đặt vấn đề để HS suy nghĩ, phần lớn GV cung cấp các kiến thức cho HS và HS thì ghi nhớ. Vì vậy, với lượng thông tin lớn và tốc độ nhanh thì HS không thể nhớ tất cả và không còn thời gian để suy nghĩ các kiến thức mình tiếp nhận được. Hệ thống câu hỏi gợi mở, dẫn dắt chưa logic, chưa phù hợp cho từng đối tượng; có những tiết giáo viên còn nói lan man, ngoài lề chưa khắc sâu kiến thức trọng tâm. Việc sử dụng đồ dùng dạy học trực quan, tranh ảnh, SGK, thí nghiệm còn hạn chế, chưa khai thác hết tác dụng của ĐDDH.
Chưa xử lý hết các tình huống trong tiết dạy, việc tổ chức các hoạt động còn mang tính hình thức chưa phù hợp. Chưa động viên tuyên dương kịp thời khi HS có một biểu hiện tích cực. Chưa quan tâm đến tất cả HS trong lớp, GV chỉ chú trọng vào các em HS khá, giỏi và coi đây là chất lượng chung của lớp. • Phụ huynh T 6 Tỷ lệ học sinh đi học chuyên cần thấp, thái độ học tập của học sinh, chất lượng học tập cho thấy nhận thức và thái độ của phụ huynh trong việc hợp tác với nhà trường là chưa cao.
Qua đó cho thấy một bộ phận phụ huynh chưa thật sự quan tâm, chăm lo và đôn đốc con em mình học tập, còn phó thác cho nhà trường, cho thầy cô.Yếu kém do phương pháp tự học Học sinh không có thời gian cho việc tự học. Học sinh tự lực không có sự chỉ đạo của GV, học sinh xử lí thông tin thu được trên lớp biến nó thành kiến thức riêng cho mình. Muốn tự học tốt học sinh phải tích cực tự giác trong việc tiếp thu kiến thức ở trên lớp và tự học ở nhà. HS không chuẩn bị bài và học lại bài cũ.
Đọc bài trước khi đến lớp là tiền đề tốt cho khả năng tiếp thu ban đầu, hơn nữa còn thể hiện được ý thức tự học rất cao của HS. Nhưng hiện nay, học sinh chưa ý thức được nhiệm vụ của mình, số HS đọc bài trước khi đến lớp rất ít, đặc biệt các em yếu kém lại càng cho rằng chỉ học để đối phó với giáo viên, với các kỳ kiểm tra nên không cần phải chuẩn bị bài. Các em không có hướng phấn đấu hoàn thiện mình, không xác định được mình có những kiến thức gì? Mình phải cần có kiến thức gì và làm bằng cách nào? Từ việc không có kiến thức, các HS thiếu tự tin và không còn hứng thú với môn học nữa.Yếu kém do phương pháp vận dụng Dùng kiến thức đã lĩnh hội được (do tiếp thu và tự học) để giải bài tập nhằm nâng cao mức độ lĩnh hội, tư duy, trí nhớ. Ngoài ra còn áp dụng để giải thích các hiện tượng thực tế đó là hình thức cao nhất của phương pháp vận dụng.
Vận dụng để giải bài tập Việc học sinh yếu tự giải bài tập là hiếm có, giải bài tập theo yêu cầu của thầy cô cũng đạt tỷ lệ rất thấp. Không củng cố, không khắc sâu kiến thức nên khả năng vận dụng của HS chưa cao dẫn đến kỹ năng giải bài tập cũng yếu kém, khả năng ghi nhớ cũng yếu gây khó khăn cho việc tiếp thu kiến thức mới. Vận dụng kiến thức vào thực tiễn Biết vận dụng các kiến thức để giải thích các hiện tượng hóa học, các hiện tượng tự nhiên đó là thành công lớn nhất của sự vận dụng. HS có được khả năng này sẽ nắm vững kiến thức mình được học đồng thời vốn kiến thức trở nên sinh động, hữu ích hơn và các em cảm thấy hứng thú yêu thích môn hóa hơn.
Hiện nay chỉ có các em giỏi mới quan tâm muốn được giải thích và tìm cách giải thích, còn đối với các em HS yếu thì không có hứng thú vì vậy không tích cực vận dụng, đồng thời cũng không biết vận dụng, học vẹt, không có khả năng vận dụng kiến thức. Qua thực trạng của HS ta thấy rõ ràng tiếp thu các quá trình tiếp thu ban đầu, tự học và vận dụng liên kết với nhau một cách mật thiết nên có phương pháp tiếp thu tốt là tiền đề cho tự học và cao nhất là vận dụng.Vì vậy, điều chỉnh quá trình học của HS để có phương pháp học tập tốt, phù hợp thì phải nhìn nhận được tất cả các nguyên nhân và mối liên hệ giữa các nguyên nhân đó.Các nguyên nhân khác Mất căn bản Do chưa phân biệt được cái bản chất và cái hiện tượng chỉ tập trung học riêng biệt cho từng chất, từng bài mà chưa học lý thuyết chủ đạo, chưa biết mối liên hệ giữa các bài, các chất với nhau. Học sinh bị hổng kiến thức từ lớp nhỏ: đây là một điều không thể phủ nhận, với chương trình học tập hiện nay, để có thể học tập tốt và đạt được kết quả thì đòi hỏi trước đó học sinh phải có vốn kiến thức nhất định. Tuy nhiên, hiện nay rất nhiều học sinh đã không có được những vốn kiến thức cơ bản ngay từ lớp nhỏ, từ đó càng lên các lớp lớn hơn, học những kiến thức mới có liên quan đến những kiến thức cũ thì học sinh đã quên hết cho nên việc tiếp thu kiến thức mới trở thành điều rất khó khăn đối với các em.
Nguyên nhân này có thể nói đến một phần lỗi của giáo viên là chưa đánh giá đúng trình độ của học sinh. Chưa có ý thức tự giác học tập - Học sinh chưa tự giác học, chưa có động cơ học tập. - Không chuẩn bị bài trước khi đến lớp, không làm bài tập khi đã học xong, thậm chí không làm bài mà GV dặn. - Học sinh lười suy nghĩ, còn trông chờ thầy cô giải giúp, trình độ tư duy, vốn kiến thức cơ bản lớp dưới còn hạn chế.
- Khả năng chú ý và tập trung vào bài giảng của giáo viên không bền. Chưa có khả năng tư duy, suy luận khi tiếp thu và vận dụng kiến thức Trong giờ học, HS chưa kết hợp cùng GV để tìm ra chân lý, kiến thức mà còn chờ GV giảng bài để ghi chép nên không làm quen với các tư duy so sánh, quy nạp, khái quát hóa., không có khả năng kết dính các kiến thức nên học vẹt, học từng chất, chưa có cái nhìn tổng quát để phân loại, phân định chương trình và hậu quả là không đủ và không thể vận dụng giải bài tập hay giải thích các hiện tượng hóa học và hiện tượng tự nhiên. Thiếu tự tin Từ nguyên nhân bị hổng kiến thức dẫn tới HS không dám trình bày quan điểm của mình, ngại hỏi GV và ngay cả bạn bè nên kiến thức không được hoàn thiện và cũng không được củng cố, không dám khẳng định mình khi làm bài. Không có kế hoạch học tập Việc học theo kế hoạch là cần thiết cho quá trình học tập vì rèn luyện được tính chuyên cần đồng thời bổ khuyết được các kiến thức bị hổng từ lớp dưới.
Không nắm được các kỹ năng tính toán cơ bản và các thao tác tư duy - Không biết làm tính, yếu các kỹ năng tính toán cơ bản, cần thiết. - Các thao tác tư duy như: phân tích và tổng hợp, so sánh và khái quát hóa là các phương tiện đắc lực để đảm bảo cho HS khắc sâu kiến thức và hiểu rõ các kiến thức của môn học. Chúng có ý nghĩa nhất trong quá trình dạy các em yếu, là phương pháp nâng cao tính tích cực của HS trong nhận thức cũng như các dạng công tác học tập khác. Không được kiểm tra thường xuyên Do số lượng HS ở một lớp tương đối đông, thời lượng cho 1 tiết học chỉ là 45 phút mà khối lượng kiến thức thì nhiều nên GV khó có thể tiến hành kiểm tra các HS thường xuyên.
Những biện pháp khắc phục với học sinh yếu Những nguyên nhân yếu kém của HS hiện nay, việc giảng dạy muốn có kết quả đòi hỏi phải làm cho mỗi HS lĩnh hội một cách tự giác, vững chắc hệ thống tri thức, kĩ năng, kỹ xảo do chương trình đã vạch ra cho từng năm học.Trên cơ sở kiến thức lĩnh hội được, cái mới này trở thành cơ sở cho các giai đoạn học tiếp sau. Phương pháp giảng bài mới Khi giảng bài mới GV nên giảng các vấn đề cốt lõi, dạy lặp đi lặp lại các vấn đề cốt lõi, các kiến thức trọng tâm của bài. Tình trạng học sinh yếu kém hiện nay có thể xem là một dạng “suy kiến thức” trầm trọng. Các em không còn khả năng tiếp thu và “tiêu hóa” những kiến thức mới.
Nguy hiểm hơn cả hiện nay đã có biến chứng tâm lý khiến các em chán học và buông xuôi tất cả. Cái mà HS yếu đang cần là tiếp thu một lượng kiến thức vừa phải để có thể “tiêu hóa” được chúng, chứ không phải là bổ sung thêm. Đan xen trong quá trình giảng bài mới nếu có các kiến thức liên quan đến các kiến thức các em đã học thì GV nhắc lại giúp cho các em củng cố lại các kiến thức đã học có hệ thống. Phương pháp củng cố kiến thức Kiến thức cơ bản là nền tảng để các em tiếp thu kiến thức mới, HS thường mắc sai lầm là thường coi nhẹ các khái niệm, định nghĩa ban đầu.Trong chương trình giảng dạy của từng năm, học kỳ thì GV không thể dừng lại để ôn cho HS.
Do đó đòi hỏi người GV phải nắm vững chương trình HS đã được học, kiến thức cần ôn, cần khắc sâu. Ở mỗi bài, GV đặt câu hỏi phát vấn HS để các em có dịp ôn lại kiến thức cũ, qua trao đổi hai chiều GV sẽ hoàn thiện, uốn nắn những sai sót mà HS vấp phải. Đặt xen kẽ câu hỏi ôn kiến thức cũ để phát vấn học sinh. GV buộc HS phải học bài.
Khi giải bài tập giúp các em phân tích từng bài theo từng loại, từng chương và đặt vấn đề cho các em suy nghĩ. GV tổng kết đưa ra phương pháp chung cho từng loại và gợi ý các em kết hợp phương pháp cho một bài tổng hợp ở cuối chương. GV nên tách những vấn đề học tập lớn thành nhiều vấn đề nhỏ liên tục nhau để học sinh dễ tiếp thu hình thành kỹ năng, kỹ xảo và phát triển tư duy. Phương pháp kiểm tra Nên tăng cường mật độ kiểm tra.
Đối các HS yếu kỹ năng giải bài tập rất yếu nên kiến thức nào trong quá trình kiểm tra thấy HS bị lãng quên hoặc nắm không chắc thì GV kịp thời bổ sung ngay.