Khóa luận Trần Thị Hương Lan: Khảo sát thuốc điều trị tăng huyết áp Kiên Giang

Tải xuống luận văn tốt nghiệp năm 2022 của Hương Lan bản PDF cuối cùng. Tài liệu nghiên cứu chi tiết về đề tài khoa học đã được bảo vệ thành công.

Trường đại học

Trường Đại học Tây Đô

Chuyên ngành

Dược học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2022

71
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan khảo sát thuốc điều trị tăng huyết áp tại Kiên Giang

Tăng huyết áp là bệnh lý tim mạch phổ biến toàn cầu. Bệnh được mệnh danh kẻ giết người thầm lặng. Nếu không kiểm soát tốt, tăng huyết áp gây tổn thương nhiều cơ quan đích. Các cơ quan受影响 bao gồm tim, não, thận, mạch máu và mắt. Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang năm 2022. Mục tiêu nhằm đánh giá tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên bệnh nhân ngoại trú. Các nhóm thuốc chính được khảo sát gồm ức chế men chuyển, ức chế thụ thể, chẹn kênh canxi, lợi tiểu và chẹn beta. Dữ liệu thu thập từ hồ sơ bệnh án và đơn thuốc. Kết quả giúp đánh giá tính hợp lý trong kê đơn. Từ đó đưa ra khuyến cáo cải thiện chất lượng điều trị.

1.1. Tình hình bệnh tăng huyết áp tại Việt Nam

Tăng huyết áp chiếm tỷ lệ cao trong các bệnh không lây nhiễm. Tại Việt Nam, số người mắc tăng huyết áp ngày càng gia tăng. Nguyên nhân liên quan đến lối sống ít vận động và chế độ ăn nhiều muối. Bệnh thường không có triệu chứng rõ ràng ở giai đoạn đầu. Nhiều người phát hiện bệnh khi đã có biến chứng nặng. Biến chứng bao gồm đột quỵ, suy tim và suy thận. Việc phát hiện sớm và điều trị đúng cách rất quan trọng. Điều này giúp giảm tỷ lệ tử vong và tàn phế.

1.2. Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp. Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang được áp dụng. Đối tượng là bệnh nhân tăng huyết áp ngoại trú tại bệnh viện. Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án trong năm 2022. Các biến số nghiên cứu bao gồm loại thuốc, liều dùng và phác đồ. Thông tin về biến chứng và bệnh kèm theo cũng được ghi nhận. Quy trình nghiên cứu được thực hiện nghiêm ngặt và có hệ thống. Kết quả phân tích bằng phần mềm thống kê chuyên dụng.

II. Phân tích kết quả sử dụng thuốc tăng huyết áp tại Kiên Giang

Kết quả nghiên cứu cho thấy nhiều nhóm thuốc được sử dụng phổ biến. Nhóm ức chế men chuyển angiotensin chiếm tỷ lệ cao nhất. Tiếp theo là nhóm chẹn kênh canxi và nhóm ức chế thụ thể angiotensin. Nhóm lợi tiểu cũng được sử dụng khá phổ biến trong điều trị. Phối hợp thuốc hai nhóm được áp dụng cho nhiều bệnh nhân. Một số trường hợp cần phối hợp ba nhóm thuốc trở lên. Tỷ lệ bệnh nhân đạt mục tiêu huyết áp còn hạn chế. Bệnh nhân có nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch kèm theo. Rối loạn lipid máu chiếm tỷ lệ cao nhất trong các yếu tố nguy cơ. Tuổi cao và đái tháo đường cũng là yếu tố nguy cơ quan trọng. Tổn thương cơ quan đích phổ biến nhất là tim.

2.1. Tỷ lệ sử dụng các nhóm thuốc

2.2. Biến chứng và bệnh kèm theo

III. Đánh giá tính hợp lý trong kê đơn thuốc tăng huyết áp

Việc đánh giá tính hợp lý kê đơn dựa trên nhiều tiêu chí. Tiêu chí đầu tiên là sự phù hợp với hướng dẫn điều trị quốc gia. Tiêu chí thứ hai là hiệu quả kiểm soát huyết áp đạt mục tiêu. Tiêu chí thứ ba là tỷ lệ tác dụng không mong muốn xảy ra. Đa số bệnh nhân được kê đơn theo khuyến cáo chung. Tuy nhiên vẫn tồn tại một số bất hợp lý nhỏ. Một số trường hợp dùng liều chưa tối ưu. Việc theo dõi tác dụng phụ chưa được thực hiện đầy đủ. Cần cải thiện công tác giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân. Tuân thủ điều trị là yếu tố quyết định hiệu quả lâu dài.

3.1. Ưu điểm trong kê đơn hiện tại

3.2. Hạn chế cần cải thiện

IV. Kết luận và khuyến cáo từ khảo sát thuốc tăng huyết áp

Nghiên cứu cung cấp bức tranh toàn diện về sử dụng thuốc tăng huyết áp. Kết quả cho thấy việc kê đơn cơ bản phù hợp hướng dẫn quốc gia. Nhóm ức chế men chuyển angiotensin được sử dụng phổ biến nhất. Phối hợp thuốc giúp kiểm soát huyết áp tốt hơn cho nhiều bệnh nhân. Tuy nhiên tỷ lệ đạt mục tiêu huyết áp còn khiêm tốn. Bệnh nhân có nhiều yếu tố nguy cơ và biến chứng tim mạch. Rối loạn lipid máu là bệnh kèm theo thường gặp nhất. Cần tăng cường quản lý bệnh nhân toàn diện hơn. Giáo dục tuân thủ điều trị là giải pháp then chốt. Nghiên cứu này là cơ sở cho các can thiệp cải thiện chất lượng điều trị trong tương lai.

4.1. Khuyến cáo cho thực hành lâm sàng

4.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

28/05/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Bệnh tăng huyết áp là bệnh phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam, là mối đe dọa rất lớn đối với sức khoẻ của con người, là nguyên nhân gây tàn phế và tử vong hàng đầu ở người cao tuổi, ước tính có khoảng 1,28 tỷ, với 1/4 nam giới và 1/5 phụ nữ mắc bệnh này. Gánh nặng của tăng huyết áp được cảm nhận một cách không cân đối ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, nơi mà 2/3 số trường hợp được phát hiện, phần lớn là do các yếu tố nguy cơ gia tăng trong các nhóm dân số này trong những thập kỷ gần đây (WHO, 2021). Theo dự đoán, số mắc tăng huyết áp sẽ tăng lên 1,56 tỷ người vào năm 2025. Tỷ lệ hiện mắc của tăng huyết áp ở người trưởng thành khoảng 30 - 45%.

Tại Việt Nam, năm 2014, tỷ lệ tăng huyết áp chung trong toàn dân số là 22,2%. Theo thống kê của Hội tim mạch học Việt Nam tỷ lệ tăng huyết áp vào năm 2015 lên tới 47,3% (Nguyễn Lân Việt, 2016). Một trong những mục tiêu toàn cầu về các bệnh không lây nhiễm là giảm tỷ lệ tăng huyết áp xuống 33% từ năm 2010 đến năm 2030 (WHO, 2021). Tuy nhiên, trên thực tế nhiều người bị bệnh tăng huyết áp vẫn không được chẩn đoán kịp thời, do họ không thấy có triệu chứng gì đặc biệt nên vẫn tưởng là mình bình thường.

Một số bệnh nhân tuy đã được chẩn đoán là tăng huyết áp, nhưng vẫn không đi điều trị ngay, điều trị không liên tục hoặc là có điều trị rồi nhưng vẫn chưa đạt được trị số huyết áp mục tiêu. Bệnh THA được coi là “kẻ giết người thầm lặng" bởi bệnh không có những triệu chứng điển hình không phải lúc nào người mắc bệnh THA cũng thấy biểu hiện khó chịu cụ thể. Cần lưu ý rằng tăng huyết áp thường đi kèm những yếu tố nguy cơ tim mạch khác như đái tháo đường, rối loạn lipid máu và béo phì,. Những yếu tố nguy cơ này đã góp phần chi phối tiên lượng của bệnh nhân THA.

Đồng thời, THA đã có hay chưa có biến chứng trên các cơ quan đích cũng ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả điều trị trên bệnh nhân. Vì vậy, chiến lược điều trị THA hiện nay đòi hỏi vừa phải kiểm soát tối ưu con số huyết áp của bệnh nhân, vừa phải kiểm soát được các yếu tố nguy cơ tim mạch mà bệnh nhân đồng thời mắc phải. Hiện có rất nhiều thuốc để điều trị tăng huyết áp, để tối ưu phác đồ điều trị cần cân nhắc lựa chọn thuốc dựa vào các chỉ định bắt buộc hoặc ưu tiên của từng thuốc trong các tình huống cụ thể. Nhiều trường hợp cần phối hợp thuốc để tăng khả năng đạt huyết áp mục tiêu, giảm tác dụng phụ mong muốn và tăng tuân thủ điều trị của người bệnh (Hoàng Thị Kim Huyền và ctv.

Thời gian qua, số lượng bệnh nhân mắc bệnh tăng huyết áp đến khám ngoại trú tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang ngày càng tăng. Như vậy vấn đề lựa chọn thuốc điều trị tăng huyết áp như thế nào để tránh các tương tác thuốc có hại đảm bảo hợp lý an toàn hiệu quả luôn là thách thức không nhỏ đối với ngành y tế chung và bệnh viện Đa khoa Kiên Giang nói riêng. Do đó để góp phần vào việc nâng cao chất lượng điều 1 trị của bệnh viện đặc biệt là trên đối tượng bệnh nhân này, đề tài nghiên cứu “Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang” thực hiện với những mục tiêu chính như sau: 1. Khảo sát đặc điểm chung của bệnh nhân tăng huyết áp tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang từ 01/03/2022 đến 01/04/2022.

Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang từ 01/03/2022 đến 01/04/2022. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP 1. Định nghĩa Tăng huyết áp (THA), còn được gọi là huyết áp cao hoặc tăng cao, là tình trạng các mạch máu bị tăng áp lực liên tục.

Máu được đưa từ tim đến tất cả các bộ phận của cơ thể trong các mạch. Mỗi lần tim đập, nó sẽ bơm máu vào các mạch. Huyết áp được tạo ra bởi lực của máu đẩy vào thành mạch máu (động mạch) khi nó được tim bơm. Áp suất càng cao, tim càng phải bơm căng.

Tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg (Bộ Y tế, 2010). Tăng huyết áp là một bệnh mạn tính hết sức nguy hiểm vì tỷ lệ mắc bệnh cao, không có triệu chứng rõ rệt và kèm theo là các nguy cơ bệnh lý tim mạch, bệnh lý thận và các bệnh lý khác. Dịch tễ học Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ước tính có khoảng 1,28 tỷ, số người trưởng thành từ 30 - 79 tuổi bị tăng huyết áp đã tăng từ 650 triệu lên 1,28 tỷ trong 30 năm qua, hầu hết (2/3) sống ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. Ước tính có khoảng 46% người lớn bị tăng huyết áp không biết rằng họ mắc bệnh, ít hơn một nửa số người lớn (< 42%) bị tăng huyết áp được chẩn đoán và điều trị.

Khoảng 1/5 người lớn (21%) bị tăng huyết áp đã được kiểm soát (WHO, 2021). Tỷ lệ THA khác nhau giữa các vùng và các nhóm thu nhập của quốc gia. ới sự gia tăng chủ yếu ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. Khu vực Châu Phi của WHO có tỷ lệ tăng huyết áp cao nhất (27%) trong khi khu vực Châu Mỹ của WHO có tỷ lệ tăng huyết áp thấp nhất (18%).

Nguyên nhân có thể nằm ở việc tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người dân dễ dàng và thuận tiện hơn (WHO, 2021). Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc THA đang gia tăng một cách nhanh chóng, có khoảng 12 triệu người bị tăng huyết áp, tức là cứ trong 5 người trưởng thành thì có 1 người mắc. Theo Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế, ước tính mỗi năm toàn cầu có khoảng 17 triệu ca tử vong do các bệnh tim mạch, trong đó 9,4 triệu ca là do biến chứng của tăng huyết áp. Theo điều tra, trong 12 triệu người mắc tăng huyết áp hiện nay thì có tới gần 60% chưa được phát hiện và trên 80% chưa được điều trị.

Tăng huyết áp có nguyên nhân từ các hành vi nguy cơ như dinh dưỡng không hợp lý, thiếu hoạt động thể lực, hút thuốc và lạm dụng rượu bia. Năm 2020, trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Quảng Trị tổ chức điều tra trên 1200 người lớn cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp là 21,4% - tương đương với bình quân chung cả nước (Lê Thạnh, 2020). Tỷ lệ tăng huyết áp của người dân Nam Định khá cao chiếm 27,2%, đặc biệt mặc dù tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đến 56,78% 3 nhưng tỷ lệ điều trị không kiểm soát huyết áp còn cao (Huỳnh Văn Minh và ctv. Như vậy cả trên thế giới và ở Việt Nam, tăng huyết áp và các bệnh tim mạch có liên quan đang gia tăng nhanh chóng và là nguyên nhân gây ra gánh nặng bệnh tật và tử vong lớn nhất so với các nguyên nhân khác nên cần phải có các giải pháp can thiệp phù hợp và kịp thời.

Cơ chế sinh bệnh Huyết áp là áp lực máu tác động lên thành mạch nhằm đưa máu đến nuôi dưỡng các mô trong cơ thể (WHO, 2013). Áp lực này do hai yếu tố quyết định là sức đẩy của cơ tim và sự co bóp đàn hồi của thành mạch. Huyết áp phụ thuộc vào cung lượng tim và sức cản ngoại vi (Trường Đại học Dược Hà Nội, 2007). Huyết áp động mạch được tính theo công thức: Huyết áp = Cung lượng tim x Sức cản ngoại vi Như vậy nếu một trong hai hoặc cả hai yếu tố sẽ làm cho huyết áp tăng cao.

Cung lượng tim phụ thuộc vào nhịp tim và thể tích thất trái. Sức cản ngoại vi có sự đóng góp của các yếu tố sau: * Cơ chế thể dịch Một số bất thường thể dịch liên quan đến hệ renin-angiotensin-aldosteron (RAA) hormon, bài tiết natri và tăng insulin huyết có thể liên quan đến sự phát triển của THA nguyên phát. Vai trò của hệ renin-angiotensin-aldosteron (RAA) RAA: Là hệ nội sinh phức tạp liên quan đến những thành phần điều hòa huyết áp động mạch. RAA điều hòa natri, kali và thể tích máu.

Renin là một enzym hiện diện trong tiểu động mạch đến của thận, được điều hòa bởi yếu tố bên trong thận (áp lực tưới máu thận, các catecholamin, angiotensin II), và yếu tố bên ngoài thận (natri, clo và kali). Renin chuyển angiotensinogen thành angiotensin I. Sau đó angiotensin I chuyển thành angiotensin II bởi angiotensin-converting enzym (ACE). Sau khi gắn vào thụ thể chuyên biệt (được phân loại là AT1 hoặc AT2 receptor).

Angiotensin II gây hiệu quả sinh học ở một số mô. Thụ thể AT1 hiện diện trong não, thận, cơ tim, mạch máu ngoại biên và tuyến thượng thận (Bùi Tùng Hiệp, 2018). Cơ chế làm tăng huyết áp của Hệ renin-angiotensin-aldosteron và sự điều hòa huyết áp được mô tả theo hình 1. 4 ANGIOTENSINOGEN Resin ANGIOTENSIN I Men chuyển ANGIOTENSIN II Vỏ thượng Thận Ruột Hệ Hệ Cơ trơn Tim thận TKTW TKNB mạch máu Tiết ra giao cảm ↑TH ↑Co Aldosteron Co bóp Vasopressinn mạch ↑Tái HT ↑Tổng sức ↑Thể cản ngoại ↑Cung Na/H2O tích máu biên lượng tim Tăng huyết áp Hình TỔNG QUAN TÀI LIỆU.

Hệ renin-angiotensin-aldosteron và sự điều hòa huyết áp Chú thích: TKTW: Thần kinh trung ương, TKNB: Thần kinh ngoại biên, TH: Tổng hợp, TT: Thượng thận, HT: Hấp thu. (Nguồn: Bùi Tùng Hiêp, 2018) * Giảm Kallikrein: Kallikrein là chất tạo ra prostaglandin gây giãn mạch; giảm kallikrein gây tăng huyết áp. * Điện giải: Natri (Na+): Bệnh lý của bơm Na +/ K+ hoặc tình trạng tăng tính thấm của Na + qua vách tế bào thành mạch có thể gây tăng huyết áp và tăng cảm thụ với kích thích của thần kinh giao cảm (Trường Đại học Dược Hà Nội, 2007). *Thành mạch: Tuổi cao có xơ cứng thành động mạch gây tăng sức cản ngoại vi chính là một trong những tác nhân gây tăng huyết áp (Trường Đại học Dược Hà Nội, 2007).

*Cơ chế thần kinh Gồm 4 thành phần chính là sợi thần kinh tự trị, thụ thể adrenergic, hệ thống 5 phản xạ baroreceptor, hệ thần kinh trung ương. Hệ thống phản xạ baroreceptor là cơ chế chính phản hồi âm tính, kiểm soát hoạt động giao cảm. Baroreceptor nằm chủ yếu ở động mạch cảnh và cung động mạch chủ, có nhiệm vụ điều hòa huyết áp. Kích thích baroreceptor sẽ tạo xung thần kinh đi vào trung tâm vận mạch.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ