Phần mở đầu bài nói. + Cần phải có lời chào hỏi trƣớc khi nói: Chào cô giáo, chào các bạn, giới thiệu về bản thân. Ví dụ: Em xin kính chào cô giáo, xin chào tất cả các bạn. Em xin tự giới thiệu, em tên là … học sinh lớp… + Giới thiệu về nội dung nói và nghe mình định trình bày.
Phần nội dung chính của bài nói: Trình bày và sắp xếp các ý theo một trình tự nhất định. Phần kết thúc bài nói. + Ngƣời nói cần phát biểu cảm xúc, suy nghĩ của mình trƣớc nội dung đề cập tới trong bài nói. + Thể hiện mong muốn đƣợc chia sẻ, tham gia đóng góp ý kiến của ngƣời nghe Ví dụ: Xin cảm ơn thầy cô và các bạn đã lắng nghe những chia sẻ của em.
Rất mong nhận được nhiều ý kiến góp ý của thầy cô và các bạn về bài nói của em, để lần sau em sẽ trình bày bài nói tốt hơn! 3. Giải pháp 3: Tổ chức đa dạng các hình thức nói cho học sinh Bƣớc 1: Nói trong nhóm. Bƣớc 2: Nói trƣớc tập thể. Học sinh dựa trên dàn ý đã xây dựng, Học sinh luyện nói với nhau trong 13 nhóm.
Các bạn trong nhóm sẽ nhận xét, góp ý về nội dung bài nói. Giáo viên gọi một số học sinh lên trình bày bài nói của mình trƣớc lớp. Học sinh trong lớp theo dõi và nhận xét. Giáo viên theo dõi, nhận xét cụ thể, nêu hƣớng khắc phục và cho điểm đối với những học sinh có bài nói tốt.
Để cho bài nói của học sinh thêm phần sinh động, hấp đẫn ta có thể lựa chọn thêm nhiều hình thức khác để huy động đƣợc nhiều đối tƣợng học sinh nói đạt hiệu quả. Tùy theo mỗi đề bài mà ta áp dụng hình thức trình bày bài nói phù hợp. Thi nói tiếp sức đồng đội Có thể dùng hình thức này đối với lớp dạy có nhiều học sinh trung bình, chƣa quen nói trƣớc tập thể, lại ít có nhân tố tích cực (HS khá giỏi, lanh lợi, hoạt bát) làm nòng cốt. Cách nói này yêu cầu nói trong phạm vi thời gian nhất định, tạo không khí sôi nổi, kích thích sự mạnh dạn, tự tin.
Bước 1: Nói trong nhóm Giáo viên phân loại học sinh (giỏi, khá, trung bình,.) trong mỗi nhóm. Ở các nhóm đều thống nhất phần nói: - Phần mở bài: học sinh trung bình, yếu. - Một phần của thân bài: học sinh khá, giỏi. - Phần kết bài: học sinh trung bình, yếu.
HS dựa trên dàn ý đã xây dựng, luyện nói với nhau trong nhóm. Các bạn trong nhóm nhận xét, góp ý về nội dung bài nói và cách thức nói (Bài nói đã đủ ý chƣa? Bài nói có mạch lạc không? Ngôn ngữ diễn dạt nhƣ thế nào? Phong cách nói ra sao? Giọng nói có rõ ràng, tự nhiên không?.) Bước 2: Nói trước tập thể lớp - Mỗi nhóm lần lƣợt lên nói theo hình thức tiếp sức. Cụ thể nhóm 1: Hs trung bình, yếu nói phần mở bài; học sinh khá giỏi nói một phần của thân bài; học sinh trung bình, yếu nói phần kết bài. Tiếp theo nhóm 2 tƣơng tự nhƣ vậy.
- Học sinh trong lớp theo dõi, nhận xét. - Gv nhận xét chung về nội dung nói và cách nói đổi với các nhóm và cho điểm. GV lƣu ý nhấn mạnh phần cho điểm đối với nhóm có học sinh trung bình, yếu nói khá tốt, mạnh dạn, tự tin; học sinh khá giỏi nói tốt kèm giọng điệu, thái độ, cử chỉ. Thi nói có hình ảnh minh họa.
Cách nói này dành cho nhiều đối tƣợng học sinh, có những học sinh trung bình, yếu; những học sinh tuy có khả năng viết bài nhƣng chƣa mạnh dạn tự tin nói trƣớc tập thể. Cách này tƣơng tự nhƣ cách thi nói tiếp sức nhƣng có vật dụng trực 14 quan, hình ảnh minh họa phần nào giúp các em tự tin nói hơn. Hình ảnh học sinh kể về trải nghiệm một chuyến đi (HA1) 3. Thi nói khi học sinh đƣợc vào vai Cách nói này nhằm khơi nguồn sáng tạo, tạo hứng thú cho học sinh.
Giaos viên định hƣớng cho sinh khâu dựng “kịch bản”, “diễn xuất”, để các em thực hiện bài nói tốt hơn. Áp dụng hình thức này cho những học sinh khá, giỏi làm “đầu tàu”, sau đó là học sinh trung bình. Ví dụ: HS vào vai phóng viên để nói về chủ đề: ô nhiễm môi trƣờng; vào vai hƣớng dẫn viên du lịch để thuyết minh về một danh lam thắng cảnh; vào vai nhà văn để giới thiệu về một cuốn sách mới ra… Khi HS đƣợc vào vai các em sẽ không những rèn luyện năng lực giao tiếp mà còn khiến hs thấy mình chững chạc, lớn khôn, có hiểu biết… Việc linh hoạt sử dụng một số hình thức luyện nói khác nhau nhằm thay đổi không khí giờ luyện nói cũng nhƣ tạo điều kiện cho học sinh đƣợc thể hiện khả năng của mình tùy vào năng lực mỗi em. Điều đạt đến cuối cùng là dù ít hay nhiều mỗi học sinh đều đƣợc trƣởng thành về khả năng giao tiếp lựa chọn từ ngữ để phục vụ cho hiệu quả giao tiếp tốt hơn trong cuộc sống sau này.
Giải pháp 4: Ứng dụng công nghệ thông tin và các phƣơng tiện trực quan trong bài nói để thu hút ngƣời nghe. Để bài nói của mình trở nên hấp dẫn hơn, tôi đã hƣớng dẫn các em có thể ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình thực hiện bài nói để thu hút ngƣời nghe hơn. Vậy, ứng dụng công nghệ thông tin bằng cách nào? 15 - Hƣớng dẫn học sinh sử dụng trang Google hoặc Youtobe để tải và nghe các bài nói mới. Từ đó học sinh có thể học cách thức điều chỉnh giọng nói, tác phong, nét mặt, cử chỉ của bản thân khi tham gia nói.
- Hƣớng dẫn học sinh cách sử dụng âm nhạc phù hợp với bài nói mà mình lựa chọn để tăng thêm tính hấp dẫn cho bài nói (nên lựa chọn âm thanh ở mức vừa phải, nhạc điệu lựa chọn cần phù hợp với chủ đề trong bài nói). + Có thể hƣớng dẫn học sinh sử dụng phần mềm cắt và ghép nhạc trực tuyến để có những đoạn nhạc phù hợp. + Sử dụng các phần mềm Catcut hoặc ticktok trên điện thoại để có đƣợc những đoạn nhạc phù hợp. (cách sử dụng nhạc này, học sinh lớp 6 khá thành thạo) - Sử dụng phƣơng tiện trực quan nhƣ hình ảnh, đồ dùng để thu hút ngƣời nghe.
Giải pháp 5: Hƣớng dẫn học sinh cách tập luyện trƣớc khi trình bày trƣớc lớp. Việc hƣớng dẫn học sinh cách tập luyện trƣớc khi trình bày trƣớc lớp rất quan trọng. Bởi khi các em đƣợc tập luyện, các em sẽ tự tin hơn, mạnh dạn hơn và hiệu quả phần nói sẽ tốt hơn. - Tập luyện cách điều chỉnh giọng nói và tốc độ nói.
+ Âm lƣợng giọng nói: thay đổi phù hợp lúc to, lúc nhỏ. + Tốc độ nói: Có thể nhanh hay chậm phù hợp với từng chi tiết, sự việc trong bài. + Cách thể hiện: Giọng nói cần thay đổi phù hợp với giọng kể, giọng nhân vật, giọng vui hay buồn, sôi nổi hay suy tƣ. + Cao độ: Cách lên xuống giọng.
- Sử dụng ngôn ngữ cơ thể hiệu quả. + Sử dụng cử chỉ tay trong khi nói: Việc kết hợp nhiều cử chỉ tay phù hợp sẽ tạo cho ngƣời giáo viên một dáng vẻ thân thiện và thu hút học sinh tập trung hơn vào hệ thống tri thức mà các em đang chinh phục. Tuy nhiên cần phải tránh những cử chỉ tay tiêu cực nhƣ: bối rối, khua chân múa tay liên tục, khoanh tay, cho tay vào túi quần… Các cử chỉ tay cần phù hợp với nội dung của câu chuyện. + Tƣ thế của ngƣời nói: Tự tin đứng thẳng, có thể di chuyển đi lại, đi lên, xuống.
+ Thể hiện trên gƣơng mặt: Vui, buồn, tƣơi cƣời, ngạc nhiên cần phù hợp với nội dung nói. + Giao tiếp bằng mắt: Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn. Giao tiếp bằng mắt đúng cách sẽ giúp cho bài nói hấp dẫn hơn. Có thể là dùng ánh mắt vui, hạnh phúc, 16 thích thú trƣớc những chi tiết, sự việc vui.
Thậm chí là ánh mắt sợ hãi, buồn khổ trƣớc những sự kiện buồn. Đôi mắt sẽ có giá trị thay cho những lời nói. - Luyện nói trƣớc gƣơng hoặc trƣớc ngƣời thân. + Trƣớc khi luyện nói cần ghi nhớ những nội dung cơ bản.
+ Nhìn vào gƣơng để tự điều chỉnh cử chỉ, điệu bộ, phong thái của bản thân. + Nhờ ngƣời thân lắng nghe và nhận xét cho mình. - Luyên nói bằng cách quay lại video. + Việc quay lại Video giúp chúng ta có thể xem lại Video để tự điều chỉnh cả về tốc độ, giọng điệu hay cử chỉ.
+ Gửi Video cho bạn bè nhờ bạn bè nhận xét giúp mình. Giải pháp 6: Hƣớng dẫn học sinh xác định nhiệm vụ của ngƣời nói và ngƣời nghe. Trong tiết nói và nghe, cả ngƣời nói và ngƣời nghe đều phải xác định rõ nhiệm vụ của mình. Trƣớc phần nói và nghe của học sinh, tôi đã tổ chức cho học sinh cùng thảo luận, thống nhất đƣa ra ý kiến về nhiệm vụ của ngƣời nói và ngƣời nghe trong các tiết Nói và nghe.
Khi xác lập rõ ràng nhiệm vụ thì cả ngƣời nói và ngƣời nghe đều đặt ra mục tiêu, định hƣớng và nỗ lực để thay đổi theo nhiệm vụ ấy. Nhiệm vụ của người nói (HA2) 17 Nhiệm vụ của người nghe (HA3) 3. Giải pháp 7: Kiểm tra, đánh giá, chỉnh sửa. - Học sinh tự kiểm tra và chỉnh sửa bản thân nhƣ: Người nói kiểm tra: So với yêu cầu của người nói, em đã đạt được những điều gì? Em cần thay đổi điều gì trong bài nói đó? + Ngƣời nghe: So với yêu cầu của người nghe, em đã đạt được những gì? Em thấy bài kể của bạn có thuyết phục không? Vì sao? - Giáo viên kiểm tra, đánh giá, chỉnh sửa cho cả ngƣời nói và ngƣời nghe.
- Khung tự đánh giá của ngƣời nói và ngƣời nghe trong mỗi tiết nói và nghe (ở khung mẫu này, giáo viên có thể chỉnh sửa các tiêu chí dựa trên yêu cầu của tiết học, bài học đó). 18 Hình ảnh HS tự kiểm tra và chỉnh sửa bản thân nói và nghe trước tập thể lớp (HA4) BẢNG TỰ KIỂM TRA KỸ NĂNG NÓI Tốt Khá TB Còn yếu Nội dung kiểm tra SL Tỷ lệ SL Tỷ lệ SL Tỷ lệ SL Tỷ lệ 1. Bài nói có đủ các phần mở đầu, nội 7 17,9% 11 28,2% 13 33,3% 8 20,5% dung, kết thúc. Ngƣời nói trình bày chi tiết nội 6 15,4% 13 33,3% 10 25,6% 10 25,6% dung bài nói.
Nội dung bài nói đƣợc sắp xếp theo 5 12,8% 10 25,6% 14 35,9% 10 25,6% trình tự logic 4.