Tổng quan nghiên cứu

Công cuộc đổi mới đất nước từ năm 1986 đã tạo ra bước ngoặt mang tính lịch sử đối với nền văn học Việt Nam, đặc biệt là thể loại văn xuôi tự sự với sự chuyển dịch mạnh mẽ từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng đạo đức thế sự. Trong chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn, 4 tác phẩm truyện tiêu biểu thời kỳ đổi mới gồm Bến quê (Nguyễn Minh Châu, 1985), Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu, 1983), Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng, 1982) và Một người Hà Nội (Nguyễn Khải, 1990) đã được đưa vào giảng dạy chính khóa và đọc thêm ở khối lớp 9 và lớp 12. Tuy nhiên, thực tiễn dạy học môn Ngữ văn tại các trường trung học phổ thông vẫn bộc lộ nhiều hạn chế khi giáo viên thường nặng về giảng giải nội dung tư tưởng, chưa bám sát quy luật chiếm lĩnh tác phẩm tự sự theo thi pháp thể loại.

Đề tài nghiên cứu của luận văn tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Làm thế nào để học sinh giải mã được những đổi mới sâu sắc về tư duy nghệ thuật, cách nhìn nhận hiện thực đa chiều và chiều sâu nhân bản của văn xuôi đương đại. Mục tiêu cụ thể là khảo sát thực trạng tiếp nhận của học sinh, phân tích giáo án thực tế của giáo viên, từ đó xây dựng hệ thống định hướng dạy học truyện đổi mới theo đặc trưng thể loại gồm 3 thành tố: cốt truyện, nhân vật và lời trần thuật. Phạm vi nghiên cứu được triển khai tại 2 cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên (Trường THCS Đồng Quang và Trường Văn hóa I - Bộ Công an) trong năm học 2015 - 2016, với mẫu khảo sát chuyên sâu gồm 35 học sinh lớp 12. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn, cung cấp mô hình thiết kế bài giảng giúp 100% học sinh nắm vững phương pháp đọc hiểu văn bản tự sự và nâng cao năng lực cảm thụ thẩm mỹ độc lập.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết tiếp nhận văn học hiện đại kết hợp chặt chẽ với lý thuyết thi pháp học thể loại tự sự của các nhà nghiên cứu giáo dục hàng đầu như Trần Thanh Đạm và Nguyễn Viết Chữ. Thể loại truyện được xác định là loại hình văn học phản ánh đời sống khách quan thông qua các sự kiện, biến cố và số phận con người, được cấu tạo hữu cơ qua ba yếu tố hình thức trung tâm: cốt truyện, thế giới nhân vật và lời kể của người trần thuật.

Dưới ánh sáng đường lối đổi mới của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI và Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 28/11/1987 của Bộ Chính trị về văn hóa văn nghệ, văn xuôi giai đoạn 1986 - 1990 đã xác lập 3 quan niệm nghệ thuật mới:

  • Đổi mới quan niệm hiện thực: Hiện thực không còn đơn tuyến, lý tưởng hóa mà mở rộng sang hiện thực đời tư, thế sự đa chiều, chứa đựng nhiều nghịch lý và mặt khuất lấp.
  • Đổi mới quan niệm về con người: Con người không chỉ là ý thức xã hội hay biểu tượng cộng đồng mà là con người cá nhân, con người bản năng, tự ý thức và mang tính đa diện.
  • Đổi mới quan niệm trần thuật: Xuất hiện điểm nhìn đa thanh, sự dịch chuyển linh hoạt giữa lời người kể chuyện và độc thoại nội tâm nhân vật, gia tăng sắc thái hoài nghi và giễu nhại.

Mô hình dạy học do tác giả đề xuất vận hành theo quy trình tương tác 2 bước cho từng thành tố thi pháp: từ việc phát hiện sáng tạo hình thức (cốt truyện, nhân vật, lời kể) đến việc phân tích ý nghĩa tư tưởng nhân sinh mà nhà văn gửi gắm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu lý thuyết, phương pháp điều tra xã hội học và phương pháp thực nghiệm sư phạm:

  • Nguồn dữ liệu: Hệ thống văn bản chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn năm 2006, 4 tác phẩm văn xuôi đổi mới trong sách giáo khoa, cùng 2 giáo án thực tế của giáo viên tại thành phố Thái Nguyên.
  • Cỡ mẫu và cách chọn mẫu: Khảo sát 35 học sinh lớp 12A3 tại Trường Văn hóa I - Bộ Công an và lấy ý kiến chuyên môn của 2 giáo viên trực tiếp giảng dạy tại Trường THCS Đồng Quang và Trường Văn hóa I. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm đánh giá khách quan năng lực tiếp nhận của đối tượng học sinh trung học phổ thông đặc thù.
  • Phương pháp phân tích: Luận văn kết hợp phân tích định tính (đánh giá cấu trúc giáo án, phân tích văn bản nghệ thuật) và xử lý thống kê định lượng theo tỷ lệ phần trăm các câu trả lời trong phiếu khảo sát vốn hiểu biết văn học. Việc lựa chọn phương pháp này giúp lượng hóa chính xác mức độ hứng thú cũng như rào cản nhận thức của học sinh.
  • Timeline nghiên cứu: Toàn bộ quá trình thu thập tư liệu, khảo sát thực trạng, thiết kế giáo án thực nghiệm truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa và đánh giá kết quả được thực hiện hoàn tất vào tháng 6 năm 2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tiễn tại trường phổ thông đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng về tình hình dạy và học các tác phẩm truyện thời kỳ đổi mới:

Thứ nhất, 100% học sinh (35/35 em) chỉ tiếp cận tác phẩm thông qua các đoạn trích in trong sách giáo khoa và 0% học sinh được đọc trọn vẹn tác phẩm gốc ngoài đời thực. Nguyên nhân trực tiếp là nguồn tài liệu văn học đổi mới tại thư viện nhà trường còn rất hạn chế, chỉ lưu trữ 2/4 đầu sách khảo sát (Chiếc thuyền ngoài xa và Một người Hà Nội).

Thứ hai, mức độ hứng thú và khả năng ghi nhớ tác phẩm có sự chênh lệch rõ rệt. Cụ thể, 80% học sinh (28/35 em) thể hiện sự yêu thích sâu sắc nhất đối với truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu; 8,57% học sinh (3/35 em) yêu thích truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải; 5,71% học sinh (2/35 em) lựa chọn Bến quê của Nguyễn Minh Châu và 5,71% học sinh (2/35 em) lựa chọn tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng.

Thứ ba, về năng lực tiếp nhận, đa số học sinh đã nắm được tình huống truyện bề nổi nhưng còn lúng túng khi giải mã các biểu tượng nghệ thuật mang tính triết lý sâu xa. Có khoảng 90% học sinh nhận biết được xung đột bạo lực gia đình trong Chiếc thuyền ngoài xa, song chỉ có khoảng 25% học sinh tự lý giải được chiều sâu đạo đức thế sự và bản chất nghịch lý của số phận con người trong thời kỳ hậu chiến.

Thứ tư, phân tích thực trạng giáo án của giáo viên cho thấy tiến trình lên lớp phần lớn vẫn đi theo lối mòn phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật theo trật tự thời gian tuyến tính, chưa tổ chức cho học sinh tiếp cận bài học từ 3 bình diện cốt truyện, nhân vật và lời kể trần thuật theo đúng đặc trưng thể loại tự sự.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của thực trạng trên bắt nguồn từ việc phân phối thời lượng chương trình còn hạn chế (chỉ 1 đến 2 tiết cho mỗi tác phẩm), áp lực thi cử theo dạng đề truyền thống và giáo viên thiếu một quy trình tiếp cận thi pháp chuẩn hóa. Kết quả nghiên cứu của luận văn hoàn toàn tương đồng với các nhận định trong Giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại tập II của Nguyễn Văn Long (2010) và công trình của Phan Cư Đệ (1997), khẳng định rằng truyện thời kỳ đổi mới không thể giải mã thỏa đáng nếu chỉ dùng tư duy phản ánh hiện thực một chiều của giai đoạn văn học chiến tranh 1945 - 1975.

Dữ liệu khảo sát thực tế có thể được trực quan hóa sinh động qua biểu đồ hình cột thể hiện cơ cấu mức độ yêu thích tác phẩm của 35 học sinh lớp 12 (với ưu thế áp đảo 80% thuộc về Chiếc thuyền ngoài xa) và bảng đối chiếu cấu trúc ma trận 3 bước dạy học thi pháp. Việc chuyển đổi từ phương pháp thuyết giảng nội dung sang phương pháp tổ chức hoạt động khám phá hình thức nghệ thuật giúp học sinh tự kiến tạo tri thức, phát triển tư duy phản biện và thấu hiểu sâu sắc tư tưởng nhân văn của tác giả.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu lý luận và thực nghiệm sư phạm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá nhằm tối ưu hóa chất lượng dạy học truyện thời kỳ đổi mới trong nhà trường phổ thông:

  1. Thiết kế tiến trình bài học theo mô hình ma trận 3 bước thi pháp thể loại: Giáo viên bộ môn Ngữ văn cần chủ động tái cấu trúc kế hoạch bài dạy, chuyển trọng tâm từ bình giảng nội dung sang hướng dẫn học sinh giải mã văn bản qua 3 trục: Cốt truyện (nghệ thuật tạo tình huống nghịch lý) – Nhân vật (hành trình tự ý thức, tính đa diện) – Lời kể (điểm nhìn trần thuật đa thanh). Mục tiêu nâng tỷ lệ học sinh đạt chuẩn kỹ năng đọc hiểu thể loại lên trên 85%, triển khai đồng bộ ngay trong năm học 2016 - 2017.
  2. Vận dụng phương pháp dạy học tích hợp và nêu vấn đề: Tổ chuyên môn Ngữ văn tại các trường trung học phổ thông cần xây dựng hệ thống câu hỏi gợi mở, tổ chức cho 100% học sinh tham gia thảo luận nhóm, tranh luận về các tình huống đạo đức thế sự (như sự lựa chọn của người đàn bà hàng chài hay sự chiêm nghiệm của nhân vật Nhĩ). Phấn đấu đạt trên 90% học sinh tham gia phát biểu xây dựng bài trong mỗi tiết học.
  3. Bổ sung nguồn học liệu và phát triển văn hóa đọc toàn văn: Ban giám hiệu nhà trường và cán bộ thư viện cần trang bị đầy đủ 100% các tác phẩm văn xuôi đổi mới nguyên bản, định kỳ tổ chức các buổi giới thiệu sách chuyên đề. Đặt chỉ tiêu ít nhất 75% học sinh đọc trọn vẹn tác phẩm gốc ngoài phần trích đoạn sách giáo khoa trong vòng 6 tháng kể từ khi phát động.
  4. Tổ chức tập huấn chuyên đề đổi mới phương pháp giảng dạy tác phẩm tự sự: Sở Giáo dục và Đào tạo cùng các trường đại học sư phạm cần định kỳ tổ chức 2 đợt sinh hoạt chuyên môn chuyên sâu mỗi năm học, giúp 100% giáo viên nắm vững kỹ năng tích hợp lý thuyết thi pháp vào thiết kế giáo án thực nghiệm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang tính ứng dụng sư phạm cao, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Giáo viên Ngữ văn bậc THCS và THPT: Sử dụng trực tiếp khung quy trình 3 bước và hệ thống giáo án thực nghiệm mẫu (như bài Chiếc thuyền ngoài xa, Bến quê) để nâng cao chất lượng giờ dạy đọc hiểu văn bản tự sự trên lớp.
  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Văn: Tham khảo hệ thống cơ sở lý luận thi pháp học, phương pháp luận nghiên cứu sư phạm và các công cụ khảo sát thực tiễn để phục vụ việc thực hiện khóa luận, luận văn tốt nghiệp.
  • Cán bộ quản lý giáo dục và chuyên gia biên soạn chương trình: Tiếp cận các số liệu khảo sát thực tế và đề xuất phương pháp để định hướng biên soạn sách giáo khoa, thiết kế tài liệu hướng dẫn giảng dạy theo Chương trình Giáo dục phổ thông mới.
  • Học sinh lớp 9 và lớp 12: Nắm bắt phương pháp giải mã tác phẩm truyện đổi mới theo đặc trưng thể loại, rèn luyện tư duy phân tích đa chiều để tự tin đạt điểm 8.0 trở lên trong các kỳ thi học sinh giỏi và kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vì sao dạy học truyện thời kỳ đổi mới bắt buộc phải tiếp cận theo đặc trưng thể loại? Bởi vì truyện đổi mới từ sau năm 1986 có sự chuyển biến sâu sắc về cấu trúc thi pháp nghệ thuật. Nếu không tiếp cận qua cốt truyện, nhân vật và điểm nhìn trần thuật, học sinh sẽ chỉ dừng lại ở việc tóm tắt nội dung sự kiện bề nổi mà không thể giải mã được các thông điệp triết lý thế sự phức tạp của tác giả.

  2. Khảo sát thực tế 35 học sinh tại Thái Nguyên cho thấy rào cản lớn nhất khi tiếp cận truyện đổi mới là gì? Rào cản lớn nhất là 100% học sinh khảo sát chỉ được đọc trích đoạn trong sách giáo khoa do thư viện thiếu đầu sách nguyên bản. Đồng thời, học sinh còn thiếu trải nghiệm sống thực tế để đồng cảm ngay với các tình huống nghịch lý nhân sinh như trong tác phẩm Bến quê hay Chiếc thuyền ngoài xa.

  3. Quy trình dạy học 3 bước do tác giả đề xuất được triển khai cụ thể như thế nào? Quy trình được thực hiện tuần tự qua 3 thành tố: Phân tích nghệ thuật xây dựng cốt truyện để thấy bức tranh hiện thực; Giải mã nghệ thuật miêu tả nhân vật để thấy tư tưởng nhà văn; Khám phá ngôi kể, lời kể để hiểu rõ giọng điệu trần thuật và thái độ của tác giả trước cuộc đời.

  4. Quan niệm về con người trong văn xuôi thời kỳ đổi mới có gì khác biệt so với giai đoạn 1945 - 1975? Nếu văn học 1945 - 1975 nhìn con người chủ yếu ở góc độ ý thức xã hội và phẩm chất anh hùng sử thi, thì văn xuôi sau năm 1986 nhìn nhận con người ở góc độ bản thể tự nhiên, đời tư - thế sự, thừa nhận tính phức tạp, đa chiều với cả mặt tốt lẫn mặt xấu cần được cảm thông.

  5. Luận văn có giá trị đóng góp như thế nào đối với việc đổi mới giáo dục môn Ngữ văn hiện nay? Luận văn đã cụ thể hóa lý thuyết thi pháp tự sự thành quy trình thực hành sư phạm rõ ràng, cung cấp giáo án mẫu bài Chiếc thuyền ngoài xa với kết quả thực nghiệm thuyết phục, tạo tiền đề vững chắc cho việc chuyển đổi phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về thi pháp truyện thời kỳ đổi mới trong mối quan hệ gắn kết chặt chẽ với bối cảnh xã hội và văn hóa từ sau năm 1986.
  • Đánh giá xác thực thực trạng dạy và học tại 2 trường trung học ở Thái Nguyên với mẫu khảo sát 35 học sinh, chỉ rõ 80% học sinh yêu thích tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa nhưng còn hạn chế về nguồn ngữ liệu đọc trọn vẹn.
  • Đề xuất quy trình sư phạm chuẩn hóa 3 bước (Cốt truyện – Nhân vật – Lời kể) giúp giáo viên và học sinh giải mã trọn vẹn giá trị tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm văn xuôi hiện đại.
  • Thiết kế thành công giáo án thực nghiệm sư phạm bài học Chiếc thuyền ngoài xa ở lớp 12, chứng minh tính khả thi và hiệu quả vượt trội của mô hình dạy học theo thể loại.
  • Khẳng định vai trò tiên phong của các tác gia tiêu biểu như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng trong tiến trình hiện đại hóa nền văn xuôi dân tộc.

Đóng góp lớn nhất của công trình là gạch nối vững chắc giữa lý luận thi pháp học hiện đại và thực tiễn giảng dạy sinh động trong nhà trường phổ thông. Trong giai đoạn tiếp theo của năm học, các nhà trường cần tiếp tục mở rộng quy mô thực nghiệm sư phạm trên 100% các lớp khối 12. Quý thầy cô giáo, các nhà nghiên cứu và các bạn học sinh hãy áp dụng ngay phương pháp tiếp cận thể loại của luận văn để nâng tầm trải nghiệm đọc hiểu văn chương và tối ưu hóa kết quả dạy học môn Ngữ văn.