Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến trí tuệ cảm xúc 1. Hướng nghiên cứu về cấu trúc, biểu hiện của trí tuệ cảm xúc C.Izard (1992), Những cảm xúc của con người [37] đưa ra thuyết các cảm xúc phân hoá và cho rằng cảm xúc có cấu trúc tầng bậc, gồm những cảm xúc nền tảng và những cảm xúc phức hợp. Mỗi cảm xúc trọn vẹn phải được tạo thành bởi ba yếu tố, đó là: cơ chất thần kinh chuyên biệt bị chế ước bên trong, những phức hợp biểu cảm nét mặt đặc trưng và sự thể hiện chủ quan khác biệt.
Hay nói cách khác thì cảm xúc chính là sự thống nhất giữa các biểu hiện bên ngoài và cảm xúc bên trong. Theo đó, cấp bậc thứ nhất gồm mười cảm xúc nền tảng là (1) Hứng thú, (2) Vui sướng, (3) Ngạc nhiên, (4) Đau khổ, (5) Căm giận, (6) Ghê tởm, (7) Khinh bỉ, (8) Khiếp sợ, (9) Xấu hổ, (10) Tội lỗi. Cấp bậc thứ hai là các phức hợp cảm xúc được tạo nên từ “những tổ hợp có biến thiên của các cảm xúc nền tảng và các quá trình xúc động” [37, tr. Như vậy, với quan điểm này đã cho thấy, ở cá nhân tồn tại những trạng thái xúc cảm khác nhau, những xúc cảm này được nhận biết rõ qua các phương tiện biểu cảm.
Peter Salovey & David J.Sluyter (1997), Phát triển trí tuệ và trí tuệ cảm xúc [95] công bố một tài liệu về đóng góp chung của cảm xúc và tính đa cảm (emotion & emotionality) vào nhân cách và đưa ra cấu trúc của trí tuệ cảm xúc bao gồm: (a) Nhận thức và đánh giá chính xác cảm xúc của bản thân, (b) Biểu lộ tình cảm, cảm xúc với những người khác một cách đúng đắn, phù hợp, (c) Nhận biết tốt về cảm xúc của người khác và từ đó có những hành vi phù hợp, (d) Điều chỉnh cảm xúc của bản thân và người khác một cách hiệu có hiệu quả để đạt đến mục đích hành động cụ thể (ví dụ: để cải thiện tâm trạng của chính mình và của người khác) và (e) Sử dụng 16 những cảm xúc của mình để giải quyết vấn đề bằng những hành vi phù hợp hoàn cảnh. Bất kỳ quá trình giao tiếp nào cũng cần phải có sự tương tác giữa chủ thể và đối tượng giao tiếp. Sự tương tác đó không chỉ dừng lại ở trong quá trình trao đổi thông tin mà nó còn là sư trao đổi về mặt tinh thần. Do đó, hiểu được cảm xúc của bản thân và của người khác, cũng như sử dụng nó hợp lý mới đạt được mục đích đề ra [95, tr.
Ông đưa ra nhận định cho rằng những họ chính của cảm xúc là: sợ hãi, giận dữ, buồn rầu, thoả mãn, xấu hổ. Mỗi họ này có một một hạt nhân cảm xúc căn bản làm trung tâm, các cảm xúc có họ hàng với nó thì nằm xung quanh như những làn sóng nối tiếp nhau của vô số những biến đổi. Ở ngoại vi có những tâm trạng (hemeurs) mà xét về mặt kỹ thuật, chúng ít sinh động hơn và kéo dài lâu hơn nhưng cảm xúc đích thực. Sau các tâm trạng đến các tính khí (tempérament), một thiên hướng gây ra một cảm xúc hay một tâm trạng nào đó, khiến người ta trở thành u buồn, nhút nhát hay vui vẻ.
Sau đó là những rối nhiễu tâm lý (troubles) thật sự, như sự trầm cảm lâm sàng hay sự lo hãi mãn tính [13, tr. Schulze Ralf, Roberts D.Richard (EDS) (2005), Trí tuệ cảm xúc [102] đã đề cập đến nghiên cứu của Carroll với việc tổng kết và kết hợp hơn 400 nghiên cứu theo phương pháp phân tích nhân tố truyền thống. Ông đưa ra một mô hình 3 tầng bậc: Tầng bậc đầu tiên bao gồm các năng lực tinh thần chủ yếu; tầng thứ hai bao gồm sự phong phú của miền rộng lớn các năng lực nhận thức; tầng thứ ba gồm các thành tố trí tuệ chung Tầm quan trọng của khái niệm do Carroll đã ảnh hưởng lớn đến sự tác động của giáo dục, chính sách xã hội trong đánh giá, và những vấn đề xã hội [Dẫn theo 102]. Quan điểm này cũng định hướng cho những lý thuyết và những nghiên cứu về sự khác biệt cá nhân trong một số yếu tố dữ liệu, về một lĩnh vực kiến thức hành vi, lĩnh vực 17 này tương đối độc lập với cấu trúc tầng thứ hai.
Ông cũng gợi ý rằng lĩnh vực này đòi hỏi những nghiên cứu cẩn thận và hệ thống hơn là cách thức tiến hành cho đến thời điểm của ông. Ciarrochi Joseph, Forgas P. Bar-On xem xét những đặc điểm nhân cách được cho là quyết định sự thành công trong cuộc sống nằm ngoài trí tuệ nhận thức và xác định được 5 khía cạnh rộng lớn. Ông coi những khía cạnh này như những nhân tố chủ chốt của trí tuệ cảm xúc, được chia thành 15 nhân tố: 1.
Kỹ năng về bản thân: Tự đánh giá bản thân; Sự quả quyết; Tự hiện thực hoá; Tính độc lập. Kỹ năng tương tác với những người khác: Sự thấu cảm; Có trách nhiệm xã hội; Mối quan hệ tương tác với những người khác. Khả năng thích nghi: Giải quyết vấn đề; Kiểm tra thực; Tính linh hoạt. Kiểm soát stress: Chịu được stress; Kiểm soát kích động.
Tâm trạng ổn định: Hạnh phúc; Lạc quan. Bar - On giới thiệu khái niệm EI đã chỉnh sửa và gọi là mô hình trí tuệ cảm xúc - xã hội, bao gồm 10 nhân tố lấy từ cấu trúc 15 nhân tố ban đầu là “Tự đánh giá bản thân; Tự nhận biết cảm xúc bản thân; Sự quả quyết; Sự thấu cảm; Mối quan hệ tương tác với những người khác; Chịu được Stress; Kiểm soát kích động; Kiểm tra thực tế; Tính linh hoạt và Giải quyết vấn đề. Năm nhân tố còn lại của mô hình ban đầu được coi là những nhân tố tạo điều kiện hơn là những nhân tố tạo thành trí tuệ xã hội - cảm xúc gồm: Tự hiện thực hoá, Tính độc lập, Có trách nhiệm xã hội, Hạnh phúc và Lạc quan” [94, tr. Petrides và Furnham đưa ra một cấu trúc EI gồm bốn nhân tố (1) Hạnh phúc, (2) Tự kiểm soát, (3) Tính nhạy cảm, (4) Tự hoà đồng với 15 biểu hiện.
Với góc độ tiếp cận này, EI được đặt trong hệ thống nhân cách và được các tác giả đánh giá là “hợp nhất được các kết quả nghiên cứu lẻ 18 tẻ trước đây vào một khung lý thuyết toàn diện, được đặt tên là “EI đặc điểm” hay còn gọi là “Tự hiệu quả về cảm xúc, trong nỗ lực nhằm nhấn mạnh cách tiếp cận hướng đến đặc điểm nhân cách hơn là các năng lực nhận thức” [Dẫn theo 94, tr. Luận án tiến sĩ Tâm lý học do Nguyễn Thị Dung thực hiện (2008), Trí tuệ cảm xúc của giáo viên chủ nhiệm lớp trường trung học cơ sở và con đường nâng cao trí tuệ này [6] cũng đã phân tích về trí tuệ cảm xúc, cấu trúc trí tuệ cảm xúc của một nhóm khách thể ở một nghề nghiệp cụ thể. Theo đó, trí tuệ cảm xúc gồm: khả năng nhận ra cảm xúc thật sự của bản thân, của người khác; khả năng biết hoà mình vào cảm xúc của những người cùng tham gia với mình trong giáo dục học sinh, không để cảm xúc trở thành tiêu cực; khả năng điều khiển, điều chỉnh cảm xúc theo hướng tích cực. Nhận ra cảm xúc của bản thân và người khác có nghĩa là cá nhân biết mình hay người khác đang có cảm xúc gì; vì sao lại xuất hiện cảm xúc đó và khi bản thân cá nhân đó có cảm xúc như vậy thì sẽ như thế nào? Cần phải làm gì để có thể loại bỏ những cảm xúc mang tính chất tiêu cực [6].
Luận án tiến sĩ Tâm lý học do Dương Thị Hoàng Yến thực hiện (2010), Trí tuệ cảm xúc của giáo viên tiểu học [92] cho rằng trí tuệ cảm xúc bao gồm 4 thành tố: (1) Năng lực nhận thức, đánh giá và biểu hiện cảm xúc: năng lực hiểu được cảm xúc của bản thân; năng lực hiểu và đồng cảm với những khó khăn tâm lý; (2) Năng lực sử dụng cảm xúc để tạo điều kiện thúc đẩy tư duy: năng lực tạo môi trường thuận lợi, năng lực sử dụng các tác động sư phạm một cách nhạy bén, năng lực xem xét sự việc một cách đa chiều, năng lực giải quyết tình huống sư phạm một cách kịp thời, (3) Năng lực sử dụng tri thức về cảm xúc: năng lực sử dụng phương tiện ngôn ngữ, phi ngôn ngữ; (4) Năng lực nhận biết sự chuyển đổi cảm xúc; năng lực sử dụng tri thức để thấu hiểu được cảm xúc phức hợp [92, tr. 19 Julia Wood, Ann Schweitzer (2016), Cuộc gặp gỡ hàng ngày - Giới thiệu về giao tiếp giữa các cá nhân [113] trong nghiên cứu của mình đã dẫn ra tuyên bố của Theodore Kemper khi cho rằng chỉ có bốn cảm xúc được di truyền qua con đường sinh học là: sợ hãi, giận dữ, buồn rầu, thoả mãn. Ông tin rằng cá nhân nào cũng đều trải qua bốn cảm xúc này bởi con người bị chi phối về mặt sinh học để thực hiện điều đó. Đây cũng chính là bốn cảm xúc giữ vai trò nền tảng của trí tuệ cảm xúc của cá nhân [113, tr.
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về cấu trúc và biểu hiện trí tuệ cảm xúc. Mỗi một công trình lại chỉ ra một khía cạnh khác nhau của vấn đề này, nhưng chưa có công trình nào đề cập đến trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Tuy nhiên đây là những cơ sở để chúng tôi xác định cấu trúc cũng như biểu hiện của trí tuệ cảm xúc của điều tra viên. Theo đó, chúng tôi đồng thuận theo mô hình của tác giả Peter Salovey & David J.Sluyter (1997), Trí tuệ cảm xúc trong cuộc sống hàng ngày [95] cho rằng trí tuệ cảm xúc bao gồm: (a) Nhận thức và đánh giá chính xác cảm xúc của bản thân, (b) Biểu lộ tình cảm, cảm xúc với những người khác một cách đúng đắn, phù hợp, (c) Nhận biết tốt về cảm xúc của người khác và từ đó có những hành vi phù hợp, (d) Điều chỉnh cảm xúc của bản thân và người khác một cách hiệu có hiệu quả để đạt đến mục đích hành động cụ thể (ví dụ: để cải thiện tâm trạng của chính mình và của người khác) và (e) Sử dụng những cảm xúc của mình để giải quyết vấn đề bằng những hành vi phù hợp hoàn cảnh [95, tr.