CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Từ trước đến nay, trình độ học vấn được xem như một yếu tố quan trọng tạo nên sự thành công trong công việc và đời sống cá nhân của mỗi người. Các nền giáo dục trên thế giới cũng được thiết kế với mục đích cốt lõi là cung cấp những kiến thức khoa học, tư duy sáng tạo, tư duy phân tích và suy luận cho người học. Và hiểu nhiên những mô hình này đã mang lại kết quả là đào tạo nên những cá nhân có chỉ số thông tin cao. Tuy nhiên, theo các nhà khoa học giáo dục và tâm lý, đây không phải là một kết quả hoàn hảo và đáng mong đợi.
Khải niệm trí tuệ cảm xúc hay còn được gọi là chỉ số cảm xúc đã làm thay đổi quan điểm và niềm tin tác động của chỉ số thông minh trong việc dự đoán thành công của con người. Đã có rất nhiều nghiên cứu được thực hiện và đã chứng minh rằng chỉ số thông minh cảm xúc mới thực sự thể hiện năng lực trong công việc và cuộc sống của mỗi cá nhân. Một nghiên cứu thần kinh học đã đưa ra dẫn chứng rằng cảm xúc là một chất xúc tác quan trọng cho khả năng lập luận và tư duy của não bộ. Quan điểm tại một số nước phương Tây cho rằng giáo dục kiến thức và nghiệp vụ gắn liền với việc nâng cao chỉ số cảm xúc.
Những bài kiểm tra được đưa vào phỏng vấn tuyển dụng nhằm kiểm tra khả năng tư duy cảm xúc chứ không chỉ xem trọng kiến thức nghiệp vụ như trước đến nay. Theo quan điểm này này, đã có nhiều nghiên cứu về những biểu hiện trí tuệ cảm xúc được thực hiện ở nước ta, đặc biệt là biểu hiện về thông minh cảm xúc của sinh viên. Một số công trình nghiên cứu đã cho thấy kết quả rằng mức độ biểu hiện trí tuệ cảm xúc của sinh viên phần lớn chỉ đạt trung bình hoặc dưới trung bình, một số ít đạt ở mức cao hoặc rất cao. Một trong những nguyên nhân của vấn đề này do sinh viên chưa cập nhật những hiểu biết về trí tuệ cảm xúc.
Mặt khác việc nâng cao chỉ số cảm xúc trong quá trình học tập tại trường học của sinh viên chưa thực sự nhận được sự quan tâm trong hệ thống giáo dục hiện nay. Cũng vì thế, việc nghiên cứu mức độ nhận thức về thông minh xúc cảm của sinh viên vừa có mục đích đánh giá hiệu quả đào tạo, vừa giúp sinh viên hiểu rõ thực trạng về thông minh xúc cảm của chính bản thân. Từ đây sinh viên có thể lên kế hoạch học tập, rèn luyện và phát triển khả năng tư duy cảm xúc và vận dụng vào cuộc sống, quá 3 Downloaded by Quang Tr?n (tranquang141994@gmail.com) lOMoARcPSD|11346942 trình học tập và chuẩn bị hành trang nghề nghiệp trong tương lai. Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của chỉ số trí tuệ cảm xúc (EQ) đến kết quả học tập của sinh viên các trường Đại Học tại Thành Phố Hồ Chí Minh".2 Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu những yếu tố về trí tuệ cảm xúc (EQ) có thể tác động và ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên tại các trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu thực hiện các mục tiêu cụ thể như sau: (1) Khảo sát thực trạng mức độ nhận thức của sinh viên các trường Đại Học tại Thành phố Hồ Chí Minh đối với một số vấn đề về trí tuệ cảm xúc (EQ). (2) Xác định các yếu tố ảnh hưởng tới nhận thức về trí tuệ cảm xúc của sinh viên và tác động trực tiếp tới kết quả học tập của sinh viên. (3) Đo lường và điều chỉnh thang đo của các đề tài có liên quan trước đó, phát triển thang đo phù hợp với đối tượng đề tài. (4) Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp giúp sinh viên thay đổi nhận thức về trí tuệ cảm xúc, lên kế hoạch học tập, rèn luyện và phát triển khả năng tư duy cảm xúc và vận dụng vào cuộc sống, quá trình học tập và chuẩn bị hành trang nghề nghiệp trong tương lai.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: thực trạng mức độ nhận thức một số vấn đề về trí tuệ cảm xúc ở các sinh viên theo chương trình đào tạo Đại Học tại Thành Phố Hồ Chí Minh - Khách thể nghiên cứu: Sinh viên năm 1,2,3 và 4 ở các trường Đại Học tại Thành Phố Hồ Chí Minh - Địa bàn nghiên cứu: các trường Đại Học trong địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh 1.4 Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp luận: Vận dụng quan điểm về sự thống nhất giữa lý luận nhận thức và thực tiễn để xây dựng hệ thống cơ sở lý luận về nhận thức và đánh giá nhận thức của sinh viên về trí tuệ cảm xúc.
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp tài liệu, so sánh, khái quát 4 Downloaded by Quang Tr?n (tranquang141994@gmail.com) lOMoARcPSD|11346942 để tổng quan các vấn đề lý luận về trí tuệ cảm xúc. - Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: phương pháp trắc nghiệm, phương pháp quan sát, phương pháp phỏng vấn, phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp thực nghiệm,. nhằm khảo sát thực trạng và thử nghiệm một số biện pháp tác động nhằm nâng cao trí tuệ xúc cảm của sinh viên Đại học Tài chính - Marketing. - Phương pháp thống kê toán học: Dùng các công thức thống kê để xử lý và phân tích các kết quả nghiên cứu và phần mềm SPSS.5 Đóng góp của đề tài nghiên cứu Ứng dụng vào quá trình học tập: EQ có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình học tập, đặc biệt thể hiện ở thái độ học tập.
Nếu thái độ học tập tiêu cực thì không thể hay khó có thể tiến bộ trong học tập. Trẻ em phạm tội, bạo lực, gây hấn, hoặc vướng vào các tệ nạn xã hội một phần do xúc cảm tạo nên, do giáo dục gia đình về xúc cảm chưa tốt hoặc gia đình không hòa thuận dẫn đến trẻ bị sai lệch cảm xúc, không chế ngự được cảm xúc. Các xúc cảm nếu không được giáo dục sớm thì ngày càng khó hình thành. Có thể rèn luyện EQ cho học sinh bằng nhiều cách từ khi còn nhỏ tuổi.
5 Downloaded by Quang Tr?n (tranquang141994@gmail.com) lOMoARcPSD|11346942 CHƯƠNG 2 – TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm trí tuệ Trí tuệ được các nhà khoa học tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau nên cũng có nhiều định nghĩa khác nhau. Trong từ điển Anh - Việt: Trí tuệ - Intellect là khả năng lập luận của trí óc để có được kiến thức, khả năng hiểu biết sâu rộng và khả năng lập luận tốt. (Đối lập với cảm xúc và bản năng) Trong từ điển Tiếng Việt: Trí tuệ là khả năng nhận thức lý tính đạt đến một trình độ nhất định.
Theo từ điển Tâm lý học: Trí tuệ là khả năng hành động thích nghi với biến đổi của hoàn cảnh, thiên về tư duy trừu tượng. (Nguyễn Khắc Viện) Trong tâm lý học, trí tuệ được hiểu theo 3 hướng sau: Trí tuệ là năng lực học tập, năng lực nhận thức của con người (Levitov, Bogoslovski) Trí tuệ là năng lực tư duy trừu tượng, có thể hiểu rằng: một người thông minh tương ứng với khả năng tư duy trừu tượng. Sternberg cho rằng: định tính cơ bản hàng đầu của trí tuệ là năng lực tâm thần ở mức độ cao, chăng hạn suy luận trừu tượng. Rubinstein xem hạt nhân cơ bản của trí tuệ là các thao tác tư duy.
Trí tuệ là năng lực thích ứng của cá nhân. Đây là định nghĩa phổ biến nhất được nhiều nhà tâm lý học tán thành, chẳng hạn: W⁄ Sfern cho rằng trí tuệ là năng lực chung của một cá nhân biết đặt tư duy của mình một cách có ý thức vào những yêu cầu mới. Đây là năng lực thích ứng tinh thần chung đối với nhiệm vụ và điều kiện mới của đời sống: Garner xem trí thông minh như là một năng lực được dùng để giải quyết vấn đề tạo ra các sản phẩm có giá trị cho ngữ cảnh văn hóa cụ thể (Howard Gardner, 1999) D. Wechsler (1958) định nghĩa: trí thông minh như là năng lực tổng thể hoặc năng lực chung của cá nhân để hành động có mục đích, để suy nghĩ hợp lý và để ứng phó có 6 Downloaded by Quang Tr?n (tranquang141994@gmail.com) lOMoARcPSD|11346942 hiệu quả với môi trường của mình.
Piaget đã khẳng định: bất cứ một quá trình nào cũng là sự thích nghi. Bản chất của trí tuệ bộc lộ trong việc cấu tạo những mối quan hệ giữa cá thể với xã hội.Burơlachuc (1978) đã định nghĩa trí tuệ là một cấu trúc động, tương đối độc lập của các thuộc tính nhận thức của nhân cách được hình thành và biểu hiện trong các hoạt động, chịu sự chế ước của các điều kiện văn hóa - lịch sử và có chức năng chủ yếu là đảm bảo cho sự tác động qua lại phù hợp với hiện thực xung quanh, cho sự cải tạo nó có mục đích hiện thực ấy. Sternberg (1948) đã định nghĩa: trí tuệ là sự thích ứng có mục đích với môi trường, có nghĩa quan niệm trí tuệ là kết quả tương tác của con người với môi trường sống đồng thời là tiền đề cho sự tương tác ấy. Ông quan niệm trí tuệ là kết quả tương tác của con người với môi trường sống đồng thời là tiền đề cho sự tương tác ấy.
Theo thời gian, khái niệm về trí tuệ được mở rộng nên các thuật ngữ về trí tuệ cũng được cải tiến và cập nhật. Thời nay, trí tuệ đã được định nghĩa rộng hơn trí thông minh, trí tuệ giờ đây không chỉ bao gồm trí thông minh theo định nghĩa truyền thống, mà còn chứa cả trí sáng tạo (creativity) và trí tuệ xã hội (social intelligence). Năm 1989, Eysenck đã tổng hợp các quan niệm và kết quả nghiên cứu trước đó để đẻ xuất mô hình trí tuệ ba tầng bậc, gồm: - Trí tuệ sinh học (Biological Intelligence): là mặt sinh học của các năng lực trí tuệ, là nguồn gốc chính của những khác biệt về trí tuệ cá nhân. - Trí tuệ tâm trắc (Psychometric Intelligence): là mặt trí tuệ đo được bằng các bài trắc nghiệm tính IQ (Intelligence quotient), CQ (Creative quotient) truyền thống, được xây dựng trong tình huống giả định, có tính hàn lâm.
- Trí tuệ xã hội (Social Intelligence): là mặt trí tuệ tâm trắc thể hiện tư duy trong việc giải quyết nhiệm vụ cuộc sống của cá thể với nhận thức rõ ràng về bản thân, cộng đồng và mối quan hệ giữa cá thể đó với xã hội.