Giáo trình Lí luận văn học 2 (Tác phẩm và loại thể văn học) – Trường Đại học Tây Đô

Tổng quan về giáo trình

Giáo trình Lí luận văn học 2 (Tác phẩm và loại thể văn học) do ThS. Phan Văn Tiến và TS. Nguyễn Thị Hồng Hạnh biên soạn, Trường Đại học Tây Đô ấn hành tại Cần Thơ năm 2015. Tài liệu phục vụ chương trình đào tạo cử nhân ngành Văn học của Trường Đại học Tây Đô, thuộc khối kiến thức lí luận văn học ở bậc đại học.

Về vị trí trong chương trình, giáo trình được xác định rõ trong Lời nói đầu là phần tiếp nối Lí luận văn học 1 (Nguyên lí tổng quát). Nếu học phần thứ nhất cung cấp kiến thức về "bản chất, quy luật vận động và phát triển của văn học", thì học phần thứ hai chuyển trọng tâm sang hai đối tượng: tác phẩm văn học với các yếu tố cấu thành (khái niệm tác phẩm, đề tài, chủ đề, tư tưởng, nhân vật, cốt truyện, kết cấu, lời văn nghệ thuật) và hệ thống loại thể (tự sự, trữ tình, kịch, kí, chính luận).

Mục tiêu học tập được nhóm biên soạn phát biểu theo hướng công cụ: giúp sinh viên "nắm vững và vận dụng tốt những kiến thức cơ bản đã được trang bị vào thực tiễn đời sống văn học". Kết quả học tập kì vọng vì thế gồm hai lớp — nắm hệ thống khái niệm (đề tài, chủ đề, tư tưởng, cảm hứng tư tưởng, tình điệu thẩm mĩ, tính chỉnh thể, tính cách điển hình…) và vận dụng chúng để phân tích một văn bản nghệ thuật cụ thể.

Cấu trúc gồm hai phần lớn với 11 chương: Phần thứ nhất "Tác phẩm văn học và các yếu tố của chỉnh thể tác phẩm" (chương 1–5), Phần thứ hai "Loại thể tác phẩm văn học" (chương 6–11), kết thúc bằng danh mục tài liệu tham khảo. Mỗi chương khép lại bằng mục Câu hỏi ôn tập.

Điểm đặc thù được chính nhóm tác giả nêu: giáo trình biên soạn "theo quan điểm của những giáo trình, công trình do Lê Bá Hán, Hà Minh Đức, Phương Lựu, Lê Ngọc Trà, Trần Đình Sử, Lê Lưu Oanh, Phạm Đăng Dư, Lê Tiến Dũng, Trần Mạnh Tiến" và được "biên soạn lại cho phù hợp với chương trình đào tạo cử nhân ngành Văn học của Trường Đại học Tây Đô". Nhóm tác giả cũng tự giới hạn phạm vi: do "khuôn khổ có hạn", tài liệu "chỉ tập trung vào một số vấn đề có tầm bao quát nhất, mang tính chất dẫn luận", và khuyến nghị sinh viên đọc thêm công trình nghiên cứu, tạp chí chuyên ngành.

Nội dung kiến thức cốt lõi

Các chương và chủ đề chính

Chương 1 – Khái quát về tác phẩm văn học. Chương mở đầu xác lập tác phẩm là "tế bào của đời sống văn học", đồng thời là "chỉnh thể trung tâm". Sách dẫn quan niệm của Lê Lưu Oanh ("Tác phẩm văn học là đơn vị sáng tác của nhà văn, là đối tượng thưởng thức của người đọc…") và Trần Đình Sử ("vừa là kết quả của hoạt động sáng tác của nhà văn, vừa là cơ sở và đối tượng hoạt động thưởng thức của người đọc"). Bốn yếu tố vận động của một nền văn học được nêu: thời đại – nhà văn – tác phẩm – người đọc. Chương trình bày cấu trúc chỉnh thể tác phẩm theo bốn cấp độ: cấp độ ngôn từ, cấp độ hình tượng, cấp độ kết cấu, cấp độ chỉnh thể. Quan hệ nội dung – hình thức được luận giải qua các trích dẫn Hêghen, Biêlinxki ("nếu hủy diệt hình thức thì cũng có nghĩa là hủy diệt tư tưởng"), Lêônốp ("một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung"). Hình thức được phân thành hai cấp độ: hình thức cảm tính (ẩn dụ, so sánh, trùng điệp) và hình thức quan niệm.

Chương 2 – Đề tài, chủ đề, tư tưởng và ý nghĩa. Chương phân biệt đề tài (phạm vi hiện thực đã được nhận thức, lựa chọn) với đối tượng nhận thức nằm ngoài tác phẩm; nêu khái niệm đề tài trung tâm với dẫn chứng của Hà Minh Đức về "Tổ quốc và Chủ nghĩa xã hội" trong văn học Việt Nam sau 1945. Chủ đề được phân thành chủ đề chính và chủ đề phụ, minh họa bằng Tắt đènTruyện Kiều. Tiếp đó là các mục: sự lí giải chủ đề, cảm hứng tư tưởng, tình điệu thẩm mĩ, và ý nghĩa của tác phẩm trong tiếp nhận qua các thế hệ.

Chương 3 – Nhân vật. Chương xây dựng bốn hệ phân loại song song, kèm bốn biện pháp xây dựng nhân vật (ngoại hình, nội tâm, ngôn ngữ, hành động).

Chương 4 – Cốt truyện và kết cấu. Phân biệt cốt truyện với sườn truyện; phân chia cốt truyện đơn tuyến (Chí Phèo, Một bữa no, Rừng xà nu) và cốt truyện đa tuyến (Chiến tranh và hòa bình, Anna Karênina); trình bày một số hình thức kết cấu.

Chương 5 – Lời văn nghệ thuật, gồm bốn mục: lời văn như một hiện tượng nghệ thuật, đặc trưng của lời văn nghệ thuật, các phương tiện xây dựng, các thành phần của lời văn.

Chương 6 – Khái quát về loại thể, đặt nền cho phần hai với các mục: khái niệm loại thể, sự phân loại, tiêu chí phân chia thể loại, ý nghĩa của thể loại.

Chương 7 đến 11 triển khai năm loại thể: tác phẩm trữ tình (đặc trưng, phân loại thơ trữ tình, tổ chức bài thơ trữ tình), tác phẩm tự sự (đặc trưng, một số thể loại tự sự cơ bản), kịch bản văn học (đặc trưng, phân loại kịch), kí văn học (đặc trưng, một số thể loại kí), tác phẩm chính luận (đặc trưng cơ bản, các phẩm chất cơ bản của văn chính luận).

Lôgic tiến trình đi từ chỉnh thể tác phẩm nói chung → các yếu tố nội dung → các yếu tố hình tượng và hình thức → hệ thống loại thể; nghĩa là từ cái phổ quát đến cái đặc thù thể loại.

Kiến thức nền tảng

Nền lí thuyết của giáo trình là lí luận văn học Mácxít, được nêu trực tiếp: "Lí luận văn học Mácxít đang cố gắng tìm hiểu một cấu trúc tác phẩm phản ánh đúng bản chất và đặc trưng của nó." Từ đó hình thành ba nguyên lí xuyên suốt:

  • Nguyên lí chỉnh thể: "Chỉnh thể là sự liên kết siêu tổng cộng để tạo ra nội dung mới, chức năng mới vốn không có trong các yếu tố khi tách rời ra", minh họa bằng câu tục ngữ "Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng".
  • Nguyên lí thống nhất nội dung – hình thức: nội dung quyết định hình thức, hình thức phù hợp nội dung; sách đồng thời cảnh báo hai lệch chuẩn là "chủ nghĩa sơ lược" (hình thức non yếu) và "chủ nghĩa hình thức" (nội dung trống rỗng).
  • Nguyên lí phản ánh gắn với chủ thể: nội dung tác phẩm là "cuộc sống đã được ý thức, lí giải, đánh giá và tái hiện", không đồng nhất với hiện thực được miêu tả — sách nêu ví dụ phản biện: nội dung Tắt đèn không phải là "nỗi bất hạnh của gia đình chị Dậu".

Các khung khái niệm cần nắm gồm: bốn cấp độ cấu trúc tác phẩm; hai cấp độ nội dung (nội dung cụ thể / nội dung tư tưởng); hai cấp độ hình thức; ba thành tố hình thức nghệ thuật xét từ bản chất ngôn từ (thể loại – kết cấu – phong cách ngôn từ); và các phạm trù mĩ học dùng để quy chiếu tình điệu thẩm mĩ (cái đẹp, cái hùng, cái cao cả, cái bi, cái hài).

Bảng phân loại nhân vật

Chương 3 cung cấp hệ thống phân loại chi tiết nhất trong sách:

  • Theo hệ tư tưởng, quan hệ với lí tưởng: nhân vật chính diện (chị Dậu, lão Hạc, Thứ) và nhân vật phản diện (Nghị Quế, Nghị Hách; cha con Võ Thể Loan, Bùi Kiệm, Trịnh Hâm trong Lục Vân Tiên), kèm lưu ý của Bakhtin rằng nhân vật tiểu thuyết hiện đại "thống nhất trong bản thân mình vừa các đặc điểm chính diện lẫn đặc điểm phản diện".
  • Theo kết cấu: nhân vật chính, nhân vật trung tâm, nhân vật phụ — ví dụ nhân vật thằng bán tơ trong Truyện Kiều, nhân vật Từ trong Đời thừa.
  • Theo thể loại: nhân vật trữ tình, nhân vật tự sự, nhân vật kịch.
  • Theo chất lượng miêu tả: nhân vật – tính cách – tính cách điển hình; minh họa bằng Chí Phèo, nơi chỉ Bá Kiến và Chí Phèo đạt tới điển hình.
  • Theo phương thức cấu trúc: nhân vật chức năng (ông Bụt, ông Tiên), nhân vật loại hình (Ácpagông trong Lão hà tiện, Táctuýp của Môlie), nhân vật tính cách (Anđrây Bôncônxki, Xcarlét, Hộ), nhân vật tư tưởng (Giăng Vangiăng, Giave, người điên trong Nhật kí người điên, nhân vật Độ trong Đôi mắt).

Kỹ năng được phát triển

Kỹ năng chuyên môn trọng tâm là phân tích văn bản nghệ thuật theo tính chỉnh thể — "muốn hiểu nội dung thật sự thì phải nắm nội dung qua hình thức, phải qua hình thức để tìm nội dung". Kỹ năng phân tích thể hiện ở các thao tác phân biệt cặp khái niệm dễ lẫn: đề tài / đối tượng nhận thức, chủ đề / tư tưởng, chủ đề chính / chủ đề phụ, cảm hứng tư tưởng / tình điệu thẩm mĩ, cốt truyện / sườn truyện, nhân vật / tính cách / tính cách điển hình. Kỹ năng thực hành gắn với việc nhận diện biện pháp xây dựng nhân vật trên ngữ liệu cụ thể và lí giải chủ đề dựa trên "lôgíc của miêu tả" chứ không chỉ dựa vào lời thuyết minh trực tiếp của tác giả.

Phương pháp giảng dạy và học tập

Cách tiếp cận của giáo trình là diễn giải khái niệm kết hợp trích dẫn học thuật và minh họa văn bản. Mỗi khái niệm thường được trình bày theo trình tự: nêu vấn đề → dẫn định nghĩa của một hoặc nhiều nhà nghiên cứu → phân tích ví dụ → chốt lại bằng một phát biểu khái quát. Chẳng hạn ở mục Chủ đề, sách lần lượt dẫn Lê Bá Hán, Gorki, rồi minh họa bằng Tắt đèn, Bước đường cùng, bài thơ Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến, hai bài thơ viết về Bác Hồ của Tố Hữu (Bác ơi!) và Chế Lan Viên (Người đi tìm hình của nước, 1960).

Hệ thống ngữ liệu minh họa được lấy từ ba nguồn: văn học Việt Nam (Truyện Kiều, Tắt đèn, Chí Phèo, Sống mòn, Đời thừa, Đôi mắt, Vợ nhặt, Số đỏ, Giông tố, Lục Vân Tiên, Tràng giang, Nỗi buồn chiến tranh, Bến không chồng, Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo), văn học nước ngoài (Iliát, Ôđixê, Prômêtê bị xiềng, Hămlét, Tam quốc diễn nghĩa, Đông Kisốt, Anna Karênina, Chiến tranh và hòa bình, Sống lại, Cuốn theo chiều gió, Lão hà tiện, AQ chính truyện) và văn học dân gian (truyện Cây khế, ca dao, tục ngữ).

Về bài tập, mỗi chương kết thúc bằng mục Câu hỏi ôn tập — theo Lời nói đầu, phần này "nhằm giúp sinh viên nắm vững và vận dụng tốt những kiến thức cơ bản". Các câu hỏi được thiết kế theo hai dạng. Dạng tái hiện khái niệm: "Tác phẩm văn học là gì?", "Đề tài của tác phẩm văn học là gì?", "Tình điệu thẩm mĩ là gì?". Dạng vận dụng yêu cầu sinh viên tự chọn ngữ liệu: "Cho ví dụ chủ đề của một tác phẩm mà anh, chị yêu thích", "Hãy phân tích biện pháp xây dựng nhân vật của một tác phẩm mà anh, chị yêu thích", "Tại sao phải nghiên cứu tác phẩm trong tính chỉnh thể của nó? Hãy phân tích và cho ví dụ cụ thể."

Về hướng dẫn tự học, nhóm biên soạn nêu rõ giới hạn của tài liệu: giáo trình "chỉ tập trung vào một số vấn đề có tầm bao quát nhất, mang tính chất dẫn luận"; "Muốn hiểu sâu sắc các vấn đề, sinh viên cần đọc thêm các tài liệu tham khảo khác, như các công trình nghiên cứu, các tạp chí chuyên ngành". Hệ thống chú thích chân trang ghi đầy đủ tác giả, năm, nhà xuất bản, số trang (ví dụ: Phương Lựu chủ biên, Lí luận văn học, Nxb. Giáo dục, 1997, tr.272; Trần Đình Sử – Phương Lựu – Nguyễn Xuân Nam, Lí luận văn học, tập 2, Nxb. Giáo dục, 1987) là chỉ dẫn trực tiếp cho việc mở rộng.

Điểm nổi bật và đặc điểm biên soạn

Giáo trình không tự nhận là công trình nghiên cứu độc lập mà là bản biên soạn lại có định hướng chương trình. Đặc điểm này được phát biểu minh bạch trong Lời nói đầu và thể hiện nhất quán trong văn bản: hầu hết luận điểm đều dẫn nguồn từ các giáo trình đã lưu hành, gồm Lí luận văn học tập 2 của Trần Đình Sử – Phương Lựu – Nguyễn Xuân Nam (1987), Lí luận văn học của Phương Lựu chủ biên (1997), Cơ sở lí luận văn học của Lê Bá Hán – Hà Minh Đức (1976), Từ điển thuật ngữ văn học (1997), Lí luận văn học của Hà Minh Đức (2003), Lí luận văn học của Lê Lưu Oanh – Phạm Đăng Dư (2008), và Lí luận văn học tập 2 do Trần Đình Sử chủ biên (2014).

Việc cập nhật thể hiện ở lớp tài liệu tham chiếu tương đối mới tại thời điểm biên soạn — bản Trần Đình Sử chủ biên năm 2014 được dẫn ngay ở chương mở đầu — và ở lớp ngữ liệu văn học sau Đổi mới. Sách dùng Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và Bến không chồng của Dương Hướng để minh họa tình điệu thẩm mĩ và cảm hứng tư tưởng, đồng thời đề cập việc đánh giá lại Tự lực văn đoàn và phong trào Thơ mới: các sáng tác "có thời kì bị lãng quên hoặc bị phủ định, thì đến thời kì đổi mới đã được đánh giá đúng những giá trị đáng ca ngợi và những hạn chế".

Vấn đề tiếp nhận được đặt xuyên suốt chứ không tách thành chương riêng. Sách khẳng định "Tiếp nhận là điều kiện chủ quan của tồn tại tác phẩm" và minh họa bằng lịch sử đọc Truyện Kiều: dưới thời phong kiến tác phẩm "chủ yếu được cảm nhận như một chuyện tình chung thủy đầy trắc trở", còn "ngày nay, chủ yếu nó được cảm nhận như truyện nói về quyền sống con người, số phận của phụ nữ, tố cáo chế độ phong kiến". Tính đa nghĩa được giải thích là bắt nguồn từ "tiềm năng dồi dào của nội dung tác phẩm", không phải từ "sự tùy tiện của độc giả".

Liên hệ với hoạt động nghề nghiệp được nêu ở mục về tầm quan trọng của tác phẩm: lịch sử văn học, phê bình văn học, lí luận văn học và giảng dạy văn học đều xuất phát từ việc phân tích tác phẩm; riêng với giảng văn, sách lưu ý "những nguyên tắc và phương pháp phân tích do lí luận đề xuất chỉ mới là chỗ dựa cần thiết cho giảng dạy chứ không thể thay thế cho việc tìm hiểu trực tiếp tác phẩm".

Đối tượng sử dụng giáo trình

Đối tượng chính là sinh viên hệ cử nhân ngành Văn học của Trường Đại học Tây Đô, theo đúng phát biểu của nhóm biên soạn về việc "biên soạn lại cho phù hợp với chương trình đào tạo cử nhân ngành Văn học". Do là học phần thứ hai trong chuỗi Lí luận văn học, tài liệu thường được bố trí sau khi sinh viên đã hoàn thành Lí luận văn học 1.

Điều kiện tiên quyết được xác định bởi chính quan hệ hai học phần: người học cần trước hết kiến thức về "bản chất, quy luật vận động và phát triển của văn học" từ Nguyên lí tổng quát. Ngoài ra, do sách sử dụng dày đặc ngữ liệu văn học Việt Nam và thế giới ở mức chỉ nhắc tên tác phẩm, nhân vật (Ácpagông, Táctuýp, Anđrây Bôncônxki, Pie Bêdukhôp, Giăng Vangiăng, Giave, AQ), người học cần vốn đọc tác phẩm tương ứng để theo được lập luận. Một số phạm trù triết học và mĩ học — quan hệ nội dung/hình thức, cái bi, cái hài, cái cao cả, khái niệm điển hình — cũng được dùng như kiến thức đã biết.

Với giảng viên, cấu trúc 11 chương chia thành hai phần cân đối cho phép phân bổ theo hai cụm bài giảng: yếu tố chỉnh thể tác phẩm và hệ thống loại thể. Mục Câu hỏi ôn tập cuối mỗi chương có thể dùng làm đề thảo luận hoặc đề kiểm tra, đặc biệt các câu mở yêu cầu sinh viên tự chọn tác phẩm phân tích.

Ngoài phạm vi lớp học, tài liệu có thể dùng làm sách tra cứu khái niệm cho sinh viên ngành Sư phạm Ngữ văn và người tự học, do mỗi thuật ngữ đều kèm định nghĩa quy chiếu nguồn và ví dụ. Tuy nhiên, cần lưu ý giới hạn mà nhóm tác giả tự đặt: tài liệu "mang tính chất dẫn luận", không thay thế các chuyên luận.

Câu hỏi thường gặp

1. Giáo trình này phù hợp với ai? Trước hết là sinh viên cử nhân ngành Văn học Trường Đại học Tây Đô đang học học phần Lí luận văn học 2. Ngoài ra, sinh viên các ngành Ngữ văn, Sư phạm Ngữ văn ở trường khác có thể dùng làm tài liệu tham khảo, vì nội dung được biên soạn trên nền các giáo trình "đã được sử dụng giảng dạy cho sinh viên ở nhiều trường đại học, cao đẳng trong cả nước".

2. Cần kiến thức nền nào để học? Cần kiến thức của Lí luận văn học 1 (Nguyên lí tổng quát) về bản chất và quy luật vận động của văn học. Bên cạnh đó là vốn đọc tác phẩm — giáo trình giả định người học đã biết Truyện Kiều, Tắt đèn, Chí Phèo, Số đỏ, Lục Vân Tiên, cũng như một số tác phẩm nước ngoài như Chiến tranh và hòa bình, Tam quốc diễn nghĩa, Hămlét.

3. Điểm khác biệt với giáo trình khác? Đây là bản biên soạn lại có chọn lọc, tổng hợp quan điểm của nhiều nhóm tác giả (Lê Bá Hán, Hà Minh Đức, Phương Lựu, Trần Đình Sử, Lê Lưu Oanh…) thay vì trình bày một hệ thống riêng, và được điều chỉnh cho chương trình đào tạo của một trường cụ thể. Phạm vi cũng hẹp hơn các bộ giáo trình gốc: sách chỉ giữ lại "một số vấn đề có tầm bao quát nhất, mang tính chất dẫn luận".

4. Làm sao để tự học hiệu quả? Có thể theo trình tự mà chính sách gợi ý: đọc lí thuyết từng mục, đối chiếu với các ví dụ đã có sẵn trong văn bản, rồi trả lời Câu hỏi ôn tập cuối chương — trong đó nhiều câu yêu cầu tự chọn tác phẩm để phân tích. Với các cặp khái niệm dễ nhầm (đề tài – chủ đề, chủ đề – tư tưởng, cảm hứng tư tưởng – tình điệu thẩm mĩ, cốt truyện – sườn truyện), nên lập bảng đối chiếu dựa trên các đoạn phân biệt mà sách trình bày trực tiếp.

5. Có tài liệu bổ trợ nào kèm theo? Sách có mục Tài liệu tham khảo ở cuối (trang 157) và hệ thống chú thích chân trang ghi rõ xuất xứ từng trích dẫn, gồm các đầu sách như Cơ sở lí luận văn học (Lê Bá Hán – Hà Minh Đức, 1976), Lí luận văn học tập 2 (1987), Lí luận văn học (Phương Lựu chủ biên, 1997), Từ điển thuật ngữ văn học (1997), Lí luận văn học (Hà Minh Đức, 2003; Lê Lưu Oanh – Phạm Đăng Dư, 2008; Trần Đình Sử chủ biên, 2014). Nhóm biên soạn khuyến nghị đọc thêm các công trình nghiên cứu và tạp chí chuyên ngành.

Kết luận

Giáo trình cung cấp một hệ thống khái niệm công cụ để đọc và phân tích tác phẩm văn học ở hai bình diện: cấu trúc chỉnh thể (ngôn từ – hình tượng – kết cấu – chỉnh thể) và đặc trưng loại thể (trữ tình, tự sự, kịch, kí, chính luận). Giá trị sử dụng nằm ở tính hệ thống của bộ thuật ngữ và ở việc mỗi khái niệm đều được neo vào ví dụ văn bản cụ thể.

Lộ trình học tập hợp lí đi theo đúng trật tự biên soạn: hoàn thành Lí luận văn học 1 → nắm chương 1 về tính chỉnh thể như khung quy chiếu → các chương 2–5 về yếu tố nội dung và hình thức → chương 6 về tiêu chí phân chia thể loại → các chương 7–11 vận dụng vào từng loại thể.

Do tài liệu tự xác định là dẫn luận, việc mở rộng nên dựa vào danh mục tài liệu tham khảo cuối sách và các chú thích chân trang, đặc biệt các bộ Lí luận văn học của Phương Lựu, Trần Đình Sử và Lê Lưu Oanh – Phạm Đăng Dư, cùng Từ điển thuật ngữ văn học để tra cứu khái niệm.