CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM PTSD (posttraumatic stress disorder) Theo Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ (The American Psychological Association – APA), Rối loạn căng thẳng sau chấn thương tâm lý (PTSD) là một rối loạn tâm thần có thể xảy ra ở những người đã trải qua hoặc chứng kiến một sự kiện đau buồn như thiên tai, tai nạn nghiêm trọng, hành động khủng bố, chiến tranh / chiến đấu, hiếp dâm hay những người bị đe dọa tử vong, bạo lực tình dục hoặc chấn thương nghiêm trọng. PTSD trước đây được biết đến với nhiều cái tên, chẳng hạn như “sốc đạn pháo” trong những năm Chiến tranh thế giới thứ nhất và “mệt mỏi chiến đấu” sau Thế chiến thứ hai. Những người bị PTSD có những suy nghĩ và cảm xúc dữ dội, rối loạn liên quan đến trải nghiệm của họ kéo dài rất lâu sau khi sự kiện đau buồn kết thúc. Họ có thể hồi tưởng lại sự kiện thông qua hồi tưởng hoặc ác mộng; họ có thể cảm thấy buồn bã, sợ hãi hoặc tức giận; và họ có thể cảm thấy bị tách biệt hoặc xa lánh với những người khác.
Những người bị PTSD có thể có hành động tránh những tình huống hoặc những người nhắc nhở họ về sự kiện đau buồn và họ có thể có những phản ứng tiêu cực mạnh mẽ đối với điều gì đó bình thường như một tiếng động lớn hoặc một va chạm tình cờ. 1 Tiểu luận giữa học kì 1 GVHD: Bác sĩ Phan Thiệu Xuân Giang CHƯƠNG 2: TỶ LỆ LƯU HÀNH CỦA PTSD/ TÌNH HÌNH RỐI LOẠN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 2. Trên thế giới: Ước tính rằng trên thế giới có khoảng 350 triệu người đang mắc phải rối loạn này, với tỷ lệ trọn đời trung bình là 7,3% (Koenen và cộng sự, 2017; Hoppen và Morina, 2019; Karatzias, 2017), và tỷ lệ mắc phải trong vòng 12 tháng sẽ dao động từ 1 đến 9% (Atwoli và cộng sự, 2015). Ngoài ra, các quốc gia khác nhau cũng sẽ có những số liệu thống kê khác nhau tùy theo bối cảnh đặc trưng của quốc gia họ.
Ở Hoa Kỳ, theo một nghiên cứu thuộc NCS-R (Viện Khảo sát Bệnh tật Quốc gia Tái lặp - National Comorbidity Survey Replication), các nghiên cứu đã đo được tỷ lệ mắc rối loạn này trọn đời là 3,6% ở nam và 9,7% ở nữ, trong khi đó tỷ lệ mắc trong vòng 12 tháng là 1,8% ở nam và 5,2% ở nữ (Kessler và cộng sự, 2005). Trẻ em và thanh thiếu niên có nguy cơ mắc phải PTSD cao hơn người trưởng thành, với nam là 3,7% và nữ là 6,3% (Kilpatrick và cộng sự, 2003). Các số liệu thống kê trong khảo sát Sức khỏe Tâm thần Thế giới (WMH - World Mental Health) đã cho ra các kết quả về tỷ lệ mắc PTSD trọn đời ở một vài nước khác như sau: Nam Phi (2,3%), Tây Ban Nha (2,2%), Ý (2,4%), Nhật Bản (1,8%), New Zealand (6,1%), Đức (2,9%), Trung Quốc với tỷ lệ thấp nhất là 1,3% và tỷ lệ cao nhất là ở Bắc Ireland với 8,8%. Theo APA (Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ), cứ 11 người thì sẽ có 1 người được chẩn đoán mắc rối loạn stress sau sang chấn trong đời.
Nữ giới có tỷ lệ mắc rối loạn này cao gấp 2 lần nam giới, và cựu chiến binh cùng với những người xin tị nạn cũng sẽ dễ phải đối mặt với nó hơn những người bình thường gấp 10 lần. Ở Việt Nam: Mặc dù gần đây sự quan tâm của cộng đồng đến vấn đề sức khỏe tinh thần đã được nâng cao và đã có nhiều nét cải thiện rõ rệt, nhưng những nghiên cứu 2 Tiểu luận giữa học kì 1 GVHD: Bác sĩ Phan Thiệu Xuân Giang cũng như khảo sát về các vấn đề tâm lý vẫn chưa được thực hiện, công bố một cách rộng rãi và phổ biến, và PTSD cũng không nằm ngoài nhóm ấy. Tuy vậy, nhóm cũng đã cố gắng tìm kiếm, tiếp cận những số liệu đã được công bố ở các nguồn đáng tin cậy, nhằm cung cấp một cái nhìn khái quát về tỷ lệ lưu hành PTSD ở Việt Nam và tạo tiền đề cho những nghiên cứu cũng như những nhận xét, ý kiến sau này. Một nghiên cứu dịch tễ về tần suất các loại bệnh ở dân số chung tại thành phố Hồ Chí Minh do Trung tâm Sức khỏe Tâm thần thực hiện năm 1998 cho thấy có 0,56% người dân thường mắc PTSD và nghiên cứu khác vào năm 2001 cho thấy 6% ở nhóm người dân có nguy cơ cao (những người đã từng sinh sống ở những vùng có chiến tranh xảy ra) mắc rối loạn này.
Một nghiên cứu kết hợp giữa 3 đơn vị là Đại học Y tế Công cộng Hà Nội và Đại học Huế (Việt Nam), Đại học Công nghệ Queensland (Australia) thực hiện vào năm 2019 trên 608 nghiệm thể ở Huế về tỷ lệ mắc PTSD và các triệu chứng rối loạn lo âu khác đã thu được nhiều kết quả đáng chú ý. Theo kết quả, 6,9% những người tham gia khảo sát có những triệu chứng của PTSD, và 14,8% những người đã từng trải qua một hoặc nhiều chấn thương tâm lý trong đời mắc PTSD. Nữ có xu hướng trải qua rối loạn này nhiều hơn nam giới nhưng tỷ lệ chênh lệch cũng không quá cách biệt. Bảng Tỷ lệ trầm cảm, lo âu và các triệu chứng PTSD theo giới tính.
Khái niệm rối loạn stress sau sang chấn trước đây vẫn luôn là một khái niệm xa lạ với đại đa số người Việt Nam. Thế nhưng, từ sau đại dịch covid, sức khỏe tinh thần được quan tâm hơn bao giờ hết và PTSD cũng vậy. Nó dần được nhìn thấy nhiều hơn nơi các bệnh nhân covid vừa thoát khỏi cánh cửa tử thần và ở cả những đứa con vừa mất đi cha/mẹ, những đôi vợ/chồng phải lìa xa nhau mãi mãi, cũng không thiếu cảnh ‘người đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh’. Hơn hết, nó đặc biệt hiện hữu ở các nhân viên y tế tham gia trực tiếp vào hành trình chống dịch covid khắc nghiệt.
Trong năm 2021, đã có một vài số liệu thống kê thể hiện tình trạng này. Khảo sát thực hiện bởi Đại học Y Hà Nội trên 400 nhân viên y tế ở Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương và Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình trong khoảng thời gian từ ngày đầu tiếp nhận điều trị bệnh nhân nhiễm covid-19 đến hết ngày 31/05/2020. Số liệu cụ thể được thể hiện qua 2 bảng sau đây: Có Không Stress sau sang chấn ( PTSD ) n % n % Bác sĩ 23 5,8 86 21,5 Điều dưỡng 39 9,8 152 38,0 Hộ lý 1 0,3 3 0,8 Khác 7 1,8 89 22,3 Tổng 70 17,5 330 82,5 Bảng 1: Phân bổ tỷ lệ stress sau sang chnn theo tronh đp chuyên môn cra nhân viên y tế 4 Tiểu luận giữa học kì 1 GVHD: Bác sĩ Phan Thiệu Xuân Giang Stress sau sang Bệnh viện đa khoa tỉnh Bệnh viện Nhiệt đới Tổng chấn Ninh Bonh trung ương n % n % n % Có 21 15,0 49 18,1 70 17,5 Không 119 85,0 211 81,2 330 82,5 Bảng 2: Tỷ lệ stress sau sang chấn cra nhân viên y tế Kết quả cụ thể đã ghi nhận có đến 17,5% nghiệm thể mắc rối loạn stress sau sang chấn, trong đó tỷ lệ ở điều dưỡng cao hơn so với bác sĩ. Một khảo sát khác được thực hiện bởi Học viện Quân y và Bệnh viện Quân y 103 trên 86 nhân viên ở một trung tâm cách ly cũng cho thấy tỷ lệ mắc PTSD là 5,81% và tỷ lệ mắc PTSD gây hậu quả nghiêm trọng là 12,79%.
Trong thời gian chống dịch, các nhân viên y tế phải đối mặt với lượng công việc và áp lực khổng lồ. Họ không được gặp gỡ gia đình, phải cách ly với xã hội. Đồng thời phải đối diện với nỗi lo lắng việc người nhà bị nhiễm bệnh, với sự kỳ thị của hàng xóm đối với bản thân và gia đình. Họ cũng cảm thấy bất an khi xem truyền thông.
Chính vì những nguyên nhân ấy, stress sau sang chấn dường như đã trở thành một vấn đề tâm lý nghiêm trọng khó lòng tránh khỏi đối với nhân viên y tế. Song không chỉ có mỗi những nhân viên làm việc trong ngành y tế phải hứng chịu những sang chấn dai dẳng sau đại dịch Covid 19. Mà còn ảnh hưởng rất nhiều tới các bệnh nhân mắc bệnh Covid và người thân của họ. Theo nghiên cứu của gần 48.000 bê ªnh nhân sau khi hồi phục Covid-19, có đến 55 triê ªu chứng vẫn còn tồn tại lâu dài, trong đó có các triệu chứng của rối loạn stress sau căng thẳng (theo thành uỷ TP HCM).
5 Tiểu luận giữa học kì 1 GVHD: Bác sĩ Phan Thiệu Xuân Giang 2.BS Bùi Văn San - Viện Sức khỏe tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai cho biết gần đây tỉ lệ bệnh nhân đi khám ngoại trú tại Viện Sức khỏe tâm thần tăng lên đáng kể, đạt khoảng 250 đến 300 người đi khám mỗi ngày, chủ yếu gặp những vấn đề về rối loạn lo âu, rối loạn giấc ngủ, căng thẳng lo lắng.TS Huỳnh Văn Sơn - Hiệu trưởng ĐH Sư phạm TPHCM, đã có nghiên cứu tại một số quốc gia cho thấy, sau điều trị COVID-19 cứ 5 người thì có 1 người bị sang chấn và xuất hiện triệu chứng PTSD. Những số liệu thống kê thể hiện tỷ lệ lưu hành trên đây đã phần nào cung cấp thêm một vài góc nhìn để tiếp cận tốt hơn về rối loạn này. Ở những phần sau, các cơ chế bệnh sinh cũng như các phương pháp trị liệu của PTSD sẽ được khai thác một cách khoa học và kỹ càng hơn. 6 Tiểu luận giữa học kì 1 GVHD: Bác sĩ Phan Thiệu Xuân Giang CHƯƠNG 3: TRIỆU CHỨNG CỦA PTSD PTSD như được định nghĩa hiện nay trong DSM-5, được đặc trưng bởi bốn cụm triệu chứng cốt lõi: (1) Hồi ức tái diễn, không tự nguyện và xâm nhập về sự kiện (2) Tránh các kích thích liên quan đến chấn thương, (3) Thay đổi tiêu cực trong nhận thức hoặc tâm trạng liên quan đến sự kiện, hoặc tê liệt (hoặc cả hai) (4) Thay đổi về kích thích và phản ứng, bao gồm cả mức độ nhạy cảm cao hơn đối với mối đe dọa tiềm ẩn Các triệu chứng của PTSD được chia thành bốn loại.
Các triệu chứng cụ thể có thể khác nhau về mức độ nghiêm trọng (hình 3.1 phụ lục): Xâm nhập (Intrusive): Những ý nghĩ xâm nhập chẳng hạn như ký ức lặp đi lặp lại, không tự chủ; những giấc mơ đau buồn; hoặc hồi tưởng về sự kiện đau buồn. Hồi tưởng có thể sống động đến mức mọi người cảm thấy họ đang sống lại trải nghiệm đau thương hoặc nhìn thấy nó trước mắt họ. Tránh (Avoidance): Việc tránh nhắc nhở về sự kiện đau buồn có thể bao gồm tránh những người, địa điểm, hoạt động, đồ vật và tình huống có thể kích hoạt ký ức đau buồn.