Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ CHỦ VÀ TỰ HỌC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC KINH TẾ VÀ PHÁP LUẬT LỚP 10 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài Vấn đề “tự chủ và tự học” đã được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu của các nhà giáo dục, nhà khoa học nước ngoài. Mỗi tác giả lại nghiên cứu, nhìn nhận về “tự chủ và tự học” ở các góc độ, bình diện khác nhau.
Từ thời cổ đại, nhà triết học Hy Lạp - Socrates trong quan điểm về giáo dục, ông đã nhấn mạnh đến việc cần phải phát huy “khả năng tự suy nghĩ, tự tìm tòi” của đối phương trong quá trình tranh luận để tìm ra chân lý. Nhà giáo dục nổi tiếng người Cộng hòa Séc - J.Cômenxki (1592-1670), trong các công trình nghiên cứu của mình, ông cũng đã nêu ra nhiều nguyên tắc dạy học có ý nghĩa quan trọng góp phần đổi mới nền giáo dục trên thế giới. Trong đó, ông đã đề cập đến vai trò của người thầy cần làm thế nào để dạy ít mà HS vẫn có thể hiểu và phát huy được vai trò “tự chủ và tự học” của bản thân. Ông viết: “Thầy dạy ít hơn, nhưng HS học được nhiều hơn… để trong trường học không có tiếng kêu la, không có cảm giác sợ và sự lao động bỏ ra một cách vô ích mà chỉ có niềm vui và sự hi vọng đầy thành tích…” [11, tr.] Đến những năm 70 của thế kỉ XVII, các nhà giáo dục Liên Xô như J.
Kharlamop đều cho rằng: “Tự học giữ vai trò to lớn trong việc nâng cao tính tích cực hoạt động trí tuệ của HS” [29, tr. Điều này cho thấy, các nhà giáo dục đều chú trọng đến vai trò tự học của HS trong dạy học. Bởi theo các nhà giáo dục, tự học sẽ giúp cho người học phát huy được sự tích cực, chủ động trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Đây là điều cần thiết trong giáo dục.
Người dạy cần phải khơi ngợi được ở HS điều này bằng các phương pháp giáo dục để phát huy được khả năng tự học của các em. Rubakin trong tác phẩm “Tự học như thế nào” xuất bản năm 1973, Nxb Thanh niên, Hà Nội, cũng khẳng định tầm quan trọng của việc tự học. Ở tác phẩm này, tác giả đã đưa ra quan niệm về tự học và các cách thức để tự học sao cho hiệu quả.Benson (2009) với bài viết “Making sense of autonomy in language learning - Tạo ý nghĩa tự chủ trong việc học ngôn ngữ” in trong cuốn “Quyền tự chủ và học ngôn ngữ”, Nxb Hồng Kông [7, tr. Ở nội dung này, tác giả khẳng định vai trò tự chủ trong nghiên cứu, học tập để chiếm lĩnh được kiến thức, đặc biệt trong học ngôn ngữ.
Vai trò “tự chủ” của người học là rất quan trọng. Theo tác giả, cần khuyến khích để phát triển “năng lực tự chủ” cho người học, để giúp họ đạt được thành tích cao nhất khi học tập hay nghiên cứu. Nhà khoa học Alicia R. Crowe (2010) với bài viết “Nâng cao trình độ học xã hội thông qua tự học, phương pháp luận - Advancing social studies ducation through self-study methodology, Kent State University, USA” đã coi “tự học” như một phương pháp để giúp người học có kết quả nghiên cứu và học tập tốt hơn.
Trong bài viết này, tác giả đã nêu ra quan niệm về tự học và các lý do để phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên tại trường Đại học bang Kent của Hoa Kì. Các công trình nghiên cứu trên đây cho thấy, vấn đề “tự chủ và tự học” có vai trò quan trọng trong giáo dục. Những nội dung nghiên cứu của các tác giả nước ngoài sẽ là cơ sở lý luận cần thiết để luận văn kế thừa khi thực hiện các nhiệm vụ của đề tài về “phát triển năng lực tự chủ và tự học cho học sinh trong dạy học môn Giáo dục kinh tế và pháp luật lớp 10”. Các công trình nghiên cứu trong nước Nghiên cứu về “tự chủ và tự học”, “phát triển năng lực tự chủ và tự học” cho HS cũng được các tác giả trong nước đề cập ở nhiều công trình dưới dạng sách, bài báo, đề tài, báo cáo, sáng kiến kinh nghiệm, luận văn, luận án, khóa luận tốt nghiệp của sinh viên.
Cụ thể: * Những công trình liên quan đến vấn đề “tự chủ và tự học” Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc “tự học”, Người khẳng định: “Học tập ở trường của Đoàn thể không phải như học ở trường lối cũ, không phải có thầy thì học, thầy không đến thì đùa. Phải biết tự động học tập. Học ở đâu? Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân” [26; tr. Theo Người, cần phải: “Lấy tự học là cốt” [25, tr.
Bởi “muốn học tập suốt đời”, bản thân mỗi người phải luôn tự mình cố gắng để trau dồi kiến thức cho bản thân, không nỗ lực tự học để 7 tự hoàn thiện bản thân. Trong các bài viết của mình, Người cũng đã chỉ ra “cách thức tự học” như: phải “sắp xếp thời gian học tập hợp lí” hay “phải kiên trì, bền bỉ để đạt được kế hoạch đặt ra”… [30; tr. Một trong những người có nhiều nghiên cứu ở Việt Nam về vấn đề “tự chủ và tự học” đó là tác giả Nguyễn Cảnh Toàn với các công trình như: “Luận bàn và kinh nghiệm về tự học” (1999); “Học và dạy tự học” (2004) đều của Nxb Giáo dục; “Tự học thế nào cho tốt” (2009), Nxb Tổng hợp… Trong đó, tác giả đã luận bàn về tự học như thế nào? Tại sao phải tự học. Sự cần thiết phải phát triển cho HS năng lực tự học, tự nghiên cứu để tự mình vươn lên chiếm lĩnh tri thức.
Theo tác giả: “Tự học là mình tự động não, suy nghĩ, sử dụng năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp, các phẩm chất khác của người học” [21; tr. Tác giả Trần Anh Tuấn (1996), trong bài viết “Vấn đề tự học của học sinh từ góc độ đánh giá chất lượng, kĩ năng nghề nghiệp, Tạp chí nghiên cứu Giáo dục”, đã đưa ra những yêu cầu đối với việc tự học của HS trong quá trình dạy và học. Tác giả đã đánh giá vai trò tự học của HS từ góc độ đánh giá chất lượng và kĩ năng nghề nghiệp của HS. Đây cũng là một cách tiếp cận mới về “tự học” đối với HS mà người dạy cần quan tâm để có những PPDH và giáo dục cho phù hợp.
Tác giả Đinh Thị Hồng Thu (2017) trong bài viết “Tổng quan nghiên cứu tính tự chủ trong học ngoại ngữ ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu nước ngoài, số 5/2017”, đã luận bàn về cách tiếp cận quan niệm “tự chủ” trong học tập của các nhà nghiên cứu. Mặc dù đưa ra nhiều góc độ phân tích khác nhau về tính tự chủ của người, song bài viết cũng mới chỉ tập trung nhấn mạnh vào góc độ nghiên cứu về tính tự chủ trong học ngoại ngữ của HS. Luận bàn về tính tự chủ trong học tập của HS, tác giả Nguyễn Văn Lợi (2014) với bài viết “Nâng cao khả năng tự chủ trong học tập cho sinh viên tiếng Anh - nhận thức của giảng viên tiếng Anh tại một số trường đại học, Tạp chí Khoa học Cần Thơ, số 33”, đã có cái nhìn đa chiều hơn về ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề tự chủ đối với người học. Từ góc độ bài viết cho thấy: Nếu người học có thể tự chủ động trong học tập, biết tự lên kế hoạch, sắp xếp thời gian hợp lý giữa việc học và các công việc khác của bản thân, thì hiệu quả đạt được sẽ cao hơn rất nhiều nhất là trong học ngoại ngữ.
8 * Những công trình liên quan đến vấn đề “phát triển năng lực tự chủ và tự học cho HS” trong dạy học Tác giả Trịnh Quốc Lập (2008), “Phát triển năng lực tự học trong hoàn cảnh Việt Nam, Tạp chí khoa học Đại học Cần Thơ, số tháng 10/2008”. Ở bài viết này, tác giả đã khái quát về “Tự học”, “Tại sao phải tự học”, “Làm thế nào để phát triển khả năng tự học” và chỉ ra “Tính khả thi của việc phát triển năng lực tự học ở các nước Châu Á” [46, tr. Qua đó, cho thấy sự cần thiết phải phát triển NLTH cho HS ngay khi ngồi trên ghế nhà trường. Tác giả Lê Văn Lực (2018) trong bài viết “Phát triển năng lực tự học cho HS - Giải pháp quan trọng nâng cao chất lượng giáo dục” đã khẳng định: “Mỗi nhà giáo cần nghiên cứu, khảo nghiệm, xây dựng, từng bước hoàn thiện các mô hình dạy học và giải pháp nhằm nâng cao năng lực tự học cho học sinh.
Tùy theo đặc thù môn học, có nhiều mô hình dạy học giúp nâng cao năng lực tự học cho học sinh” [24; tr. Đồng thời, tác giả còn đưa ra mô hình dạy học để có thể nâng cao NLTH cho HS. Nhóm tác giả Hồ Thị Loan, Nguyễn Thị Hồng Phượng (2019), “Một số biện pháp phát triển năng lực tự học cho HS ở trường phổ thông, Tạp chí Giáo dục, số 463, kì 1/10/2019” đã khái quát lý luận chung về tự học, năng lực tự học và đề xuất các biện pháp phát triển NLTH cho HS. Tuy nhiên, bài viết chưa đưa ra được khái niệm phát triển NLTH cho HS, các yêu cầu để phát triển các năng lực này.
Tác giả Nguyễn Gia Cầu (2022), “Việc bồi dưỡng năng lực tự học cho HS, Tạp chí Giáo chức Việt Nam, số tháng 10/2022”. Trong bài viết này, tác giả đã nêu ra bốn biện pháp để bồi dưỡng NLTH cho HS bao gồm: “1. Bồi dưỡng cho HS có hứng thú và động cơ tự học, tự bồi dưỡng; 2. Giúp HS nắm vững nội dung cơ bản của bài học, môn học; 3.
Hình thành cho HS một số kĩ năng tự học quan trọng; 4. GV phải thực hiện đổi mới PPDH theo hướng dạy học phát huy tính tích cực nhận thức, sự chủ động, sáng tạo của HS trong quá trình học tập” [8, tr. Nhìn chung, các biện pháp đưa ra GV đều có thể áp dụng trong dạy học ở trường phổ thông để có thể phát triển được NLTH cho HS.