Chương 1 Tổng quan tài liệu 34 trang, Chương 2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 17 trang, Chương 3 Kết quả nghiên cứu 34 trang, Chương 4 Bàn luận 35 trang , Kết luận 2 trang, Kiến nghị 1 trang. - Luận án gồm 34 bảng (phần kết quả 30 bảng), có 11 biểu đồ và 15 hình. Sử dụng 157 tài liệu tham khảo gồm 18 tài liệu tiếng Việt, 139 tài liệu tiếng Anh. CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Dịch tễ học loãng xƣơng nam * Trên thế giới: Tỷ lệ loãng xương nam khác nhau tùy theo từng nghiên cứu giao động từ 2-16% và tăng dần theo độ tuổi, tỷ lệ loãng xương của nam thường thấp hơn nữ từ 3-4 lần. Nghiên cứu NHANES 2005–2006 được thực hiện bởi Trung tâm Thống kê Y tế Quốc gia Mỹ trên 3157 người Mỹ trưởng thành từ 50 tuổi trở lên được đo MĐX tại 2 vị trí cổ xương đùi và toàn bộ xương hông, kết quả cho thấy 49% phụ nữ lớn tuổi và 30% đàn ông lớn tuổi bị giảm MĐX ở cổ xương đùi, tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ là 10% và tỷ lệ loãng xương nam là 2%. Trong một nghiên cứu khác tại nước này tiến hành ở nam giới từ 69 đến 74 tuổi, tỷ lệ loãng xương 10,2%. Ở Thụy Sĩ tỷ lệ loãng xương là 6,3% ở nam trong độ tuổi từ 50 - 80 tuổi, tỷ lệ này ở độ tuổi từ 80 - 84 là 16,6%.
Ở một số nước châu Á tỷ lệ loãng xương ở nữ cũng cao hơn nam tương tự như người da trắng. Nghiên cứu tiến hành trên 7042 người độ tuổi từ 20 trở lên ở 10 trung tâm thuộc các tỉnh khác nhau ở Trung Quốc (2002-2006) cho kết quả tỷ lệ loãng xương ở nữ là 31,2 % và 10,4% ở nam giới trên 50. Tại Hồng Công tỷ lệ loãng xương cột sống thắt lưng ở nam là 7% ở nữ là 37%, tỷ lệ loãng xương ở cổ xương 3 đùi ở nam là 6% và ở nữ là 16%. Ở Hàn Quốc tỷ lệ loãng xương là 35,5% ở nữ và 7,5% nam trên 50 tuổi.
* Tại Việt Nam: nghiên cứu của các tác giả ở hai miền Bắc, Nam đã cho thấy tỉ lệ loãng xương ở cả nam và nữ tương đương với một số nước châu Á và nam giới da trắng. Theo số liệu của Nguyễn Thị Thanh Hương tại miền Bắc - Việt Nam nghiên cứu trên 222 nam giới và 612 nữ giới khỏe mạnh tuổi từ 13-83 tỷ lệ loãng xương ở cổ xương đùi nam giới 9% và nữ giới là 17% Nghiên cứu của tác giả Hồ Phạm Thục Lan và cộng sự trên 357 nam và 870 nữ tuổi từ 18 - 89 tại Thành phố Hồ Chí Minh cho kết quả tỷ lệ loãng xương nam 10%, trong khi tỷ lệ loãng xương nữ là 30%. Như vậy, có thể thấy rằng loãng xương và gãy xương do loãng xương thực sự là bệnh phổ biến tại Việt Nam, cần được quan tâm nghiên cứu thích đáng.1 Gen liên quan đến loãng xƣơng 1.1 Nghiên cứu trên thế giới Vai trò của di truyền (gen) liên quan đến MĐX đã được biết đến từ trước đó. Các nghiên cứu trên các cặp song sinh ở cả nam và nữ cho thấy yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng với bệnh loãng xương, quyết định 50-80% MĐX của mỗi cá thể tùy theo từng nghiên cứu.
Hơn nữa các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng gen đóng vai trò quan trọng trong chuyển hóa xương và quá trình mất xương. Các nghiên cứu về các gen liên quan đến loãng xương được tập trung chủ yếu vào các gen (candidate gen) tác động đến các con đường sinh hóa, dược lý và sinh lý học của quá trình tạo xương và hủy xương. Phần lớn những SNP này có ảnh hưởng đến MĐX và gãy xương đã được chỉ ra trong nhiều nghiên cứu với các giá trị p khác nhau và có sự khác biệt giữa các chủng tộc khác nhau. Những SNP quan trọng và phổ biến nhất đã được xác định liên quan đến các quá trình hình thành tế bào tạo xương, hủy xương, tín hiệu Wnt của tế bào tạo xương, vitamin D, Estrogen, Collagen, Mevalonate như là các gen LRP5, LRP6, DKK1, VDR, ColA1, ESR1, ESR2… Trong những năm gần đây với sự phát triển nhanh của khoa học, sự ra đời của các nghiên cứu GWAS (genome wide association studies - nghiên cứu tương quan toàn hệ gen) đã phát hiện ra nhiều SNP mới có liên quan đến MĐX và gãy xương.
Urano và cộng sự tiến hành một phân tích gộp các nghiên cứu GWAS trong 8 năm (2007-2015) đã phát hiện ra nhiều SNP mới liên quan đến loãng xương và gãy xương ở trên 4 quần thể người da trắng và người Châu Á. Trong đó các SNP liên quan đến các quá trình sinh học của xương đã biết đến: con đường tín hiệu WNT/β-catenin: catenin β1 (CTNNB1), sclerostin (SOST), LRP4, LRP5, GPR177, WNT4, WNT5B, WNT16, dickkopf1 (DKK1), gen tổng hợp protein xoắn xuyên màng 4 (sFRP4), Jagged 1 (JAG1), MEF2C và AXIN1. Các nghiên cứu GWAS cho loãng xương cũng đã xác định được ba các yếu tố quan trọng, cụ thể là RANK, RANKL và OPG tác động đến quá trình biệt hóa tế bào gốc trung mô thành tế bào tạo xương. Tuy nhiên các tác giả cũng tìm thấy một số locus ở trên các gen mà hiện tại chưa thấy được vai trò của nó trong các cơ chế sinh học của xương (FAM210A, SLC25A13…).
Nghiên cứu của tác giả Kempt và cộng sự năm 2013 tiến hành trên 14.492 người Anh ở cả 2 giới phát hiện được 307 SNP trên 203 locus gây ảnh hưởng đến MĐX ở mức có ý nghĩa, trong đó có 153 locus mới phát hiện so với các công bố trước đó, nhóm tác giả cũng chỉ ra 12 SNP liên quan đến gãy xương một cách có ý nghĩa. Năm 2021 tác giả Zhu X và cộng sự tiến hành nghiên cứu phân tích gộp 512 nghiên cứu GWAS trên thế giới trong vòng 12 năm cho kết quả tìm thấy 518 locus trong bộ gen người ảnh hưởng đến MĐX và gãy xương. Trong đó chỉ 20% locus này giải thích được mối liên quan của nó với cơ chế sinh học của xương. Loãng xương là một bệnh lý phức tạp đa yếu tố, sự tác động của gen đến MĐX, loãng xương và gãy xương đã được khẳng định.
Tuy nhiên cơ chế tách động thực sự trên xương vẫn còn nhiều điều chưa sáng tỏ. Do đó vẫn cần nhiều nghiên cứu trên các đối tượng chủng tộc, giới tính, độ tuổi khác nhau để làm sáng tỏ vai trò của gen với loãng xương và gãy xương. Nghiên cứu tại Việt Nam Tại Việt Nam năm 2015 tác giả Hồ Phạm Thục Lan và cộng sự thuộc trường Đại học Tôn Đức Thắng đã tiến hành nghiên cứu nhằm xác định sự ảnh hưởng của các đa hình gen lên MĐX ở người Việt Nam. Nghiên cứu được tiến hành trên 564 người khỏe mạnh từ 18 tuổi trở lên với tuổi trung bình 47 (180 nam và 384 nữ) sống tại Thành phố Hồ Chí Minh, các cá nhân được đo MĐX bằng phương pháp DXA tại vị trí cột sống thắt lưng, cổ xương đùi và đầu trên xương đùi.
Đối tượng nghiên cứu được xác định 32 đa hình gen (của 29 gen: LRP5, SP7, MBL2/DKK1, ESR1, DHCR7, MEF2C, SOST, VDR, RANK, RANKL, SCL25A13, MEPE…), các đa hình gen này đã được xác định có mối liên quan đến MĐX ở người da trắng và một số nước châu Á. Kết quả nghiên cứu cho thấy 3 gen SP7 rs2016266, ZBTB40 rs7543680 và 5 MBL2/DKK1 rs1373004 làm giảm MĐX ở mức có ý nghĩa sau khi đã kiểm soát yếu tố tuổi, giới và cân nặng. Ba đa hình gen này ảnh hưởng từ 0.2% đến 1,1% MĐX, đặc biệt đa hình gen SP7 rs2016266 có mối tương quan cao nhất, alen G làm thay đổi 0,02 g/cm2 MĐX ở cổ xương đùi và toàn cơ thể. Trong đó tác giả Hồ Phạm Thục Lan nghiên cứu 2 đa hình rs3736228 và rs599083 của gen LRP5 cho kết quả không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa của 2 đa hình gen này với MĐX ở các vị trí.
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu tính đa hình của gen liên quan đến loãng xương ở nam giới trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu tính đa hành của một số gen liên quan đến loãng xương và gãy xương đốt sống. Nghiên cứu thực hiện trên 2 nhóm đối tượng: phụ nữ mãn kinh và nam giới. Trong đó chung tôi tiến hành xác định mối liên quan giữa 3 đa hình gen LRP5 Q89R, MTHFR C677T và FTOrs1121980 với loãng xương và gãy xương đốt sống ở phụ nữ mãn kinh và nam giới. Ba đa hình gen này có mối tương quan đến MĐX và gãy xương trong các nghiên cứu trên thế giới đã thực hiện cụ thể: * LRP5 là một gen có nhiều điểm đa hình gen khác nhau đã được công bố làm giảm MĐX và tăng nguy cơ gãy xương ở cả hai giới trên nhiều chủng tộc khác nhau.
Ở Việt Nam nghiên cứu của tác giả Hồ Phạm Thục Lan xác định 2 điểm đa hình đơn nucleotid rs3736228 và rs599083 của gen LRP5 cho thấy không có mối liên quan với MĐX. Tuy nhiên nhóm tác giả chưa xác định mối liên quan giữa đa hình gen LRP5 tại SNP Q89R; Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ xuất hiện của đa hình gen này chủ yếu trên đối tượng người châu Á, rất ít ở người da trắng. Tần suất alen G của đa hình gen LRP5 Q89R chiếm 7,5% trên đối tượng người Việt Nam, đây là một đa hình gen xuất hiện với tỷ lệ không nhỏ, do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm xác định mối liên quan giữa đa hình gen này với loãng xương ở nam giới mà các nghiên cứu trước đó chưa thực hiện. Trong đó đa hình gen MTHFR C677T được xác định là làm giảm MĐX và tăng nguy cơ gãy xương ở trên cả người da trắng và châu Á.
Ở Việt Nam các nghiên cứu về mối liên quan của đa hình gen MTHFR C677T khá nhiều, cho thấy có mối liên hệ giữa đa hình gen này với bệnh đái tháo đường, gút và xảy thai liên tiếp trong sản khoa. Các nghiên cứu cho thấy tần xuất alen T dao động từ 14,5 đến 25% tùy theo từng nhóm 6 đối tượng nghiên cứu. Do vậy đây là một đa hình gen phổ biến trong quần thể người Việt Nam và cần được quan tâm nghiên cứu mối liên quan của nó với các bệnh lý khác nhau để xác định nguy cơ của đa hình gen này trên người Việt Nam. * FTO (Fat Mass and Obesity-Associated) là một gen được phát hiện trong những năm gần đây, ở Việt Nam các nghiên cứu tiến hành xác định mối liên quan của gen này với béo phì đã được nghiên cứu và công bố.