Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sức khỏe tâm thần là một cấu phần thiết yếu trong hệ thống chăm sóc sức khỏe cộng đồng toàn cầu. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 25% dân số thế giới từng trải qua rối loạn tâm thần tại một thời điểm trong cuộc đời. Ước tính đến năm 2030, trầm cảm sẽ trở thành nguyên nhân hàng đầu trong gánh nặng bệnh tật toàn cầu. Tại Việt Nam, tỷ lệ trầm cảm và rối loạn lo âu trong toàn dân số lần lượt được ghi nhận ở mức 4,0% và 2,2%. Đáng chú ý, khoảng 85% người bệnh trầm cảm có biểu hiện đồng mắc các triệu chứng lo âu.

Sinh viên đại học, đặc biệt là sinh viên khối ngành Y Dược, là nhóm đối tượng có nguy cơ cao đối mặt với các rối loạn tâm lý. Quá trình đào tạo y khoa đặc thù bởi khối lượng kiến thức lớn, thời gian đào tạo kéo dài, tính chất nghiêm ngặt của thực hành lâm sàng và các ca trực tại bệnh viện. Bên cạnh đó, áp lực tự lập, tự quản lý tài chính, sinh hoạt xa nhà ở nhóm sinh viên ngoại tỉnh và sự cạnh tranh thành tích học tập tạo nên các căng thẳng tâm lý kéo dài. Khảo sát năm 2015 trên sinh viên tại 8 trường Đại học Y Dược ở Việt Nam cho thấy tỷ lệ trầm cảm lên tới 43,2%, trong đó có 8,7% sinh viên từng có ý tưởng tự sát và 0,9% đã thực hiện hành vi tự sát.

Tại Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN), sinh viên trải qua mô hình đào tạo kết hợp – kế tiếp ($a+b$), gồm giai đoạn học kiến thức đại cương tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên và giai đoạn học chuyên ngành lâm sàng, cận lâm sàng, tiền lâm sàng tại Trường Đại học Y Dược và hệ thống bệnh viện thực hành. Môi trường đào tạo kỷ luật cao cùng sự biến động điều kiện học tập đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đánh giá sức khỏe tâm thần của người học. Phần lớn các công trình trước đây tại Việt Nam chỉ khảo sát đơn lẻ từng trạng thái hoặc tập trung vào chuyên ngành Y tế công cộng, thiếu các dữ liệu đánh giá đồng thời cả ba rối loạn trầm cảm, lo âu và stress trên sinh viên đa ngành y khoa tại cùng một thời điểm.

Từ bối cảnh thực tiễn đó, khóa luận tốt nghiệp ngành Y Đa khoa của tác giả Vũ Thái Phương Nam được triển khai nhằm giải quyết 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Mô tả thực trạng trầm cảm, lo âu và stress ở sinh viên Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN năm học 2021–2022.
  2. Mô tả một số yếu tố liên quan đến trầm cảm, lo âu, stress ở sinh viên Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN năm học 2021–2022.
  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ sinh viên hệ chính quy từ năm thứ nhất đến năm thứ sáu thuộc 6 chuyên ngành đào tạo (Y đa khoa, Dược học, Răng - Hàm - Mặt, Kỹ thuật xét nghiệm y học, Kỹ thuật hình ảnh y học, Điều dưỡng) đang học tập tại Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN đồng ý tham gia khảo sát. Tiêu chuẩn loại trừ là các sinh viên đã thôi học.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu được thực hiện tại Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN. Thời gian tiến hành nghiên cứu từ tháng 06/2021 đến tháng 06/2022, trong đó giai đoạn thu thập số liệu khảo sát trực tuyến diễn ra từ tháng 10/2021 đến hết tháng 01/2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các chuẩn mực dịch tễ học và tâm lý học lâm sàng quốc tế:

  • Khái niệm Trầm cảm: Tiếp cận theo Tiêu chuẩn chẩn đoán Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD-10, mã F32.-) của WHO, xác định trầm cảm là trạng thái ức chế toàn bộ hoạt động tâm thần (ức chế cảm xúc, ức chế tư duy, ức chế vận động) với khí sắc trầm, giảm năng lượng, giảm quan tâm/thích thú kéo dài tối thiểu 2 tuần.
  • Khái niệm Lo âu: Tiếp cận theo quan điểm của WHO (thuộc nhóm rối loạn tâm căn có liên quan đến stress và dạng cơ thể) và tổng quan y văn từ Robert Burton, Hippocrates; biểu hiện bởi sự sợ hãi quá mức, vô cớ, không kiểm soát được, mang tính mạn tính hoặc kịch phát.
  • Khái niệm Stress: Sử dụng định nghĩa tâm lý học của Richard Lazarus, xem stress là trạng thái cảm xúc nảy sinh khi cá nhân nhận định các đòi hỏi từ môi trường bên trong hoặc bên ngoài vượt quá nguồn lực mà họ có thể huy động (kế thừa các nền tảng sinh lý học của W. Cannon và Hans Selye).
  • Công cụ đo lường DASS-21 (Depression – Anxiety – Stress Scales 21): Thang đo rút gọn từ DASS-42 do Lovibond S.F. (Đại học New South Wales, Úc) xây dựng năm 1995/1997, được chuẩn hóa tiếng Việt bởi Trần Đức Thạch và cộng sự (2013) với hệ số tin cậy Cronbach's Alpha đạt 0,88. Thang gồm 21 câu hỏi (mỗi phân thang gồm 7 câu, thang Likert 4 mức từ 0 đến 3). Điểm số từng phân thang được nhân hệ số 2 để quy đổi về thang điểm 42:
Mức độ phân loại Điểm Trầm cảm Điểm Lo âu Điểm Stress
Bình thường 0 – 9 0 – 7 0 – 14
Nhẹ 10 – 13 8 – 9 15 – 18
Vừa 14 – 20 10 – 14 19 – 25
Nặng 21 – 27 15 – 19 26 – 33
Rất nặng $\ge$ 28 $\ge$ 20 $\ge$ 34

Phương pháp nghiên cứu được triển khai theo quy trình dịch tễ học định lượng:

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang (cross-sectional study).
  • Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu: Quần thể nghiên cứu gồm 1.685 sinh viên phân bố trên 6 khối năm học ($N_1=394, N_2=412, N_3=341, N_4=274, N_5=207, N_6=57$). Áp dụng công thức tính cỡ mẫu phân tầng ngẫu nhiên qua phần mềm WHO Sample Size 2.0 với mức sai lệch $d=0,05$, mức ý nghĩa $\alpha=0,05$ ($Z=1,96$) và tỷ lệ tham chiếu trầm cảm $P_h=0,396$ (theo nghiên cứu tiền nhiệm tại Đại học Y Hà Nội). Cỡ mẫu tối thiểu được xác định là 302 sinh viên. Tác giả đã mở rộng chọn mẫu thuận tiện trên toàn bộ các lớp, thu về tổng số 783 mẫu hợp lệ (đạt tỷ lệ 46,5% tổng số sinh viên toàn trường).
  • Thu thập và xử lý số liệu: Thu thập dữ liệu sơ cấp bằng bộ câu hỏi điện tử cấu trúc hóa qua Google Forms. Số liệu được mã hóa, làm sạch và phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS 20.0. Các biến số phụ thuộc được phân nhóm nhị phân (có dấu hiệu bất thường gồm mức nhẹ đến rất nặng / không có dấu hiệu gồm mức bình thường). Các mối liên quan giữa yếu tố cá nhân, học tập, gia đình, xã hội với trầm cảm, lo âu, stress được kiểm định ở ngưỡng ý nghĩa thống kê $p < 0,05$. Nghiên cứu tuân thủ các nguyên tắc đạo đức y sinh, được phê duyệt bởi Ban Giám hiệu và Phòng Đào tạo & Công tác HSSV.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các khái niệm, cơ chế bệnh sinh và dịch tễ học của trầm cảm, lo âu và stress. Tác giả tổng thuật các nghiên cứu quốc tế tiêu biểu như: nghiên cứu của Nuran Bayram tại Thổ Nhĩ Kỳ ghi nhận 27,1% sinh viên trầm cảm, 47,1% lo âu và 27,0% stress; nghiên cứu của Khadijah Shamsuddin tại Malaysia chỉ ra 37,2% trầm cảm, 63% lo âu và 23,7% stress; nghiên cứu của Ganesh S. Kumar tại Ấn Độ ghi nhận 71,3% sinh viên y khoa có biểu hiện trầm cảm. Tại Việt Nam, tác giả tổng hợp các phát hiện của Lê Minh Thuận (2011) tại ĐH Y Dược TP.HCM (75% trầm cảm, 75% lo âu, 77% stress), Phạm Thị Huyền Trang (2013) tại ĐH Y Hà Nội (63,6% stress), Vũ Dũng (2015) tại ĐH Thăng Long (22,8% stress cao).

Từ tổng quan y văn, tác giả xây dựng sơ đồ khung lý thuyết phân loại 3 nhóm yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe tâm thần sinh viên:

  1. Yếu tố cá nhân: Tuổi, giới tính, năm học, nơi sinh, nơi ở hiện tại, tình trạng tài chính, tiền sử rối loạn tâm lý.
  2. Yếu tố học tập: Khối lượng kiến thức, lịch thi cử, điểm GPA, tình trạng thi lại, kỹ năng lập kế hoạch, sự hài lòng với ngành học và điểm số.
  3. Yếu tố gia đình, bạn bè và xã hội: Điều kiện kinh tế gia đình, quan hệ bố mẹ, mâu thuẫn gia đình, sự chia sẻ của nhóm bạn thân, khả năng thích nghi với môi trường sống.

Chương này cũng giới thiệu lịch sử hình thành Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN, cơ cấu 6 ngành đào tạo và quy chế phân chia các giai đoạn khối kiến thức M3, M4, M5 trong mô hình đào tạo y khoa.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận dịch tễ học, công thức tính cỡ mẫu phân tầng, quy trình thiết kế và cấu trúc của phiếu khảo sát trực tuyến. Tác giả trình bày bảng phân bố tỷ lệ phản hồi thực tế theo từng khối năm học: Năm 1 đạt 41% ($n=163$), Năm 2 đạt 34% ($n=140$), Năm 3 đạt 45% ($n=155$), Năm 4 đạt 64% ($n=176$), Năm 5 đạt 52% ($n=107$), Năm 6 đạt 74% ($n=42$).

Quy trình quản lý biến số được xác định rõ ràng, bao gồm biến số nhân khẩu học, biến số đánh giá học tập (GPA, thi lại, vi phạm nội quy), biến số quan hệ gia đình - xã hội, và các biến số đầu ra từ thang đo DASS-21. Tác giả phân tích các giải pháp kiểm soát sai số do tính chất nhạy cảm của vấn đề sức khỏe tâm thần và công khai các cam kết đạo đức nghiên cứu đối với dữ liệu cá nhân của người học.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày các phát hiện định lượng trên 783 sinh viên khảo sát:

  • Đặc điểm nhân khẩu - xã hội: Nữ giới chiếm 56,2% ($n=440$), nam giới chiếm 43,8% ($n=343$); 87,6% là dân tộc Kinh; 92,5% không theo tôn giáo; 57,7% sinh ra tại khu vực nông thôn. Về nơi ở hiện tại, 52,6% sinh viên thuê nhà trọ, 21,5% sống cùng bố mẹ, 16,7% ở ký túc xá và 9,1% ở nhà người quen/họ hàng. Về tài chính cá nhân, 47,3% cảm nhận tài chính gần đủ nhưng phải đắn đo chi tiêu và 11,6% không đủ chi phí sinh hoạt.
  • Đặc điểm gia đình và quan hệ xã hội: 96,0% sinh viên có bố mẹ sống cùng nhau, 90,5% gia đình có mức kinh tế trung bình; 43,8% sinh viên từng chứng kiến bố mẹ bất hòa và 39,7% có mâu thuẫn với gia đình. 50,7% sinh viên gặp khó khăn khi tìm bạn mới, 31,9% khó thích nghi nơi ở trọ/người quen; 81–82% có bạn thân/nhóm bạn thân và 83,8% thường xuyên chia sẻ khúc mắc với bạn bè.
  • Đặc điểm học tập: GPA phân bố chủ yếu ở mức Khá (57,4%), Giỏi (17,4%), Trung bình (18,8%), Xuất sắc (4,1%) và Yếu (2,3%). Đáng chú ý, 64,8% sinh viên không hài lòng với kết quả thi cử. Tỷ lệ thi lại là 12,4% ($n=97$, trong đó 56,7% thi lại 1 môn, 27,8% thi lại 2 môn và 15,5% thi lại trên 2 môn). Tỷ lệ vi phạm nội quy chỉ chiếm 0,9%.
  • Thực trạng Trầm cảm, Lo âu, Stress:
    • Tỷ lệ có biểu hiện trầm cảm là 53,4% (nhẹ: 25,8%, vừa: 20,9%, nặng: 3,6%, rất nặng: 3,1%).
    • Tỷ lệ có biểu hiện lo âu là 59,5% (nhẹ: 14,7%, vừa: 29,2%, nặng: 9,5%, rất nặng: 6,1%).
    • Tỷ lệ có biểu hiện stress là 48,0% (nhẹ: 25,3%, vừa: 15,2%, nặng: 5,4%, rất nặng: 2,2%).
  • Phân bố theo nhóm nhân khẩu:
    • Theo giới tính: Nữ giới có tỷ lệ mắc cao hơn nam giới ở cả 3 trạng thái: Trầm cảm (51,7% ở nữ vs 48,3% ở nam), Lo âu (55,2% vs 44,8%), Stress (59,3% vs 40,7%).
    • Theo năm học: Trầm cảm cao nhất ở sinh viên năm thứ hai (58,6%) và thấp nhất ở năm thứ nhất (44,8%). Lo âu cao nhất ở sinh viên năm thứ sáu (71,4%) và thấp nhất ở năm thứ ba (55,5%). Stress cao nhất ở sinh viên năm thứ ba (52,9%) và thấp nhất ở sinh viên năm thứ năm (42,1%).

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 đối sánh kết quả thu được với các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế. Tác giả lập luận rằng tỷ lệ lo âu (59,5%) và trầm cảm (53,4%) ở sinh viên ĐH Y Dược – ĐHQGHN tuy thấp hơn kết quả của Lê Minh Thuận năm 2011 tại ĐH Y Dược TP.HCM (75% cho cả hai rối loạn), nhưng cao hơn đáng kể so với mức trung bình của quần thể chung và sinh viên các trường ngoài khối sức khỏe.

Tác giả phân tích sâu sắc các biến thiên dịch tễ học theo năm học: sinh viên năm thứ hai có tỷ lệ trầm cảm cao nhất (58,6%) do đây là thời điểm chuyển giao từ kiến thức đại cương sang khối kiến thức cơ sở ngành y dược với phương pháp học tập hoàn toàn mới; sinh viên năm thứ ba có tỷ lệ stress cao nhất (52,9%) do bắt đầu bước vào thực tập lâm sàng tại các bệnh viện với cường độ trực đêm và tiếp xúc người bệnh; sinh viên năm thứ sáu ghi nhận tỷ lệ lo âu cao vượt trội (71,4%) xuất phát từ các áp lực thi tốt nghiệp, bảo vệ khóa luận, chứng chỉ hành nghề và định hướng việc làm sau tốt nghiệp. Đồng thời, chương này thảo luận về các tác động bất lợi của việc ở trọ biệt lập, áp lực tài chính, bất hòa gia đình và sự thiếu hụt mạng lưới hỗ trợ xã hội đến sức khỏe tâm thần của sinh viên.


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính của nghiên cứu

Khóa luận đã định lượng cụ thể tỷ lệ hiện mắc các mức độ rối loạn tâm lý trên mẫu 783 sinh viên Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN năm học 2021–2022:

Chỉ số đánh giá Bình thường Có biểu hiện chung Mức độ Nhẹ Mức độ Vừa Mức độ Nặng Mức độ Rất nặng
Trầm cảm 46,6% ($n=365$) 53,4% ($n=418$) 25,8% ($n=202$) 20,9% ($n=164$) 3,6% ($n=28$) 3,1% ($n=24$)
Lo âu 40,5% ($n=317$) 59,5% ($n=466$) 14,7% ($n=115$) 29,2% ($n=229$) 9,5% ($n=74$) 6,1% ($n=48$)
Stress 52,0% ($n=407$) 48,0% ($n=376$) 25,3% ($n=198$) 15,2% ($n=119$) 5,4% ($n=42$) 2,2% ($n=17$)

Các đặc trưng dịch tễ phân nhóm nổi bật:

  • Nữ giới chịu ảnh hưởng bởi stress, lo âu và trầm cảm cao hơn nam giới (chiếm từ 51,7% đến 59,3% trong tổng số các ca có biểu hiện).
  • Tỷ lệ lo âu ở mức độ nặng và rất nặng đạt mức đáng lo ngại ($9,5%$ và $6,1%$).
  • Phân hóa nguy cơ theo giai đoạn đào tạo: Trầm cảm đạt đỉnh ở năm thứ hai ($58,6%$), Stress đạt đỉnh ở năm thứ ba ($52,9%$), Lo âu đạt đỉnh ở năm thứ sáu ($71,4%$).
  • Yếu tố không hài lòng với điểm thi chiếm tỷ lệ cao ($64,8%$), tạo áp lực tâm lý thường trực lên sinh viên y khoa.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Đối với nhà trường và cơ sở đào tạo: Cần thiết lập các kênh/trung tâm tư vấn tâm lý học đường định kỳ nhằm phát hiện sớm sinh viên có nguy cơ rối loạn tâm thần; tổ chức các chương trình hướng dẫn kỹ năng thích nghi học tập cho sinh viên năm thứ hai và định hướng nghề nghiệp, giải tỏa áp lực thi cử cho sinh viên năm cuối; xem xét điều chỉnh phân bổ lịch thi, lịch trực lâm sàng hợp lý.
  • Đối với gia đình và xã hội: Tăng cường sự gắn kết, chia sẻ, hỗ trợ tài chính và tinh thần từ phía gia đình; giảm thiểu các xung đột, bất hòa gia đình.
  • Đối với bản thân sinh viên: Chủ động xây dựng kế hoạch học tập khoa học, duy trì nếp sống lành mạnh, cởi mở chia sẻ khó khăn với bạn bè thân thiết và chủ động tìm kiếm sự trợ giúp chuyên môn khi xuất hiện các dấu hiệu tâm lý bất thường.

Đóng góp khoa học của đề tài

  • Khóa luận là công trình đầu tiên khảo sát toàn diện và đồng thời cả 3 trạng thái trầm cảm, lo âu, stress trên sinh viên tất cả 6 khối ngành tại Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN sau giai đoạn trường được nâng cấp thành lập.
  • Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng chuẩn hóa theo thang đo DASS-21, làm cơ sở khoa học đối sánh cho các nghiên cứu dịch tễ học sức khỏe tâm thần trong khối các trường đại học y dược tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận được tác giả thẳng thắn chỉ ra các giới hạn kỹ thuật và phương pháp:

  1. Thiết kế nghiên cứu: Sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang nên chỉ phản ánh thực trạng và nguy cơ tại một thời điểm nhất định, không thể chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố liên quan với tình trạng trầm cảm, lo âu và stress.
  2. Giá trị công cụ đo lường: Thang đo DASS-21 chỉ mang tính chất sàng lọc ban đầu trong cộng đồng, không có giá trị chẩn đoán xác định bệnh lý tâm thần như các quy chuẩn lâm sàng quốc tế (ICD-10 hay DSM-5).
  3. Phạm vi mẫu: Nghiên cứu chỉ tiến hành tại một cơ sở đào tạo là Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN, chưa mở rộng so sánh liên trường.
  4. Sai số thu thập dữ liệu: Khảo sát trực tuyến qua Google Forms tự điền có thể gặp sai số do người tham gia trả lời thiếu tập trung, hoặc e ngại che giấu thông tin do sức khỏe tâm thần là vấn đề nhạy cảm.

Hướng mở rộng nghiên cứu: Tác giả đề xuất các nghiên cứu tiếp theo nên áp dụng thiết kế nghiên cứu thuần tập theo dõi dọc (longitudinal study) để theo dõi diễn biến tâm lý sinh viên qua từng năm học, đồng thời kết hợp các phỏng vấn chẩn đoán tâm thần chuyên sâu đối với các trường hợp sàng lọc ở mức độ nặng và rất nặng.


Giá trị tham khảo

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Thái Phương Nam mang lại giá trị tham khảo học thuật và thực tiễn thiết thực:

  • Đối với cán bộ quản lý giáo dục và công tác sinh viên: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng về tỷ lệ và thời điểm sinh viên dễ bị tổn thương tâm lý nhất (năm 2, năm 3 và năm 6), giúp nhà trường xây dựng kế hoạch hỗ trợ tâm lý học đường đúng trọng tâm.
  • Đối với giảng viên và nghiên cứu viên y học dự phòng, tâm thần học: Cung cấp một khung tham chiếu phương pháp luận hoàn chỉnh về: cách áp dụng công thức tính cỡ mẫu phân tầng theo khối năm học trên phần mềm WHO Sample Size 2.0; quy trình chuẩn hóa và phân loại điểm số thang đo DASS-21 tại Việt Nam.
  • Đối với sinh viên thực hiện đề tài sức khỏe tâm thần: Là tài liệu mẫu mực về cấu trúc khóa luận y khoa thực nghiệm mô tả cắt ngang, cách trình bày hệ thống bảng biểu dịch tễ, sơ đồ hóa các biến số nghiên cứu và kỹ thuật biện luận số liệu y văn.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ sinh viên có biểu hiện trầm cảm, lo âu và stress trong nghiên cứu là bao nhiêu?
Kết quả khảo sát trên 783 sinh viên Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN cho thấy tỷ lệ có biểu hiện lo âu là cao nhất với 59,5% ($n=466$), tiếp đến là trầm cảm với 53,4% ($n=418$) và stress là 48,0% ($n=376$). Trong đó, đa số sinh viên ở mức độ nhẹ và vừa; tỷ lệ lo âu ở mức nặng và rất nặng lần lượt chiếm 9,5% và 6,1%.

2. Công cụ nào được sử dụng để đánh giá tình trạng tâm lý sinh viên trong khóa luận?
Nghiên cứu sử dụng thang đo DASS-21 (Depression – Anxiety – Stress Scales 21) của Lovibond (1995/1997), phiên bản tiếng Việt đã được Trần Đức Thạch và cộng sự chuẩn hóa năm 2013 (độ tin cậy Cronbach’s alpha = 0,88). Thang đo gồm 21 câu hỏi chia đều cho 3 phân thang, điểm số tính theo tuần gần nhất và nhân đôi để đối chiếu phân loại.

3. Tỷ lệ trầm cảm, lo âu và stress biến thiên như thế nào theo từng khối năm học?

  • Tỷ lệ trầm cảm cao nhất ở sinh viên năm thứ hai (58,6%) và thấp nhất ở năm thứ nhất (44,8%).
  • Tỷ lệ lo âu cao nhất ở sinh viên năm thứ sáu (71,4%) và thấp nhất ở năm thứ ba (55,5%).
  • Tỷ lệ stress cao nhất ở sinh viên năm thứ ba (52,9%) và thấp nhất ở năm thứ năm (42,1%).

4. Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định và thu thập như thế nào?
Từ tổng quần thể 1.685 sinh viên của 6 khối năm học, cỡ mẫu tối thiểu được tính theo công thức phân tầng ngẫu nhiên qua phần mềm WHO Sample Size 2.0 là 302 đối tượng. Quá trình triển khai phát phiếu Google Forms trực tuyến đến tất cả các lớp đã thu về cỡ mẫu thực tế là 783 sinh viên hợp lệ.

5. Các yếu tố học tập và môi trường sống nào nổi bật được ghi nhận trong mẫu nghiên cứu?
Nghiên cứu ghi nhận 52,6% sinh viên sống ở nhà trọ; 47,3% sinh viên có tài chính cá nhân ở mức gần đủ nhưng phải đắn đo khi chi tiêu; 64,8% không hài lòng với kết quả thi; 12,4% sinh viên phải thi lại; 43,8% sinh viên từng chứng kiến bố mẹ bất hòa và 50,7% gặp khó khăn khi tìm kiếm bạn mới.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Thái Phương Nam đã phản ánh bức tranh thực trạng sức khỏe tâm thần tại Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN năm học 2021–2022 với tỷ lệ sinh viên có biểu hiện lo âu (59,5%), trầm cảm (53,4%) và stress (48,0%) ở mức cao. Công trình ghi nhận sự phân hóa dịch tễ rõ rệt theo giới tính, điều kiện sinh hoạt và từng năm đào tạo, đặc biệt là đỉnh điểm lo âu ở sinh viên năm cuối và stress ở giai đoạn bắt đầu học thực hành bệnh viện. Đây là tài liệu nghiên cứu dịch tễ học định lượng có giá trị phương pháp luận chặt chẽ, cung cấp cơ sở dữ liệu xác thực cho công tác tham vấn tâm lý học đường và xây dựng chính sách hỗ trợ sinh viên ngành y.