì từ 12 - 15 tuổi [36]. Tuổi vị thành niên là những người trong độ tuổi 10 - 19, bắt đầu bởi hiện tượng “lớn lên” về thể chất, đúng nghĩa được gọi là hiện tượng “dậy thì”.
Tuổi vị thành niên nằm trong khoảng thời gian từ lúc dậy thì đến lúc trưởng thành. Lứa tuổi này còn gọi là lứa tuổi thiếu niên và nó có một vị trí đặc biệt trong thời kỳ phát triển của trẻ em [36], [37]. Vị trí đặc biệt này được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: "thời kỳ quá độ", "tuổi khó bảo", "tuổi bất trị", "tuổi khủng hoảng". Những tên gọi đó nói lên tính phức tạp và tầm quan trọng của lứa tuổi này trong quá trình phát triển của trẻ em.
Các vấn đề về SKTT thường xuất hiện lần đầu tiên từ giai đoạn vị thành niên. Về xã hội, đây là thời kỳ hình thành nhân cách có nhiều sự thay đổi về thể chất và tinh thần, là giai đoạn chuyển tiếp từ lứa tuổi trẻ em thành người trưởng thành. Tuổi vị thành niên đôi khi cũng được phân định thành: vị thành niên sớm (10 - 14 tuổi), vị thành niên trung bình (15 - 17 tuổi) và vị thành niên muộn (18 - 19 tuổi) [38]. Khái niệm sức khỏe tâm thần Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): “Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không đơn thuần là không có bệnh hay thương tật”.
“Sức khỏe tâm thần không chỉ là không có bệnh tâm 4 thần mà còn có thể được hiểu là một trạng thái hoàn toàn thoải mái mà trong đó mỗi cá nhân nhận thức được năng lực của mình, có thể đối phó với các tình huống căng thẳng thông thường của cuộc sống, có thể lao động sản xuất và có ích, có khả năng đóng góp cho cộng đồng”. Sức khỏe tâm thần tốt không đơn giản là không có bệnh tâm thần mà còn là tập hợp các kỹ năng cần thiết để đối phó với những thách thức của cuộc sống [37]. Vậy có thể thấy SKTT là một phần không thể tách rời của sức khỏe nói chung; SKTT có mối liên quan mật thiết với sức khỏe thể chất và hành vi. Như vậy, định nghĩa về SKTT không dễ dàng có được sự thống nhất do những khác biệt về giá trị và văn hóa giữa các quốc gia.
Năm 2003, Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra khái niệm: “Sức khoẻ khoẻ tâm thần là trạng thái khỏe mạnh của mỗi cá nhân để họ nhận biết được các khả năng của bản thân, có thể đương đầu với những căng thẳng thông thường trong cuộc sống, có thể học tập và làm việc một cách hiệu quả và có thể tham gia, góp phần vào các hoạt động của cộng đồng” [37]. Các khái niệm về rối loạn sức khỏe tâm thần * Rối loạn tâm thần và hành vi: là những bệnh lý tâm thần đủ tiêu chuẩn chẩn đoán. Rối loạn tâm thần và hành vi gây ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng nhận thức, cảm xúc hoặc xã hội. Rối loạn tâm thần bao gồm các loại và mức độ khác nhau của một số rối loạn tâm thần chủ yếu như: trầm cảm, lo âu, nghiện chất, rối loạn tâm thần và sa sút trí tuệ.
* Vấn đề sức khỏe tâm thần: là những phàn nàn khó chịu thường xuyên hơn mức bình thường và nó bao gồm các rối loạn nhất thời như phản ứng của cơ thể đối với các sang chấn tâm lý. Vấn đề SKTT thường nhẹ hơn và ít kéo dài như các RLTT nhưng nó có thể dễ dàng phát triển thành các RLTT. Việc phân biệt nhiều khi không rõ và chủ yếu dựa vào mức độ và thời gian kéo dài của các triệu chứng [35], [39]. 5 * Tăng động giảm chú ý (ADHD): là một rối loạn phát triển phổ biến nhất ở trẻ, đặc trưng bởi sự giảm duy trì chú ý và tăng hoạt động ở trẻ em hoặc vị thành niên so với trẻ cùng lứa tuổi và mức độ phát triển.
ADHD thường được chẩn đoán ban đầu ở trẻ nhỏ và kết thúc khi trưởng thành. Trẻ ADHD có thể gặp vấn đề về tập trung, kiểm soát hành vi bồng bột (hành động không suy nghĩ về hậu quả sẽ xảy ra), hoặc hoạt động quá mức [40]. * Rối loạn cư xử (RLCX): là một rối loạn tâm thần phổ biến và rất nguy hiểm và thường xuất hiện ở thời thơ ấu hoặc thanh thiếu niên được đặc trưng bởi hành vi hung hăng và chống đối xã hội nghiêm trọng. Rối loạn này thường xảy ra đồng thời với rối loạn tăng động giảm chú ý và thường dẫn tới rối loạn nhân cách chống đối xã hội ở tuổi trưởng thành.
Trẻ mắc RLCX có xu hướng gây tổn thương và có thể khó khăn để hòa nhập với bạn bè [41], [42]. * Rối loạn cảm xúc: bao gồm các rối loạn mà trong đó sự xáo trộn cơ bản là một sự thay đổi về cảm xúc hay khí sắc sang trạng thái trầm cảm (có hoặc không kèm theo lo âu) hoặc trạng thái hưng phấn. Sự thay đổi về khí sắc thường kèm theo một sự thay đổi về toàn bộ mức độ hoạt động. Phần lớn các rối loạn này có khuynh hướng tái phát và khởi phát từng giai đoạn riêng biệt, thường liên quan tới các sự kiện hoặc các tình huống gây stress [42].
* Rối loạn chống đối thách thức (RLCĐTT): biểu hiện là rối loạn cư xử, thường xảy ra ở trẻ nhỏ đặc trưng chủ yếu ở hành vi phá phách, không vâng lời, thách thức một cách rõ rệt, không bao gồm các hành vi phạm pháp hoặc các dạng nặng hơn của hành vi chống đối và gây hấn [19]. * Rối loạn lo âu (RLLA): là một rối loạn cảm xúc đặc trưng bởi cảm giác lo sợ lan tỏa, khó chịu, mơ hồ kèm theo các triệu chứng thần kinh tự chủ như: Đau đầu, vã mồ hôi, hồi hộp, cảm giác siết chặt ở ngực, khô miệng, khó chịu ở thượng vị và bứt rứt, không thể ngồi hoặc đứng yên một chỗ. Người bình thường lo âu là tín hiệu báo động báo trước một nguy hiểm sắp xảy ra [42]. Thực trạng sức khỏe tâm thần học đường 1.
Thực trạng sức khỏe tâm thần học đường trên thế giới Trên thế giới, khoảng 7 - 10% trẻ em và thanh thiếu niên mắc phải các rối loạn tâm thần cần điều trị. Tỷ lệ này cao hơn ở các vùng đô thị đông dân có nhiều yếu tố xã hội không thuận lợi, đặc biệt ở tuổi dậy thì. Những trạng thái tâm lý bệnh học trẻ em thường gặp là: Hành vi gây rối và chống đối xã hội (những rối loạn hướng ngoại) tỷ lệ mắc là 3 - 5%; rối loạn cảm xúc (những rối loạn hướng nội) tỷ lệ gặp là 2 - 5%; những trở ngại tâm lý và rối loạn dạng cơ thể chiếm 1 - 3%; hiếm gặp hơn là các rối loạn tâm thần trẻ em và rối loạn sự phát triển nói chung (rối loạn phổ tự kỷ) gặp 0,1% [43]. Các rối loạn tâm thần thường đặc trưng theo từng giai đoạn phát triển của trẻ và đối với lứa tuổi thanh thiếu niên thường gặp đó là các vấn đề về cảm xúc như: trầm cảm, lo âu; các rối loạn liên quan đến stress, rối loạn phổ tự kỷ, rối loạn trong học tập, rối loạn ứng xử, rối loạn tâm thần thể chống đối, các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất gây nghiện.
Những rối loạn hành vi gây rối và chống đối xã hội thường gặp ở trẻ trai nhiều gấp 2 đến 3 lần trẻ gái. Tỷ lệ giữa nam và nữ tương đồng hơn với các rối loạn cảm xúc. Trẻ gái lại hay gặp trầm cảm và chứng biếng ăn nhiều hơn so với trẻ trai. Chỉ có 10 - 22% trẻ em trong số này được phát hiện bởi các cán bộ y tế chăm sóc sức khỏe ban đầu.
Còn lại đa số không được phát hiện sớm và không nhận được sự chăm sóc thích hợp về mặt y tế [27], [44]. Các nghiên cứu trên thế giới chỉ ra mức độ đáng quan tâm về SKTT ở trẻ em. Nghiên cứu Sayal và cộng sự (2018) cho thấy RLTT & HV trẻ em và thanh thiếu niên 17% [45]. Nghiên cứu Murray và cộng sự (2019) trẻ từ 9 - 13 tuổi: tỷ lệ trung bình 3 tháng của bất kỳ rối loạn nào là 13,3% (95% CI: 11,7- 15), tỷ lệ 31% trẻ gái và 42% trẻ trai có ít nhất một RLTT [46].
Trẻ bị rối loạn tâm thần tại Mỹ lên tới 20,9% trong đó rối loạn lo âu cao nhất với 13%, rối 7 loạn hành vi 10,3%. Các nghiên cứu trước đây, ước tính 13 - 20% trẻ em sống ở Mỹ (1/5 trẻ em) gặp một rối loạn tâm thần trong một năm và khoảng 247 tỷ đô la Mỹ mỗi năm dành cho vấn đề RLTT của trẻ em [47]. Nghiên cứu của John David và cộng sự (2007) mắc ADHD ở trẻ 5 đến 15 tuổi là 2,23%; RLCX hoặc RLCĐTT dao động từ 5% đến 14% [48]. Nghiên cứu của Meltzer (2007) trẻ từ 5 - 15 tuổi tại Anh có 9,5% trẻ có ít nhất một RLTT đặc thù theo ICD-10 [25].
Theo Trung tâm Thông tin Chăm sóc Xã hội và Sức khỏe nước Anh, ở giai đoạn bắt đầu tuổi vị thành niên 18% trẻ 7 - 16 tuổi và 22% độ tuổi 17 - 24 có thể RLTT [49]. Cowie và cộng sự (2013) nghiên cứu trên 1829 trẻ 11 - 14 tuổi tại 51 trường THCS của Anh về tình trạng bắt nạt; 27,6% học sinh nam và 33,4% học sinh nữ xác nhận đã từng bị bắt nạt tại trường [50]. Tại Na Uy, Einar Heiervang (2007) nghiên cứu trên 9.430 trẻ 8 - 10 tuổi thấy tỷ lệ trẻ có RLTT & HV đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán theo DSM-IV là 7% [51]. Theo nghiên cứu về sức khỏe tâm thần học đường ở 8 nước Châu Âu có 22% trẻ được xác định có ít nhất một RLTT, dao động từ 16,4% ở Hà Lan đến 27,9% ở Bulgaria [52].
Tại Đức theo Marc Schmid (2008) nghiên cứu ở trẻ em trong cô nhi viện Đức thấy tỷ lệ các RLTT đáp ứng các tiêu chuẩn của ICD-10 là 59,9% trong đó chủ yếu là các rối loạn hành vi ứng xử [54]. Tại Úc, theo Gudrun Wagner và cộng sự (2017) nghiên cứu sử dụng tiêu chuẩn DSM-5 cho kết quả tỷ lệ hiện mắc của ít nhất một RLTT trong 3615 thanh thiếu niên từ 10 đến 18 tuổi là 23,9% [55].