Chương 1: Cơ sở lý luận về xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực khám phá trong dạy học lịch sử và địa lí lớp 4. Chương 2: Xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực khám phá trong dạy học lịch sử và địa lí lớp 4. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. 6 NỘI DUNG Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC KHÁM PHÁ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÍ LỚP 4 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề Lịch sử là một môn học nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về một số sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu theo dòng thời gian của lịch sử Việt Nam từ buổi đầu dựng nước cho tới ngày nay. Việc dạy môn lịch sử lớp 4 là bước đầu hình thành cho học sinh các kĩ năng quan sát sự vật, hiện tượng, thu thập, tìm kiếm tư liệu lịch sử từ các nguồn thông tin khác nhau, biết đặt câu hỏi trong quá trình học tập, trình bày kết quả bằng lời nói, hình vẽ, sơ đồ, vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn đời sống. Góp phần bồi dưỡng ở học sinh những thái độ và thói quan ham học hỏi, tìm hiểu để biết các kiến thức về lịch sử dân tộc Việt Nam, tôn trọng các di tích văn hóa và tìm hiểu thêm về lịch sử thế giới. Bên cạnh việc giảng dạy Lịch sử, Địa lí cũng là một môn học giúp góp phần phát triển ở học sinh thói quen ham hiểu biết, yêu thiên nhiên đất nước con người, có ý thức hành động bảo vệ thiên nhiên.
Chính vì vậy, việc dạy học Địa lí không chỉ cung cấp cho học sinh những kiến thức địa lí thuần túy mà còn phải hình thành, phát triển cho các em các kĩ năng và năng lực tự học. Đây đều là những nhiệm vụ song song và có tầm quan trọng như nhau. Chủ trương của Đảng và Nhà nước đặt ra cho ngành giáo dục là phải đổi mới, nâng cao chất lượng dạy và học để làm sao phát triển tối đa các năng lực của học sinh, đặc biệt là học sinh tiểu học, bởi đây là một bước đệm quan trọng trong cả quá trình học tập của các em sau này. Trên thế giới Năng lực khám phá là một trong những năng lực cần thiết cho mỗi con người trong học tập cũng như trong cuộc sống.
Tuy nhiên, những thuật ngữ như tự phát hiện, khám phá, phát hiện,. lại chỉ mới được sử dụng phổ biến trong công trình nghiên cứu về đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp dạy học khám phá: Theo Geoffrey Petty Dạy học khám phá chỉ có thể được sử dụng nếu người học có khả năng rút ra được bài học mới từ kiến thức và kinh nghiệm sẵn có của mình.Tác giả lưu ý rằng, tìm thông tin trong sách không phải là cách học khám phá. Các hoạt động khám phá thường được tiến hành theo nhóm. Chúng đòi hỏi phải có kỹ năng tư duy cao để tìm ra cái mới, và vì người học tự tìm tòi vấn đề cho nên việc học có chất lượng cao.Richard Suchman, một trong những người nghiên cứu chương trình dạy học khám phá được sử dụng rộng rãi khắp nước Mỹ, khám phá là việc mọi người tự tìm hiểu về môi trường của mình.
Ông đưa ra một ví dụ cụ thể như sau: Thử nghĩ đến một mình đứa trẻ ở sân chơi với những đồ vật mà nó tự do khám phá. Đứa trẻ không cần dỗ dành mà ngay lập tức chúng bắt đầu khám phá các đồ vật bằng cách sờ, kéo, đập, ném chúng và cố lấy chúng đi. Qua các hoạt động đó, đứa trẻ học về các vật dụng, tìm hiểu các vận dụng tương tác với nhau như thế nào bằng cách phát triển những ý tưởng của bản thân. Nói cách khác nó tìm hiểu về các đồ vật bằng cách tự khám phá.
[13] Jerome Bruner cho rằng học tập là một quá trình mang tính chủ quan. Qua quá trình đó, người học hình thành nên các ý tưởng hoặc khái niệm mới dựa trên cơ sở vốn kiến thức sẵn có của mình. Người học lựa chọn và chuyển hóa thông tin, hình thành các giả thuyết và đưa ra các quyết định dựa vào cơ sở cấu trúc của quá trình nhận thức. Ông khẳng định rằng bắt đầu ngay từ khi mới đến trường, người học đã cần phải biết cấu trúc cơ bản của kiến thức hơn là biết các số liệu, dữ kiện về các thông tin bình thường tẻ nhạt, nhiều cái đòi hỏi phải ghi 8 nhớ quá nhiều, học sinh cần được khuyến khích và dạy cách tự do khám phá thông tin.
Theo Bruner, việc học tập khám phá xảy ra khi các cá nhân phải sử dụng quá trình tư duy để phát hiện ra ý nghĩa của điều gì đó cho bản thân họ. Để có được điều này, người học phải kết hợp quan sát và rút ra kết luận, thực hiện so sánh, làm rõ ý nghĩa số liệu để tạo ra một sự hiểu biết mới mà họ chưa từng biết trước đó. Giáo viên cần cố gắng và khuyến khích học sinh tự khám phá ra các nguyên lý, các giáo viên và học sinh cần phải thực sự hòa nhập trong quá trình dạy học. Nhiệm vụ của người dạy là chuyển tải các thông tin cần học theo một phương pháp phù hợp với khả năng hiểu biết hiện tại của học sinh.
Giáo trình cũng được xây dựng theo hình xoáy ốc để học sinh được tiếp tục xây dựng kiến thức mới trên cơ sở cái đã học. Tuy nhiên, ông cũng khẳng định rằng trong dạy học khám phá, không phải học sinh tự khám phá ra các dữ liệu thông tin mà họ khám phá ra sự liên quan giữa các ý tưởng và các khái niệm bằng cách sử dụng những cái đã học. Rassekh (1987) cho rằng: “Người thầy giỏi là người làm cho học sinh tự tìm ra kiến thức” R.singh lại chỉ ra rằng: “Trong quá trình dạy học, người dạy và người học là những người bạn cùng làm việc, cùng nhau tìm hiểu và khám phá”. Những công trình nghiên cứu gần đây đều cho rằng: “Trong bối cảnh của sự gia tăng nhanh lượng kiến thức, càn có kiểu dạy học chú trọng đến việc dạy cách học hơn là việc dạy cái gì.
Khi đó, người học sẽ thu được kết quả tốt hơn là nhớ lại, nhắc lại các sự kiện. Muốn hình thành thói quen và kĩ nằng này cần sử dụng những phương pháp dạy học cho phép người học suy nghĩ một cách độc lập, tìm tòi dựa vào những phán đoán có lý”. Như vậy, trên thế giới có rất nhiều quan niệm dạy học tự phát hiện, khám phá đã được nhắc đến từ lâu. Những năm gần đây, đổi mới phương pháp theo hướng tích cực hoá người học, với các biện pháp tổ chức cho học sinh hoạt động tự lực, chủ động khám phá ra kiến thức mới đã trở thành xu hướng của 9 nhiều Quốc gia trên thế giới nói chung và khu vực nói riêng.
Tuy nhiên chưa có nhiều công trình nghiên cứu sâu về việc phát triển năng lực khám phá. Ở trong nước Ở nước ta, vấn đề phát huy tính tích cực chủ động của học sinh nhằm đào tạo ra những người lao động sáng tạo đã được đặt ra trong nghành giáo dục từ những năm 1960. Khẩu hiệu “ biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” cũng đi vào các trường sư phạm từ thời điểm đó. Tuy nhiên, những thuật ngữ như tự phát hiện, khám phá, phát hiện,.
lại chỉ mới được sử dụng phổ biến trong những năm gần đây và đã có nhiều công trình nghiên cứu về đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp dạy học khám phá. Đã có một số nhà nghiên cứu tìm hiểu về năng lực tìm tòi, khám phá thế giới tự nhiên. Có thể điểm qua quan niệm của họ như: Ví dụ như công trình của nhà nghiên cứu giáo dục: GS. Trần Bá Hoành; PGS.
Trần Kiều; GS. Nguyễn Bá Kim; TS. Thái Duy Tiên; PGS. Đỗ Đình Hoan,… Mục đích quan trọng nhất của việc đổi mới phương pháp dạy học là hướng vào người học, lấy người học làm trung tâm, tích cực hóa hoạt động của học sinh dựa trên cơ sở tự giác, độc lập, tìm tòi, tự phát hiện tri thức theo tổ chức hướng dẫn của giáo viên.
Tác giả Nguyễn Văn Hiến đã xác định: “Năng lực tìm tòi, khám phá thế giới tự nhiên là tổ hợp những đặc điểm tâm lí cá nhân đáp ứng được yêu cầu của hoạt động khám phá trong học tập, nghiên cứu, hướng tới kết quả tư duy mới mẻ, độc đáo và có giá trị đối với bản thân” [5]. Theo Phạm Thị Phương Mai cho rằng: Năng lực tìm tòi, khám phá là hoạt động chủ động, tích cực của người học; dựa trên các kiến thức đã biết, người học tự đặt ra các câu hỏi, thu thập, điều tra, phân tích dữ liệu nhằm tìm ra kiến thức mới. [8] Qua nghiên cứu, tôi nhận thấy rằng: đã có các công trình, đề tài khoa học nghiên cứu về giáo dục năng lực khám phá. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa 10 có công trình nào nghiên cứu sâu về vấn đề xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực khám phá trong dạy học môn Lịch sử và Địa lí lớp 4.
Các khái niệm cơ bản 1. Bài tập Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên [3, tr25], bài tập là bài ra cho học sinh làm để tập vận dụng những điều đã học. Bài tập là loại công cụ kiểm tra, đánh giá trong đó chứa các vấn đề cần phải giải quyết. Bài tập thường được trình bày dưới dạng câu hỏi, bài tập có thể là một câu hỏi nhưng không phải bất kì câu hỏi nào cũng là bài tập.
Hai khái niệm này khác nhau ở chỗ: câu hỏi chỉ nêu yêu cầu mà học sinh cần phải trả lời. Còn bài tập vừa có dữ liệu (điều kiện), vừa có yêu cầu (hoặc câu hỏi). Để giải quyết bài tập học sinh phải căn cứ vào dữ liệu đã cho để tìm câu trả lời chính xác. Nếu câu hỏi mà việc trả lời nó không chỉ là tái hiện kiến thức, không chỉ đòi hỏi sự nhớ lại đơn thuần mà nhằm hình thành kiến thức với chất lượng mới bằng các thao tác tư duy phức tạp thì nó trở thành bài tập nhận thức.
Bài tập nhận thức có yêu cầu cao hơn, nội dung có tính chất khái quát, đòi hỏi phải có nhận thức sâu sắc mới giải quyết được qua đó giúp người học nâng cao trình độ lên một bước.