Phát triển kỹ năng tự học môn Lịch sử lớp 12 thông qua sách giáo khoa tại trường THPT Quảng Yên

Phát triển kĩ năng tự học với sách giáo khoa trong dạy học lịch sử lớp 12 tại trường THPT thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh nhằm nâng cao chất lượng dạy học.

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Tác giả

Vũ Thị Kim Dung

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

108
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát triển kĩ năng tự học với SGK lịch sử lớp 12

Môn Lịch sử lớp 12 thuộc nhóm môn Lịch sử, có mục tiêu giúp học sinh nắm vững hệ thống kiến thức cơ bản về lịch sử Việt Nam và thế giới, hình thành thế giới quan khoa học, bồi dưỡng nhân cách. Phát triển kĩ năng tự học với sách giáo khoa lịch sử lớp 12 là giải pháp đổi mới phương pháp dạy và học, phù hợp với yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông 2018. Kỹ năng tự học giúp học sinh chủ động khai thác thông tin từ sách giáo khoa, liên hệ kiến thức với thực tiễn, nâng cao năng lực tư duy độc lập. Giáo viên đóng vai trò hướng dẫn, tổ chức hoạt động học tập phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 12. Quá trình này góp phần nâng cao chất lượng học tập môn Lịch sử, giúp học sinh chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi tốt nghiệp THPT và các kỳ thi tuyển sinh đại học.

1.1. Vai trò của sách giáo khoa lịch sử lớp 12 trong tự học

Sách giáo khoa lịch sử lớp 12 là tài liệu chính thức, có hệ thống nội dung được biên soạn phù hợp với chương trình quốc gia. Đây là nguồn thông tin đáng tin cậy, có cấu trúc rõ ràng, bao gồm các sự kiện lịch sử, bản đồ, tư liệu minh họa giúp học sinh dễ dàng nắm bắt kiến thức. Khi tự học, học sinh có thể sử dụng SGK làm cơ sở để xây dựng hệ thống kiến thức, tra cứu thông tin khi cần. Nội dung SGK còn có các câu hỏi, bài tập cuối bài giúp học sinh kiểm tra mức độ hiểu bài. Chất lượng tự học phụ thuộc rất nhiều vào cách sử dụng SGK một cách hiệu quả, phù hợp với phương pháp học tập cá nhân.

1.2. Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 12 khi tự học môn lịch sử

Học sinh lớp 12 có khả năng tư duy trừu tượng phát triển, có thể tiếp nhận kiến thức lịch sử phức tạp hơn các khối lớp dưới. Các em có khả năng tự đặt câu hỏi, tìm kiếm thông tin bổ sung từ các nguồn khác ngoài SGK. Tuy nhiên, nhiều học sinh vẫn chưa có thói quen tự học, thường phụ thuộc vào giáo viên để tiếp thu kiến thức. Khi tự học môn Lịch sử, các em có thể gặp khó khăn trong việc phân biệt các sự kiện lịch sử, liên hệ nguyên nhân và hậu quả của các sự kiện. Do đó, việc phát triển kỹ năng tự học với SGK cần phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh, giúp các em vượt qua những khó khăn này.

II. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kĩ năng tự học với SGK lịch sử lớp 12

Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả phát triển kĩ năng tự học với sách giáo khoa lịch sử lớp 12. Phương pháp dạy học truyền thống, tập trung vào truyền đạt kiến thức một chiều, khiến học sinh quen phụ thuộc vào giáo viên, không chủ động tìm tòi kiến thức từ SGK. Thói quen học tập của nhiều học sinh lớp 12 vẫn là học thuộc lòng các sự kiện lịch sử thay vì hiểu và liên hệ thực tiễn, làm giảm hiệu quả của quá trình tự học. Chất lượng sách giáo khoa cũng là yếu tố quan trọng: nếu SGK có nội dung khô khan, thiếu tư liệu minh họa, học sinh sẽ không có hứng thú tự học. Ngoài ra, điều kiện học tập tại nhà như không gian yên tĩnh, thiếu công cụ tra cứu thông tin cũng cản trở quá trình tự học của học sinh.

2.1. Hạn chế trong phương pháp dạy học lịch sử hiện tại

Phương pháp dạy học lịch sử tại nhiều trường THPT hiện nay vẫn chủ yếu là giảng bài, học sinh nghe và ghi chép. Giáo viên thường dành phần lớn thời gian để giải thích nội dung SGK, không tạo nhiều cơ hội cho học sinh tự đọc, tự tìm tòi kiến thức. Phương pháp này khiến học sinh trở thành người tiếp thụ thụ động, không phát triển được kỹ năng tự học. Nhiều giáo viên cũng chưa biết cách thiết kế hoạt động học tập để khuyến khích học sinh sử dụng SGK một cách chủ động, do đó kỹ năng tự học của học sinh không được cải thiện.

2.2. Thực trạng thói quen tự học của học sinh lớp 12

Thực trạng khảo sát tại nhiều trường THPT cho thấy, hơn 60% học sinh lớp 12 không có thói quen tự học môn Lịch sử ngoài giờ học trên lớp. Các em thường chỉ học môn Lịch sử khi có bài kiểm tra, học thuộc lòng các sự kiện để đạt điểm cao mà không hiểu sâu nội dung. Nhiều học sinh cho rằng môn Lịch sử khó học, cần nhớ quá nhiều sự kiện nên không có hứng thú tự học. Một bộ phận khác không biết cách sử dụng SGK để tự học, thường đọc lướt qua nội dung mà không ghi chú, không đặt câu hỏi khi gặp phần chưa hiểu.

III. Giải pháp phát triển kĩ năng tự học với SGK lịch sử lớp 12

Để phát triển kĩ năng tự học với sách giáo khoa lịch sử lớp 12, cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ phía nhà trường, giáo viên và học sinh. Giáo viên cần đổi mới phương pháp dạy học, chuyển từ truyền đạt một chiều sang hướng dẫn học sinh chủ động khai thác SGK. Trước mỗi bài học, giáo viên giao nhiệm vụ tự học, yêu cầu học sinh đọc SGK, ghi chú các phần chưa hiểu, chuẩn bị câu hỏi để thảo luận trên lớp. Nhà trường tổ chức các buổi hướng dẫn kỹ năng tự học cho học sinh, giới thiệu các phương pháp ghi chú, liên hệ kiến thức lịch sử với thực tiễn. Học sinh cần xây dựng kế hoạch tự học hàng ngày, dành thời gian đều đặn để ôn tập và khai thác SGK.

3.1. Hướng dẫn kỹ năng khai thác sách giáo khoa lịch sử

Giáo viên cần hướng dẫn học sinh các kỹ năng cơ bản khi tự học với SGK lịch sử như: đọc hiểu nội dung bài, xác định các sự kiện lịch sử chính, ghi chú ý quan trọng, vẽ sơ đồ tư duy để hệ thống hóa kiến thức. Học sinh cần học cách sử dụng các tư liệu minh họa trong SGK như bản đồ, tranh ảnh, tư liệu lịch sử để hiểu sâu hơn nội dung sự kiện. Khi gặp phần kiến thức khó, học sinh có thể đọc lại các phần liên quan trước đó, tra cứu từ điển lịch sử hoặc tìm kiếm thông tin bổ sung từ các nguồn đáng tin cậy. Kỹ năng khai thác SGK hiệu quả sẽ giúp học sinh tiết kiệm thời gian, nắm vững kiến thức một cách bền vững.

3.2. Tổ chức hoạt động học tập nhóm để tăng cường tự học

Tổ chức hoạt động học tập nhóm là giải pháp hiệu quả để khuyến khích học sinh tự học với SGK lịch sử. Giáo viên chia lớp thành các nhóm 3-4 học sinh, giao nhiệm vụ nghiên cứu một chủ đề lịch sử cụ thể yêu cầu sử dụng SGK làm nguồn thông tin chính. Các nhóm thảo luận, chia sẻ kiến thức, cùng giải quyết các vấn đề liên quan đến chủ đề. Hoạt động nhóm giúp học sinh trao đổi kinh nghiệm tự học, học hỏi cách khai thác SGK từ bạn bè, tăng hứng thú với môn Lịch sử. Kết quả nghiên cứu của các nhóm có thể được trình bày trên lớp, giúp tất cả học sinh nắm vững kiến thức.

IV. Kết luận và ứng dụng phát triển kĩ năng tự học với SGK lịch sử lớp 12

Phát triển kĩ năng tự học với sách giáo khoa lịch sử lớp 12 mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho học sinh. Kỹ năng này giúp các em nắm vững hệ thống kiến thức lịch sử một cách bền vững, không chỉ học để đạt điểm cao trong kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học mà còn hiểu sâu giá trị của lịch sử dân tộc. Quá trình tự học còn giúp học sinh rèn luyện tư duy độc lập, khả năng phân tích, đánh giá sự kiện lịch sử, hình thành thế giới quan khoa học và nhân cách tốt đẹp. Ứng dụng kỹ năng tự học vào cuộc sống sau này, học sinh có thể tự tìm hiểu kiến thức lịch sử để liên hệ với các vấn đề thực tiễn, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó, việc phát triển kỹ năng tự học với SGK lịch sử lớp 12 là nhiệm vụ quan trọng của giáo viên và nhà trường.

4.1. Ứng dụng kỹ năng tự học vào kỳ thi tốt nghiệp THPT

Kỹ năng tự học với SGK lịch sử giúp học sinh nắm vững kiến thức một cách hệ thống, không phải học thuộc lòng máy móc. Khi làm bài thi tốt nghiệp THPT, các em có thể vận dụng kiến thức để trả lời các câu hỏi trắc nghiệm, tự luận một cách chính xác, đặc biệt là các câu hỏi yêu cầu phân tích, đánh giá sự kiện lịch sử. Việc tự học thường xuyên cũng giúp học sinh quen với dạng câu hỏi thi, biết cách sắp xếp thời gian làm bài, giảm stress trong kỳ thi. Nhiều học sinh có kỹ năng tự học tốt thường đạt điểm cao môn Lịch sử trong kỳ thi tốt nghiệp và kỳ thi tuyển sinh đại học.

4.2. Đóng góp vào phát triển năng lực tư duy lịch sử của học sinh

Quá trình tự học với SGK lịch sử giúp học sinh rèn luyện nhiều năng lực tư duy quan trọng như tư duy phân tích, tổng hợp, đánh giá. Khi đọc nội dung SGK, học sinh phải tự phân tích nguyên nhân, hậu quả của các sự kiện lịch sử, liên hệ giữa các sự kiện trong nước và quốc tế. Việc tự tìm tòi thông tin bổ sung cũng giúp các em mở rộng kiến thức, có cái nhìn đa chiều về các vấn đề lịch sử. Những năng lực này không chỉ giúp học sinh học tốt môn Lịch sử mà còn hữu ích cho việc học các môn khác và cuộc sống sau này.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

19/05/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG TỰ HỌC VỚI SÁCH GIÁO KHOA TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Tự học Học là một trong hai hoạt động cơ bản của quá trình dạy và học. Tự học cũng là hình thức tổ chức dạy học song tự học mang tính độc lập và có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học.

Phát triển KNTH cho HS là biện pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả dạy học và nâng cao chất lượng bộ môn. Trong bối cảnh ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học - kĩ thuật, công nghệ thông tin và quá trình toàn cầu hóa thì tự học ngày càng quan trọng hơn bao giờ hết. Tự học sẽ giúp chúng ta thoát khỏi tình trạng lạc hậu, trì trệ và kém phát triển, chủ động vươn lên để chiếm lĩnh tri thức, thu nhận những thành tựu tiến bộ của xã hội. Vì vậy, tự học luôn là vấn đề được nhiều nhà giáo dục quan tâm và nghiên cứu.

Có rất nhiều định nghĩa về tự học như: Tác giả Thái Duy Tuyên trong tập bài giảng chuyên đề “Dạy tự học cho sinh viên” trong các nhà tường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học đã viết: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, KN, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, phân tích, so sánh, tổng hợp…), cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm LS xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học” [47, tr. Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: Tự học là quá trình chủ thể dùng các giác quan để thu nhận thông tin rồi sau đó sử dụng nhiểu yếu tố như năng lực trí tuệ, phẩm chất cá nhân, thế giới quan, động cơ tình cảm để chiếm lĩnh tri thức của nhân loại và biến những tri thức đó thành sở hữu của riêng mình. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Trong cuốn “PPDH LS” do Phan Ngọc Liên chủ biên, tác giả đã đưa ra khái niệm về tự học như sau: “Tự học của HS là việc nắm vững kiến thức LS một cách chính xác, vững chắc và có thể vận dụng một cách thành thạo. Việc tự học phải được tiến hành với sự hứng thú, say mê và ý thức trách nhiệm, tinh thần lao động cần cù… độc lập hoàn thành những nhiệm vụ được giao” [29, tr.

Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt và tác giả Hà Thị Đức trong cuốn “Lý luận dạy học đại học” thì: Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản. Đó là một hình thức nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và KN do chính người học tự tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và SGK đã được qui định. Theo Nguyễn Quang Đạo: “Khi nhận thức đúng vai trò của tự học đến sự tích lũy kiến thức cho bản thân, cho công việc và cho sự tiến bộ của xã hội thì tự học sẽ là công việc tự giác của mỗi người” (dẫn theo [1, tr. Tác giả Trịnh Quang Từ cho rằng “Tự học là quá trình chiếm lĩnh tri thức của bản thân người học bằng hoạt động của chính mình, hướng tới mục đích nhất định” (dẫn theo [1, tr.

Tác giả Phạm Văn Vượng quan niệm: “Tự học là hình thức học ngoài giờ lên lớp bằng sự nỗ lực, ý thức của cá nhân theo kế hoạch học tập, có thể có mặt trực tiếp của GV hoặc không” (dẫn theo [1, tr. Từ những nghiên cứu trên chúng ta có thể hiểu, tự học là một quá trình mà trong đó chủ thể tự mình chiếm lĩnh những tri thức bằng các hoạt động tư duy, bằng ý chí nghị lực của bản thân với tinh thần tự giác cao nhất để hoàn thành nhiệm vụ được giao hay nhằm đạt được mục tiêu do chính mình đề ra. Năng lực và năng lực tự học - Năng lực: Năng lực là một phạm trù từng được bàn đến trong mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội. Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực.

Theo từ điển tiếng Việt “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn một hành động nào đó. Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”. Đứng về góc độ tâm lý học, năng lực trở thành đối tượng nghiên cứu chuyên sâu từ thế kỷ XIX, trong các công trình thực nghiệm của F.Ganton năng lực có những biểu hiện như tính nhạy bén, chắc chắn, sâu sắc và dễ dàng trong quá trình lĩnh hội một hoạt động mới nào đó. Người có năng lực là người đạt hiệu suất và chất lượng hoạt động cao trong các hoàn cảnh khách quan và chủ quan như nhau.

Năng lực gắn bó chặt chẽ với tính định hướng chung của nhân cách. Từ điển tâm lý học đưa ra khái niệm, năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định. Theo Cosmovici thì: “năng lực là tổ hợp đặc điểm của cá nhân, giải thích sự khác biệt giữa người này với người khác ở khả năng đạt được những kiến thức và hành vi nhất định”.Leonchiev cho rằng: “năng lực là đặc điểm cá nhân quy định việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định”. Như vậy, khi nói đến năng lực thì không phải là một thuộc tính tâm lý duy nhất nào đó (ví dụ như khả năng tri giác, trí nhớ.) mà là sự tổng hợp các thuộc tính tâm lý cá nhân (sự tổng hợp này không phải phép cộng của các thuộc tính mà là sự thống nhất hữu cơ, giữa các thuộc tính tâm lý này diễn ra mối quan hệ tương tác qua lại theo một hệ thống nhất định và trong đó một thuộc tính nổi lên với tư cách chủ đạo và những thuộc tính khác giữ vai trò phụ thuộc) đáp ứng được những yêu cầu hoạt động và đảm bảo hoạt động đó đạt được kết quả mong muốn.

Tóm lại, dựa trên quan niệm của nhiều tác giả đưa ra ở trên chúng tôi định nghĩa như sau: Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… NL của cá nhân được đánh giá qua phương thức và khả năng hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Như vậy, năng lực không mang tính chung chung mà khi nói đến năng lực, bao giờ người ta cũng nói về một lĩnh vực cụ thể nào đó như năng lực toán học của hoạt động học tập hay nghiên cứu toán học, năng lực hoạt động chính trị của hoạt động chính trị, năng lực dạy học của hoạt động giảng dạy. NL của HS là một cấu trúc động, có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, KN mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội… thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của các em trong môi trường học tập phổ thông và những điều kiện thực tế đang thay đổi của xã hội. - Nội dung của năng lực tự học NLTH cũng là một khả năng, một phẩm chất “vốn có” của mỗi cá nhân.

Tuy nhiên nó luôn luôn biến đổi tùy thuộc vào hoạt động của cá nhân trong môi trường văn hóa - xã hội. NLTH là khả năng bẩm sinh của mỗi người nhưng phải được đào tạo, rèn luyện trong hoạt động thực tiễn thì nó mới bộc lộ được những ưu điểm giúp cho cá nhân phát triển, nếu không sẽ mãi là khả năng tiềm ẩn. Thời gian mỗi chúng ta ngồi trên ghế nhà trường là rất ngắn ngủi so với cuộc đời vì vậy TH và NLTH của HS sẽ là nền tảng cơ bản đóng vai trò quyết định đến sự thành công của các em trên con đường phía trước và đó cũng chính là nền tảng để các em TH suốt đời. Như vậy, theo chúng tôi NLTH là khả năng xác định được nhiệm vụ học tập một cách tự giác, chủ động; tự đặt được mục tiêu học tập để đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu thực hiện; thực hiện các phương pháp học tập hiệu quả; điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân khi thực hiện các nhiệm vụ học tập thông qua tự đánh giá hoặc lời góp ý của GV, bạn bè; chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp khó khăn trong học tập.

Kĩ năng Theo Từ điển Tiếng việt, “KN là khả năng vận dụng những kiến thức đã nhận được trong một lĩnh vực nào đó áp dụng vào thực tế” [48, tr. Trên phương diện Tâm lý học, khi nói về KN thường có hai quan điểm khác nhau: Thứ nhất, KN là cách thức cơ bản để chủ thể thực hiện hành động, thể hiện bởi những tri thức đã lĩnh hội được, những thói quen và kinh nghiệm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn của bản thân. Xem KN là mặt kĩ thuật của hành động, coi KN như một phương tiện thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện mà con người đã nắm vững, không cần quan tâm đến kết quả. Thứ hai, xem KN là biểu hiện NL của con người, coi KN là NL thực hiện một công việc có kết quả nhất định, trong một khoảng thời gian cụ thể.

Tác giả Nguyễn Thị Côi đã khẳng định trong cuốn “Rèn luyện KN nghiệp vụ sư phạm LS”: “người có KN về một hành động nào đó là người phải có: tri thức về hành động, thực hiện hành động đúng với mục đích của nó, phải đạt được hiệu quả như mục đích đã đề ra…”. Từ đó, tác giả rút ra kết luận: “Có thể hiểu KN là sự thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép” [16, tr. Như vậy, bằng những mục tiêu và điều kiện cụ thể, KN là khả năng thực hiện đúng những hành động mà con người hướng tới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ