CHƯƠNG 1: TONG QUAN VAN ĐỀ NGHIÊN COU VÀ KHU VC NGHIÊN cOU 1. Tổng quan về 6 nhiễm đất nông nghiệp. Tình hình 6 nhiễm đắt nông nghiệp trên thể giới Tổ chức Nông Lương liên hợp quốc (FAO) đã hoàn thành cuộc khảo sit đánh giá thực trang nguồn tài nguyên đất tiên quy mô toàn cầu. Két quả đánh giá được công bổ trong báo cáo ngày 27/11/2011.
Báo cáo cho biết: khoảng diện tích đất dai trên thể giới đã bị thoái hóa nghiêm trọng. [26] Cho đến nay, hầu hết diện tích đắt nông nghiệp đều đã được sử dụng với những. phương thie canh tic kiểu tuyển thống din tới việc xối môn đất đai và lãng phí nguồn tài nguyên nước, và khiến cho sản lượng lương thục trên những diện tích đắt này bị giảm dẫn Điều đó có nghĩa là để đáp ứng nhu cầu về lương thực của thể giới trong tương lai, việc áp dụng rộng rãi các biện pháp “thâm canh bén vững” trong sản xuất nông. nghiệp trên điện tích dắt canh tác hiện nay là sit cin thi, như đánh giá của FAO trong bản báo cáo "Tình trạng nguồn tài nguyên Đắt và Nước dành cho Lương thực.
và Nông nghiệp trên toàn thé giới” Do diện tích đất bị chiếm dụng để sản xuất nhiên liệu sinh học ngày cảng nhiễu, cùng với sự thay đổi khí hậu và các thôi quen canh tác lạc hậu. khiển cho các thống sản xuất lương thực quan trong có nguy cơ không thé đáp ứng được nhu cầu lương thực của con người trên toàn cầu vào năm 2050. Những hậu quả về đói nghèo. là không thé chấp nhận được.
Giờ đây chúng ta cin thực hiện những biện pháp để khắc phục tinh trạng nay. subi đổi về khí hậu cũng với các kỹ năng canh tác lạc hậu đã góp phần lâm giảm sản lượng của diện tch đất canh tác trên toàn thé giới sau những năm được hưởng lợi từ cuộc Cách mạng Xanh, khi năng suất cây trồng tăng vot nhờ các công, nghệ mối, thuốc trữ sâu và sự ra đôi của các giống cây trồng năng suất cao. Nhờ vào cuộc Cách mạng Xanh, trong khoảng từ năm 1961 đến năm 2009, dù diện tích đất tring trot trên toàn thể giới chỉ ting 12%, nhưng sản lượng lương thực trong giai doan này tăng tới 150%. Nhung cuộc khảo sát của Liên hợp quốc cũng phát hiện ra rằng tốc độ ting trưởng dang giảm din trong nhiễu lĩnh wwe và hiện chỉ bằng một nữa so với mức đỉnh điểm của cuộc Cách mạng Xanh.
Như ở khu vực Đông A, trong giai đoạn từ. 1961 đến 2006, năng suit nồng nghiệp hằng năm tăng với tỷ lệ 2.5%, nhưng ước, tính rong giai đoạn từ 2006 đến 2050 chỉ còn tốc độ ting trưởng đạt khoảng vaindim. Tuy nhiên, sản lượng nông nghiệp tại các khu vực như Trung Mỹ hay Âu dang gia tăng Theo báo cáo của FAO, có khoảng 25% diện tích đất đai trên toàn thể giới hiện đang bị “hoái ha nặng nd” với đất đai bị xôi môn, nguồn nước bị thoái hóa và hệ sinh thái bị biến mắt, Có khoảng 8% dign ích đất khác bị thoái hóa ở mức trung bình, 36% di được đánh giá là én định hoặc thoái hóa nhẹ, và chỉ có 10% Auge xếp hạng là “dang được cái thiện". Ngoài ra, những phần còn lạ trên bỀ mặt Trải đắt hoặc là đổi toe hoặc là những vùng bị ngập nước Bin báo cáo cũng cho biết nguồn nước trên khắp thé giới đang ngiy cing trở nên khan hiểm và bị nhiễm mặn, trong khi nguồn nước ngằm thi ngày cing bị 6 nhiễm do chit hải nông nghiệp và ác loại chất độc hại khác Để có thé dip ứng được nhu cầu về nước của toàn thé giới vào năm 2050, FAO cho rằng cần phái có các hệ thống thủy lợi hiệu quả hơn bởi hầu hết các hệ thống thủy lợi hiện có đều hoạt động đưới công suất của chúng Cơ quan nay cũng kêu gọi cần phải có những phương thức canh tác mới như kết hợp các hệ thing tưới tiêu và nuôi cá để đáp ứng các nhu cầu, cũng như tăng tổng mức đầu tư vào việc phát triển nông nghiệp Ước tính số.
nthiết để việc đầu tư cho nông nghiệp tối năm 2050: khoảng 1 nghin tỷ USD cho việc quản lý các hệ thống tưới tiêu tại các nước dang phát triển, và khoảng 160 tỷ USD dành cho việc bảo tồn dat dai và kiểm soát lũ lụt. [26] “Theo thống kê năm 2014 tir Bộ Bao vệ Môi trường và Bộ Tài nguyên đất Trung Quốc, 16,1% diện tích đất của toàn nước này đã bị ô nhiễm, trong số đó có19,4%6 là nông nghiệp, Năm 2013, Thứ trưng Bộ Đắt da và “Tài nguyên Trung Quốc Wang Shiyuan từng cảnh báo vige 3,24 triệu ha đắt nông nghiệp nước này đã bị ô nhiễm nặng đến mức không thé cho phép gieo tring cúc loại cây nông nghiệp. Tinh Quảng Đông cho hay 28% diện tích khu vực đồng bằng sông Châu Giang đã bị ảnh. hưởng bởi tình trạng ô nhiễm kim loại nặng.
Tai tinh Quảng Đông cũng phát hiện được hàm lượng cao chất độc cadmium trong gạo sản xuất từ tỉnh Hỗ Nam - trung tim sản xuất lúa gạo chủ lực của Trung Quốc. Con mới đây, học giả El abeth C.Eeonomy: lám đốc Nghiên cứu châu A tại Hội đồng quan h i ngoại (CFR), in chứng một nghiên cứu cho biết Trung Quốc đã sản xuất ra "ít nhất 12 triệu sao bị nhiễm kim loại nặng mỗi năm” tương đương với mức thiệt hại kinh tế hơn 3,2 ti USD. [27] Dit bị 6 nhiễm kim loại ning lâm xôi môn nền ting an toàn thục phẩm của dit nước và đang dần trở thành một mỗi nguy hiểm cho sức khỏe cộng ding. Hóa chất như Cadmium, nickel, thạch tim, chỉ, thủy ngân làm õ nhiễm đắt khi chúng xuất hiện trong nước dũng cho tưổi tiêu.
Theo tạp chí New Century của Caixin-nhà nghiên cứu khoa học thuộc viện Khoa học và các tổ chức khác của Trung Quốc đã bảo cáo v8 ô nhiễm Cadmium trong năm 2009. Họ lấy mẫu ở 100 cánh đồng lúa gần các mỏ quặng trên toàn tỉnh. răng 65% mẫu vượt qua giới hạn an toàn của Cadmium. Gạo bị ô nhiễm được đưa vio thi trường địa phương và quốc gia “Cadmium gây ảnh hưởng độc hại trên thận, xương và hệ hỗ hấp”.
Các kim loại năng được lọ từ các mỏ và nhà máy hoa chit ở Hồ Nam. Hồ Nam ngày cảng nhiễu các làng ung thư, điển hình Ling Shuangiao. Theo China Youth đưa tin có 26 người trong làng Shuangiao chết vì ngộ độc Cadmium, Mẫu đất cho thấy hàm lượng Cadmium vượt 300 lin mức cho phép và 509 người trên 2888 người dân làng nhiễm độc Cadmium. Tình hình 6 nhiễm đắt nông nghiệp ở Việt Nam Trong giai đoạn 10 năm (2001 - 2010), điện tích đất nông nghiệp có xu hướng.
giảm, Theo số liệu của Tổng cục Quản lý đắt, Bộ TN&MT, bình quân mỗi năm đắt nông nghiệp giảm gin 100 nghìn ha, đặc biệt năm 2007 giảm 120 nghìn ha. vi đó là sự gia tăng dân số ở Việt Nam trong những năm vira qua nhất là din số ở vùng nông thôn kim cho bình quân đất sản xuất rên đầu người ngiy cảng giảm mạnh. Năm 2000 trung bình điện tích đất nông nghiệp tinh trên đầu người là 680m, năm 2005: 630m”, năm 2011: 437m” [28]. Cùng với sự sụt giám trong điện tích bình quân đầu người là sự thu hep về quy mô sản xuất, theo Viện Chính sich vi Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn (1999), 70,36% hộ nông dân có diện tích canh tác khoảng 0,Sha; chỉ có 3,46% số hộ có diện tích canh tác lớn hơn 3ha.
Đến năm 2010, tỷ lệ hộ có diện tích đắt canh tác nhỏ hơn 0,3ha có giảm nhưng, không ding kẻ: cả nước tỷ lệ này vẫn là 67. Trong đó, ding bằng sông Hồng đạt ty lệ cao nhất với 94,464, miễn núi phía Bắc: 63,9% ‘Trung Bộ và Duyên hải miền Trung: 79,54%, Tây Nguyên: 24,08%. Đông Nam Bộ: 35,48%, đồng bằng. sông Cửu Long: 41,96%.
Theo Điều tra nông thôn của dự án DANIDA (Dy án *Nghiên cứu thủy tai do biến đỗi khí hậu và xây dưng hệ thống thông tin nhiều bên tham gia nhằm giảm thiểu tính dễ bị tồn thương ở Bắc Trung Bộ Việt Nam (CPIS)”) với bộ sổ liệu điều tra tiếp cận nguồn lực của hộ gia đình Việt Nam được tiến hành i tratrên địa bàn 12 tinh của Việt Nam trong khoảng thời gian từ thắng 7 - 9/2008 thắng 6- §/2010 tại 12 tinh cho thấy diện tích đất canh tác trung bình của một hộ nông dân là.8Sha, trung bình mỗi hộ cổ 4,7 mảnh đất khác nhau, tổng khoảng cách từ nơi ở đến ruộng của các hộ nông dân khoảng 4km Theo số liệu điều tra của Bộ TN&MT, năm 2011 Việt Nam vẫn còn 69% số hộ. sir đụng dt sản xuất có quy mô dưới 0 Sha; 34.7% số hộ có quy mô đưới 02ha Nhu vậy, có thé thấy dat sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam dang bị phân tán lớn, uy mô sản xuất nhỏ, số thửa canh tác nhiều, Theo Bộ NN&PTNT, hàng năm, nước ta sử dụng trung bình 15.000 tấn thuốc BVTV. Bình quân {ha gieo trồng sử dụng đến 04 - 0,5 kg thuốc BVTY. Sit dung không hợp lý, không tuân thủ theo đúng những quy định nghiém ngặt về quy.
trình sử dụng nên thuốc BVTV gây nhiều tác hại cho chính người sử dụng và người tiêu ding nông sản, thục phẩm có chia dư lượng thuốc BVTV, đồng thời ảnh hưởng đến môi trường sống. Cũng theo Tổng cục Môi trường (Bộ TN&MT), năm hoạt động nông nghiệp phát sinh khoảng 9.000 tin chat thải ông nghiệp nguy bại, chi yếu là thuốc BYTY, trong đó không ít loại thuốc có độ độc cao đã bị cảm sử dụng. Ngoài ra, cả. nước còn khoảng 50 tin thuốc BVTViền lưu tại bằng chục kho bai: 37.000 tắn hóa chit dùng rong nông nghiệp bị tịch thu đang được lưu giữ chờ xử lý.
Theo số liệu thing k từ năm 1985 đến nay, diện tích gieo trồng ở nước ta chỉ tăng 57.7% nhưng lượng phân bón hóa học sử dụng tang tới 51.7%, có khoảng 2/3 lượng phân bón hàng năm cây trồng chưa được sử dụng, gây lãng phí tiền bạc của nhân dân. Đặc biệt việc sử dụng phân bón không đúng kỹ thuật trong canh tắc nông nghiệp không những không mang lại hiệu quả mà ngược lại cỏn ảnh hưởng nghiêm. trong tới môi trường dit. Trong phản bón có trên 50% lượng đạm, 50% lượng kali và xdp xi 80% lượng lân dư thừa trực tiếp hay giản tiếp gây 6 nhiễm môi trường đắt, Các loại phân võ cơ thuộc nhóm chua sinh lý như IK:ŠO,.
KCI, super photphat còn tồn dư axit, đ làm chua đất, nghèo kiệt các cation kiểm và xuất hiện nhiều độc rong mỗi trường như ion AI, Fe", Mn?