MỞ ĐẦU Bệnh sốt rét được xác định do muỗi Anopheles truyền. Theo thống kê trên thế giới đã phát hiện được 465 loài muỗi Anopheles, trong đó có 41 loài là véc tơ chính truyền bệnh sốt rét, và nhiều véc tơ phụ muỗi đốt mồi chủ yếu vào ban đêm, lúc sáng sớm và lúc mặt trời lặn [1]. Tại Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về thành phần loài muỗi Anopheles từ những năm đầu thế kỷ 20, đến năm 2011 phát hiện được 63 loài Anopheles, trong đó có 3 véc tơ chính truyền sốt rét là An. minimus và các véc tơ phụ là An.
Sử dụng hóa chất diệt côn trùng phun tồn lưu trong nhà hoặc tẩm màn là biện pháp phòng chống véc tơ sốt rét hiệu quả làm giảm tỷ lệ mắc và chết do bệnh sốt rét gây ra. Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới phòng chống véc tơ sốt rét chủ yếu dựa vào hóa chất diệt côn trùng. Tuy nhiên, sau nhiều năm sử dụng véc tơ sốt rét kháng hóa chất diệt côn trùng ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới và Việt Nam. Muỗi Anopheles kháng hóa chất làm giảm đáng kể hiệu quả phòng chống véc tơ.
Đây là một thách thức lớn của chương trình phòng chống và loại trừ sốt rét. Ở Việt Nam, nhiều số liệu nghiên cứu về mức độ kháng hóa chất của các véc tơ sốt rét đã được công bố. Tuy nhiên, những số liệu này nằm rải rác trong các nghiên cứu cụ thể, chưa được cập nhật một cách hệ thống trên toàn quốc, do vậy cần phải được tổng hợp lại trên bản đồ để có bức tranh chung về mức độ kháng hóa chất của véc tơ góp phần làm cơ sở cho việc lựa chọn các biện pháp phòng chống véc tơ trong giai đoạn hiện nay hiệu quả hơn. Từ những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu mức độ kháng hóa chất diệt côn trùng của các véc tơ sốt rét tại Việt Nam, giai đoạn 2013 - 2018”.
Xác định mức độ kháng hóa chất diệt côn trùng của véc tơ sốt rét tại Việt Nam, giai đoạn 2013 - 2018. Xây dựng bản đồ kháng hóa chất của các véc tơ sốt rét tại Việt Nam, giai đoạn 2013 - 2018. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. PHÂN BỐ VÉC TƠ SỐT RÉT 1.
Phân bố véc tơ sốt rét trên thế giới Reinert (2010) đã thống kê trên toàn thế giới có 3.528 loài muỗi Anopheles thuộc họ muỗi Culicidae Meigen 1818, họ muỗi này chia thành 2 phân họ là Culicinae Meigen 1818 và Anophelinae Grassi 1900. Phân họ Anophelinae chia thành 3 giống là Anopheles Meigen 1818, Bironella Theobald 1905, Chagasia Cruz 1906. Các loài muỗi có khả năng truyền bệnh sốt rét gọi là véc tơ sốt rét đều thuộc giống Anopheles [3]. Ở các vùng địa lý khác nhau có những loài muỗi truyền bệnh sốt rét khác nhau.
Ở châu Phi véc tơ chính truyền sốt rét là An. nili; Ở Châu Mỹ có An. pseudopunctipennis, An quadrimaculatus; Ở Châu Âu có An. superpictus; Ở Châu Á có An.
Bên cạnh các véc tơ sốt rét chính còn nhiều véc tơ phụ đóng vai trò thứ yếu truyền sốt rét. Mỗi véc tơ có vùng phân bố nhất định và đóng vai trò truyền bệnh trong khu vực nào đó. Trong cùng một vùng địa lý có thể có một vài véc tơ chính cùng với một vài véc tơ phụ. Vai trò chính hay phụ có thể thay đổi theo thời gian, khu vực địa lý.
Sự có mặt của các véc tơ chính và phụ là yếu tố quyết định có lan truyền sốt rét hay không. Trên thực tế một số loài muỗi chỉ đóng vai trò véc tơ chính trong điều kiện môi trường sinh thái nhất định chẳng hạn như ở Ấn Độ có khoảng 58 loài muỗi Anopheles trong đó loài An. culicifacies giữ vai trò véc tơ chính truyền bệnh sốt rét trên hầu khắp đất nước này, còn một số loài khác như An. minimus và An.
sundaicus cũng giữ vai trò chính nhưng ở những vùng sinh thái khác nhau [5]. Một số loài muỗi Anopheles có phân bố rộng nhưng chỉ được coi là véc tơ sốt rét ở một số vùng nhất định. Chẳng hạn loài An. culicifacies có phân bố rộng từ Ấn Độ, Pakistan, Banglades… đến Lào, Việt Nam, nhưng chỉ ở Pakistan và Ấn Độ được coi là véc tơ sốt rét chính còn ở các nước khác lại không được coi là véc tơ.
Tương tự như vậy loài An. maculatus có phân bố rộng rãi ở các nước Đông Nam Á nhưng chỉ được xác định là véc tơ chính ở bán đảo Malaysia, một số địa phương ở Lào còn ở một số nước như Việt Nam, Thái Lan, Myanmar … chỉ được coi là véc tơ phụ [6], [7], [8]. Những nghiên cứu gần đây đã chứng minh cả An.culicifacies và An.maculatus đều là những phức hợp loài đồng hình và chỉ có một số loài nhất định trong các phức hợp này có vai trò truyền bệnh sốt rét ở một vùng cụ thể. Phân bố véc tơ sốt rét tại Việt Nam Ở Việt Nam (2011) đã xác định có 3 véc tơ sốt rét chính là An.
epiroticus và một số véc tơ sốt rét phụ là An. Có thể tóm tắt phân bố các véc tơ chính và véc tơ phụ truyền sốt rét theo các vùng địa lý ở Việt Nam như sau [2]: + Véc tơ chính truyền sốt rét: - Vùng rừng núi toàn quốc: An. minimus - Vùng rừng núi từ 20o vĩ Bắc trở vào Nam: An. dirus - Vùng ven biển nước lợ Nam Bộ: An.
epiroticus + Véc tơ phụ truyền sốt rét: - Vùng rừng núi toàn quốc: An. - Vùng ven biển: An. 5 Như vậy vùng miền núi phía Bắc chỉ có một véc tơ chính là An. minimus, vùng ven biển Nam bộ chỉ có một véc tơ chính là An.
epiroticus nhưng vùng rừng núi từ 20 vĩ độ Bắc trở vào Nam (bao gồm miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và một số đảo như Phú Quốc, Côn Đảo) có sự phối hợp truyền bệnh của hai véc tơ chính là An. minimus và An. Sự trùng vùng phân bố này đã góp phần gây khó khăn cho công tác phòng chống véc tơ bởi sinh thái của hai loài này có nhiều đặc điểm khác nhau cho nên phải áp dụng các biện pháp phù hợp cho từng loài. minimus truyền bệnh mạnh quanh năm, loài An.
dirus có một đỉnh phát triển rất cao vào cuối mùa mưa. Đây cũng là một trong những lý do khiến tình hình sốt rét những vùng này khó kiểm soát. Các loài muỗi Anopheles truyền bệnh sốt rét tại Việt Nam đã được tổng kết dựa trên những kết quả của nhiều công trình nghiên cứu. Bằng những kết quả mổ muỗi trực tiếp tìm thoa trùng trong tuyến nước bọt, kết quả gây nhiễm thực nghiệm hoặc kết quả thử phản ứng miễn dịch liên kết enzym (Enzyme Linked Immunosorbent Assay - ELISA), PCR (polymerase chain reaction; phản ứng chuỗi trùng hợp) các tác giả đã chứng minh được vai trò truyền bệnh của các véc tơ chính và phụ.
Các véc tơ chính thường có tỷ lệ nhiễm thoa trùng (Sporozoite) cao, nhất là ở nơi có bệnh sốt rét lưu hành nặng hay vùng đang xảy ra dịch. Một véc tơ chính có thể dần dần trở thành véc tơ phụ nếu như vai trò truyền bệnh bị hạn chế. Chẳng hạn loài An. subpictus ở Việt Nam từ năm 1936 Toumanof đã chứng minh là véc tơ truyền sốt rét chính ở ven biển Bắc Bộ, cho đến 1974 vẫn được coi là véc tơ chính bởi vai trò truyền bệnh sốt rét của chúng trong thời gian này [9], nhưng đến nay loài muỗi này chỉ được coi là véc tơ phụ khi tình hình sốt rét ở vùng này đã giảm quá thấp [10].
Các véc tơ sốt rét phụ có tỷ lệ nhiễm thoa trùng thấp hơn do đó phương pháp mổ trực tiếp tuyến nước bọt rất ít khi phát hiện được thoa trùng. Với các véc tơ này thường phát hiện bằng phương pháp ELISA với hàng ngàn mẫu thử. Hoặc kỹ thuật PCR cho phép xác định chính xác loài ký sinh trùng với mật độ thấp. 6 Sự có mặt của hai hay nhiều véc tơ ở cùng một vùng (trùng vùng phân bố) càng làm tăng nguy cơ lan truyền sốt rét cho vùng đó nhất là khi các véc tơ chính có vùng phân bố trùng nhau.
Ở vùng rừng núi Miền Trung, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ Việt Nam và một số vùng rừng núi các nước Đông Nam Á khác có sự phân bố của cả An. minimus và An. dirus là 2 véc tơ truyền sốt rét chính đã gây nhiều khó khăn cho công tác phòng chống sốt rét ở các vùng này. HÓA CHẤT SỬ DỤNG PHÒNG CHỐNG VÉC TƠ SỐT RÉT 1.
Nhóm hoá chất vô cơ Điển hình trong nhóm này là xanh Pari (Paris green) đây là một hợp chất thạch tín dùng rộng rãi từ những năm 1921 đến 1940 bằng cách thả xuống nước để diệt ấu trùng của một số loài côn trùng, đặc biệt là ấu trùng Anopheles có đặc tính kiếm ăn trên mặt nước. Hiện nay, các hoá chất nhóm vô cơ hầu như không được sử dụng [2]. Nhóm chlo hữu cơ Nhóm chlo hữu cơ là nhóm các bua hidro có liên kết với ít nhất một nguyên tử chlo. Điển hình là hoá chất dichloro-diphenyl-trichloethane (DDT).
Trong phòng chống véc tơ sốt rét, DDT chủ yếu sử dụng để phun tồn lưu trong nhà góp phần quan trong trong công cuộc thanh toán sốt rét trên Thế giới trong thế kỷ 20. Nhược điểm của các hoá chất này là có độc tính cao với người và động vật, tồn lưu lâu trong môi trường nên gây ô nhiễm môi trường, nhiều loài côn trùng đã kháng với DDT và một số hoá chất cùng nhóm. Vì vậy, các hoá chất nhóm này hiện nay rất ít được sử dụng, thậm chí nhiều nước cấm sử dụng DDT [2]. Nhóm phốt pho hữu cơ Nhóm phốt pho hữu cơ là tên chung cho những este của axít Phosphoric.
Nhóm này có các hoá chất Malathion, Fenitrothion, Diazinon, Dichlorodivinylphosphat, Pirimiphos-methyl, Fenthion, Temephos…Các hoá chất này có hiệu lực diệt côn trùng mạnh, nhanh, có một số hoá chất vừa có tác dụng diệt tiếp xúc vừa có tác dụng xông hơi. Hiệu lực diệt tồn lưu của các 7 hoá chất nhóm này ngắn (thường không quá 3 tháng). Nhóm hóa chất này được sử dụng nhiều để diệt côn trùng nông nghiệp [11]. Trong phòng chống véc tơ sốt rét đã có một số thử nghiệm, tuy nhiên nhóm này ít được cộng đồng chấp nhận do có mùi hôi khi phun trong nhà [2].
Nhóm carbamate Hiệu lực diệt côn trùng của carbarmat dựa trên khả năng ức chế acetylcholinesterase (AChE) trong hệ thần kinh và cũng có thể ức chế một số esterase khác [12]. Phổ diệt côn trùng của nhóm này tương đối rộng nên được sử dụng nhiều trong nông nghiệp.