CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này sẽ trình bày các khái niệm cơ bản: thái độ, hành vi và các lý thuyết: lý thyết hành động hợp lý (TRA – Theory of Reasoned Actions), lý thuyết về hành vi dự định (TPB – Theory of Planned Behavior). Bên cạnh đó, các nghiên cứu liên quan về các yếu các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn trường đại học trên thế giới và tại Việt Nam cũng sẽ được trình bày trong chương này nhằm tìm ra khung phân tích về các nhân tố ảnh hưởng đến việc chọn trường của học sinh THPT áp dựng cho nghiên cứu luận văn.1 Khái niệm về thái độ Theo Zimbardo và Leippe, thái độ là một khuynh hướng đánh giá hướng đến một số đối tượng dựa trên sự nhận thức, phản ứng tình cảm, hành vi dự định, hành vi quá khứ,. có ảnh hưởng đến nhận thức, phản ứng tình cảm và những hành vi và dự định tương lai.2 Khái niệm về hành vi Hành vi “là một chuỗi các hành động lặp đi lặp lại. Hành động là toàn thể những hoạt động (phản ứng, cách ứng xử) của cơ thể, có mục đích cụ thể là nhằm đáp ứng lại kích thích ngoại giới” là hành động hoặc phản ứng của đối tượng (khách thể) hoặc sinh vật, thường sử dụng trong sự tác động đến môi trường, xã hội.
Hành vi có thể thuộc về ý thức, tiềm thức, công khai hay bí mật, và tự giác hoặc không tự giác. Hành vi là một giá trị có thể thay đổi qua thời gian (Nguyễn Văn Chương, 2013).3 Khái niệm về ý định chọn trường của học sinh THPT Chọn trường đại học của học sinh THPT đề cập đến quyết định dựa trên sự ưa thích các trường đại học để có thể học thêm. Quyết định này được giả định phải thực hiện liên quan đến việc thỏa mãn nhu cầu (Glasser, 1998) và sự cân nhắc các cơ hội và đánh giá về lợi ích và chi phí có thể cho cuộc sống tương lai (Crossman, 2010). Vì 123doc 8 vậy, ý định chọn trường Đại học Kinh tế Tp.
Hồ Chí Minh của học sinh THPT trong luận văn này được xác định là khi đăng ký xét tuyển chọn trường đại học thì học sinh THPT chọn nguyện 1 vào UEH và muốn theo đuổi việc học tại trường Đại học Kinh Tế Tp. Hồ Chí Minh.2 Lý thuyết về hành động hợp lý (TRA – Theory of Reasoned Action) Thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action) được phát triển từ năm 1967. Trong những năm 1970, lý thuyết này được hiệu chỉnh và mở rộng bởi Ajzen và Fishben. Đây được xem là lý thuyết tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý xã hội.
Thuyết hành động lợp lý TRA được sử dụng để nghiên cứu hành vi con người và phát triển những can thiệp phù hợp. Thuyết hành động hợp lý TRA cung cấp một khung để nghiên cứu thái độ đối với hành vi. Theo lý thuyết này, yếu tố quyết định quan trọng nhất của hành vi một con người là hành vi dự định. Ý định của cá nhân để thể hiện hành vi là sự kết hợp thái độ nhằm thực hiện hành vi và chuẩn chủ quan.
Trong đó, thái độ bao gồm niềm tin vào một hành vi cu ̣ thể và dựa trên sự đánh giá kết quả của các hành vi đó; còn chuẩ n chủ quan là những nhận xét đánh giá từ xã hội đố i với hành vi, trong khi dự đinh ̣ mang tính hành vi phu ̣ thuộc vào thái độ và các tiêu chí chủ quan để dẫn đế n hành động thực sự (Ajzen và Fishbein, 1975). Mối quan hệ giữa ý định và hành vi đã được đưa ra và kiểm chứng thực nghiệm bởi rất nhiều nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khác nhau (Ajzen và Fishben, 1980; Canary và Seibold, 1984; Ajzen, 1988; Sheppard, Hartwick, và Warshaw, 1988). Trong mô hình TRA (Ajzen và Fishbein, 1975), thái độ được đo lường bằng nhận thức về những thuộc tính của vật được lựa chọn. Người lựa chọn sẽ chú ý đến thuộc tính mang lại những lợi ích cần thiết với mức độ quan trọng khác nhau khi lựa chọn.
Nếu biết được trọng số của những thuộc tính đó thì có thể dự đoán gần với kết quả lựa chọn của người sử dụng. Bên cạnh đó, Ajzen (1991, tr. 188) định nghĩa chuẩn chủ quan (Subjective Norms) là nhận thức của những người ảnh hưởng sẽ nghĩ rằng cá nhân đó nên thực hiện hay không thực hiện hành vi. Chuẩn chủ quan được đo lường bằng sự ảnh hưởng của những người liên quan đến người lựa chọn như người thân, những người bạn hay đồng nghiệp thông qua việc những người này thích hay không thích sự lựa chọn của 123doc 9 họ.
Mức độ tác động của chuẩn chủ quan lên xu hướng lựa chọn của một cá nhân phụ thuộc vào: mức hộ ủng hộ hay phản đối với sự lựa chọn của người lựa chọn và động cơ của người lựa chọn làm theo mong muốn của những người có ảnh hưởng. Niềm tin đối với những thuộc tính của sản phẩm Thái độ Đo lường niềm tin đối với những thuộc tính của sản phẩm Xu hướng Hành vi hành vi thực sự Niềm tin về những người ảnh hưởng sẽ nghĩ rằng nên thực hiện hay không thực hiện hành vi Chuẩn chủ quan Sự thúc đẩy làm theo ý muốn của người ảnh hưởng Nguồn: Ajzen và Fishben, 1975 Hình 1.1 Mô hình Thuyết hành động hợp lý (TRA) 1.3 Lý thuyết về hành vi dự định (TPB – Theory of Planned Behavior) Thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991) là sự phát triển từ thuyết hành động hợp lý. Ajzen đã bổ sung thêm yếu tố kiểm soát hành vi vào lý thuyết hành động hợp lý TRA để xây dựng thuyết hành vi dự định TPB. Thuyết này phát biểu rằng có ba nhân tố ảnh hưởng đến ý định dẫn đến hành vi của con người: thái độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi.
Các ý định đó và nhận thức kiểm soát hành vi đã giải thích đáng kể các hành vi khác nhau trong thực tế. Thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức về kiểm soát hành vi có liên quan chủ yếu đến tập hợp các niềm tin về hành vi, chuẩn mực và sự kiểm soát đến hành vi. Bên cạnh đó, theo Ajzen, tập hợp này lại bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố nhân khẩu xã hội học như xã hội, văn hóa, cá tính và các nhân tố ngoại cảnh. 123doc 10 Thái độ (A) Chuẩn chủ quan Ý định hành vi Hành vi (SN) (I) (B) Kiểm soát hành vi (PBC) Nguồn: Ajzen, 1991 Hình 1.2 Mô hình lý thuyết hành vi dự định Thái độ (Attitude): Thái độ là niềm tin của một cá nhân về việc thực hiện một hành vi cụ thể.
Những niềm tin này được gọi là niềm tin hành vi. Một cá nhân dự định thực hiện một hành vi nào đó khi người đó đánh giá nó một cách tích cực. Thái độ được xác định bởi niềm tin của cá nhân về những kết quả của việc thực hiện hành vi (niềm tin hành vi), được đánh giá bởi đánh giá của họ về những kết quả đó (đánh giá kết quả). Thái độ này được cho là có ảnh hưởng trực tiếp tới hành vi dự định và liên quan đến chuẩn chủ quan và kiểm soát hành vi.
Chuẩn chủ quan (Subject norm): Chuẩn chủ quan cũng được giả định là một chức năng của niềm tin mà một cá nhân cụ thể đồng ý hay không đồng ý về việc thực hiện hành vi. Niềm tin làm cơ sở cho chuẩn chủ quan được đặt tên là niềm tin chuẩn. Một cá nhân dự định thực hiện một hành vi nào đó khi người đó nhận thức rằng những người quan trọng khác nghĩ rằng họ nên làm. Những người quan trọng khác có thể là một người nào đó, vợ hoặc chồng, bạn thân, bác sĩ,.
Điều này được đánh giá bằng việc yêu cầu những người được hỏi đánh giá rằng có khả năng hầu hết những người quan trọng đối với họ sẽ đồng ý hay không đồng ý việc họ thực hiện hành vi nhất định. Kiểm soát hành vi (Perceived behavioral control): Kiểm soát hành vi dựa vào mức độ mà một cá nhân cảm thấy rằng việc thực hiện hay không thực hiện hành vi được đề cập dưới sự kiểm soát của ý chí. Con người có thể không hình thành một ý định mạnh mẽ để thực hiện một hành vi nếu họ tin rằng họ không có bất kỳ nguồn lực hay cơ hội nào để thực hiện ngay cả khi họ có thái độ tích cực đối với hành vi và tin rằng những người quan trọng khác sẽ đồng ý hành vi đó (chuẩn chủ quan). Kiểm soát hành vi có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hành vi thông quan hành vi dự 123doc 11 định.
Một đường dẫn trực tiếp từ kiểm soát hành vi đến hành vi được kỳ vọng xuất hiện khi có một số thoả thuận giữa nhận thức về kiểm soát và kiểm soát thực tế của người đó với hành vi. Trên cơ sở lý thuyết về hành vi dự định (TPB), luận văn cũng đã xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định chọn trường Đại học Kinh Tế Tp. Hồ Chí Minh của học sinh THPT bao gồm: động cơ cá nhân, tự tin vào bản thân (thái độ); ảnh hưởng của gia đình, ảnh hưởng của bạn bè và ảnh hưởng của giáo viên THPT (chuẩn chủ quan); khả năng tài chính, cơ hội nghề nghiệp (kiển soát hành vi).4 Các nghiên cứu liên quan Xuất phát từ việc thích khám phá yếu tố nào ảnh hưởng đến việc lựa chọn trường đại học của các học sinh, Agrey, L. (2014) đã xem xét lại rất nhiều yếu tố khác nhau trong quá trình ra quyết định liên quan đến việc chọn trường đại học.
Vì vậy, 261 bạn học sinh đến từ miền Trung của Thái Lan đã được lựa chọn để thực hiện khảo sát. Trong nghiên cứu này, ban đầu, nhóm tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính thông qua việc khảo sát một nhóm nhỏ các bạn học sinh để thảo luận yếu tố nào là quan trọng trong việc quyết định chọn trường đại học. Từ những thông tin này, một bản khảo sát với 45 biến đã được phát triển và sau đó, một cuộc khảo sát đã được hoàn thành. Đối tượng nghiên cứu là học sinh cuối cấp của hệ trung học phổ thông và sinh viên năm nhất mới vừa trúng tuyển vào các trường đại học.
Từ nghiên cứu này, Agrey, L. (2014) đã xác định có 5 yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến việc chọn trường đại học.