Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Ngay từ thời cổ đại cho đến đầu thế kỷ 19, các nhà giáo dục lỗi lạc đã khẳng định bản chất của giáo dục là hình thành ở HS NL tư duy, khả năng suy nghĩ, phản biện để giải quyết các vấn đề chứ không phải ép buộc HS học thuộc những kiến thức có sẵn. Một số nhà giáo dục lỗi lạc như J.
Dewey (1859-1952), … đã hướng việc phát huy yếu tố tiềm ẩn trong cá nhân con người, nhấn mạnh phương thức học tập bằng con đường tích cực tìm tòi, khám phá, nỗ lực của bản thân để giành lấy tri thức. Trong hầu hết các nghiên cứu thì chủ yếu tập trung vào nghiên cứu về NL, các loại NL. Một số công trình đã tập trung nghiên cứu việc rèn luyện một số NL chung như NL tự học, NL GQVĐ, NL tư duy logic, NL hợp tác,… cho HS. Nghiên cứu về NL GQVĐ, nhiều tác giả cho rằng NL này được hình thành thông qua quá trình GQVĐ và khi có NL GQVĐ thì sẽ tăng hiệu quả GQVĐ, giúp quá trình GQVĐ đạt hiệu quả tối ưu.
NLGQVĐ của HS trong dạy học được thể hiện qua các hoạt động của quá trình GQVĐ. Có rất nhiều lí thuyết và khung nghiên cứu về cách thức GQVĐ, trong đó có 5 lí thuyết được nhiều nhà khoa học chú ý là Polya, PISA, O’Neil, ACARA, ATC21S (2013). Mặc dù có nhiều khung lí thuyết nghiên cứu về NL GQVĐ nhưng khung lí thuyết của Polya về GQVĐ thường xuyên được sử dụng như nền tảng cho những nghiên cứu về GQVĐ. Theo quan điểm của Polya, một người GQVĐ cần tự làm quen hoàn toàn với VĐ trước khi đưa ra một kế hoạch hay một chiến lược để tiến tới xử lí được VĐ đó.
Người GQVĐ cũng cần phải thực hiện các bước hành động, thực hiện một cách chính xác kế hoạch hành động, cuối cùng họ cũng phải xem 7 xét lại toàn bộ quá trình, nếu có thể đưa ra các PP thay thế, để hiểu rõ hơn được VĐ sau khi đã xử lí. Có nhiều con đường, nhiều phương pháp, nhiều kỹ thuật áp dụng trong dạy học để phát triển năng lực GQVĐ cho người học đặc biệt là sử dụng kỹ thuật tình huống trong dạy học trong đó có tình huống có vấn đề. Trên thế giới việc thiết kế và sử dụng các tình huống trong dạy học được phổ biến rộng rãi. Có nhiều tác giả đã nghiên cứu và sử dụng tình huống trong dạy học và đã khẳng định tính hiệu quả của kỹ thuật này trong giáo dục.
Các tác giả Grahame Feletti (1977), Dolmans (1994), Woods (1994) [26], [27]… đã khẳng định hiệu quả của việc sử dụng tình huống trong đào tạo phi công, bằng cách này đã rút ngắn được thời gian đào tạo, hiệu quả của đào tạo cao hơn đào tạo truyền thống. (2006), bản chất của tình huống có vấn đề là những lúng túng về lý thuyết và thực hành để giải quyết vấn đề, nó xuất hiện nhờ tính tích cực nghiên cứu của người học. Theo ông, nghệ thuật của GV được biểu hiện ở việc tổ chức tình huống có vấn đề. Tương đương với giảng dạy nêu vấn đề của GV là học tập giải quyết vấn đề của HS… Như vậy, tình huống đã được nghiên cứu và sử dụng rộng rãi trong giáo dục ở nhiều nước trên thế giới với vai trò như một PPDH tích cực.
Trong đó các dạng DH sử dụng tình huống được nhắc đến là dạy học nêu vấn đề, DH giải quyết vấn đề. Tình hình nghiên cứu trong nước Trong những năm gần đây, ở Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về NL và NL GQVĐ của người học. Năm 2003, Phạm Thị Ngọc Thắng trong đề tài luận án tiến sĩ đã tiến hành nghiên cứu các PP nâng cao hiệu quả học tập thông qua việc bồi dưỡng NL GQVĐ cho HS. Năm 2007, Trần Văn Kiên nghiên cứu DH tiếp cận GQVĐ trong DH Di truyền học [14], Tác giả Nguyễn Phúc Chỉnh nghiên cứu việc áp dụng Dạy học theo vấn đề trong dạy học Sinh học ở trường phổ thông [5].
Năm 2010, các tác giả Nguyễn Thị Hoàng Hà; Nguyễn Thị Thế Bình; Nguyễn Minh Tâm… đã có các nghiên cứu về rèn 8 luyện KN, NL và xây dựng tiêu chí ĐG NL giải quyết vấn đề. Tác giả Cao Thị Thặng - Nguyễn Cương - Trần Thị Thu Huệ (2012) đã tiến hành nghiên cứu sự phát triển NL phát hiện và GQVĐ thông qua DH môn Hoá cho HS THPT [20]. Các tác giả đã khẳng định, để phát triển NL GQVĐ cho HS THPT cần xác định những biểu hiện của NL này và đề xuất quy trình rèn luyện NL. Những năm gần dây, có nhiều tác giả nghiên cứu về dạy học theo định hướng phát triển năng lực trong dạy học môn Sinh học, trong đó phải kể đến tác tác giả Đinh Quang Báo (2015) và nhóm chuyên gia nghiên cứu về đổi mới chương trình và SGK của Bộ GD&ĐT đã đưa ra các nghiên cứu về NL và phân chia NL thành 2 nhóm là NL chung và NL chuyên biệt [3].
Tác giả Lê Đình Trung, Phan Thị Thanh Hội và nhóm tác giả (2016) đã nghiên cứu về “Dạy học theo định hướng hình thành và phát triển NL người học trong dạy học SH ở nhà trường phổ thông”. Các tác giả đã hệ thống cơ sở lí luận về NL, các loại NL chung và NL đặc thù môn học, đã xây dựng quy trình hình thành và phát triển NL cũng như quy trình ĐG các NL trong DH ở trường phổ thông [21]. Có nhiều công cụ được sử dụng để phát triển năng lực GQVĐ cho người học trong DH nói chung và DH Sinh học nói riêng trong đó bài tập tình huống được sử dụng hiệu quả. Có nhiều tác giả nghiên cứu về sử dụng tình huống có vấn đề trong dạy học.
Tác giả Lê Đình Trung (1994) [22] trong luận án tiến sĩ “Xây dựng và sử dụng bài toán nhận thức để nâng cao chất lượng DH phần cơ sở vật chất và cơ chế di truyền trong chương trình Sinh học ở bậc THPT” đã đề xuất việc thực hiện ở khâu nghiên cứu tài liệu mới khi dạy phần cơ sở vật chất và cơ chế di truyền bằng bài toán nhận thức kết hợp các bài tập tự lực SGK. Những bài toán nhận thức mà tác giả đề xuất dưới dạng các BTTH. Theo các tác giả Nguyễn văn Duệ, Trần Văn Kiên, Dương Tiến Sỹ (2000) [7] trong cuốn “Dạy học GQVĐ trong bộ môn Sinh học” đã xác định được nhiều tình huống DH điển hình trong các phân môn: Sinh học 10, Di truyền học 11, Sinh thái học 11. 9 Như vậy, có thể thấy ở trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đã và đang có nhiều công trình nghiên cứu về NL và DH theo hướng hình thành và phát triển NL cho người học.
Trong hầu hết các nghiên cứu thì chủ yếu tập trung vào nghiên cứu lí luận chung về NL, các loại NL. Một số công trình đã tập trung nghiên cứu việc rèn luyện một số NL chung như NL tự học, NL GQVĐ, NL tư duy logic, NL hợp tác,… cho HS, chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể về thiết kế BTTT để phát triển NL GQVĐ cho HS trường THCS trong DH Sinh học cơ thể người và vệ sinh - SH8. Do vậy để góp phần phát triển NL cho HS ở trường THCS thuộc tỉnh Bắc Ninh, tác giả tập trung nghiên cứu việc sử dụng BTTT nhằm phát triển NL GQVĐ cho HS trong DH phần Sinh học cơ thể người và vệ sinh - SH8. Năng lực và năng lực GQVĐ 1.
Năng lực (i) Khái niệm Có rất nhiều những quan điểm, khái niệm, định nghĩa khác nhau về NL: Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên [18] thì NL được hiểu là “Khả năng điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó hoặc là “Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao”. Theo tác giả Lê Đình Trung, Phan Thị Thanh Hội đã nghiên cứu, “NL là những khả năng, kĩ xảo học được hay sẵn có của cá nhân nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội… và khả năng vận dụng các cách GQVĐ một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt bằng những phương tiện, biện pháp, cách thức phù hợp” [21, tr. Theo dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (2015) của Bộ GD&ĐT thì: “NL là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, KN và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm 10 tin, ý chí,. NL của cá nhân được ĐG qua phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các VĐ của cuộc sống” [3].
“Năng lực GQVĐ là khả năng của một cá nhân hiểu và giải quyết tình huống vấn đề khi mà giải pháp giải quyết chưa rõ ràng. Nó bao gồm sự sẵn sàng tham gia vào giải quyết tình huống vấn đề đó - thể hiện tiềm năng là công dân tích cực và xây dựng” (Định nghĩa trong đánh giá PISA, 2012). Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, “Giải quyết vấn đề là hoạt động trí tuệ được coi là trình độ phức tạp và cao nhất về nhận thức, vì cần huy động tất cả các năng lực trí tuệ của cá nhân. Để GQVĐ, chủ thể phải huy động trí nhớ, tri giác, lý luận, khái niệm hóa, ngôn ngữ, đồng thời sử dụng cả cảm xúc, động cơ, niềm tin ở năng lực bản thân và khả năng kiểm soát được tình thế”.
Dựa vào các cách định nghĩa nói trên thì bản chất của NL là khả năng của chủ thể kết hợp một cách linh hoạt, có tổ chức hợp lí các kiến thức, KN với thái độ, giá trị, động cơ, nhằm đáp ứng những yêu cầu phức hợp của một hoạt động, bảo đảm cho hoạt động đó đạt kết quả tốt đẹp trong một bối cảnh (tình huống) nhất định. Biểu hiện của NL là biết sử dụng các kiến thức và các KN vào giải quyết các tình huống có ý nghĩa, chứ không phải chỉ ở việc tiếp thu, ghi nhớ một lượng tri thức rời rạc. Năng lực của học sinh là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ,. phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống.