ĐẶT VẤN ĐỀ. 1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU. TỔNG QUAN TÀI LIỆU. Một số khái niệm liên quan giữa tự kỳ thị và người nhiễm HIV.
Tình hình chung về dịch HIV/AIDS. Vấn đề kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS. Thực trạng kỳ thị và phân biệt đối xử với người sống chung với HIV. Một số yếu tố liên quan tới kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV.
Cơ sở pháp lý của chống kỳ thị liên quan đến nhiễm HIV/AIDS. Tự kỳ thị với người nhiễm HIV. Mối liên quan giữa kỳ thị, phân biệt đối xử và tự kỳ thị. Một số bộ công cụ đánh giá chỉ số tự kỳ thị.
Một số thông tin về địa bàn nghiên cứu. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Đối tượng nghiên cứu. Thời gian và địa điểm nghiên cứu.
Thiết kế nghiên cứu. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu. Phương pháp và công cụ thu thập thông tin. Biến số nghiên cứu.
Tiêu chuẩn đánh giá. Phương pháp phân tích số liệu. Đạo đức của nghiên cứu. Hạn chế nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU. Một số thông tin chung về người nhiễm HIV đang điều trị tại phòng khám ngoại trú huyện Đông Anh. Thực trạng tự kỳ thị ở người nhiễm HIV đang điều trị tại phòng khám ngoại trú huyện Đông Anh. Một số yếu tố liên quan đến mức độ tự kỳ thị ở người nhiễm HIV đang điều trị tại phòng khám ngoại trú huyện Đông Anh.
Một số thông tin chung về người nhiễm HIV đang điều trị tại phòng khám ngoại trú huyện Đông Anh. Thực trạng tự kỳ thị ở người nhiễm HIV đang điều trị tại phòng khám ngoại trú huyện Đông Anh. Một số yếu tố liên quan đến mức độ tự kỳ thị ở người nhiễm HIV đang điều trị tại phòng khám ngoại trú huyện Đông Anh. 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO.
78 Phụ lục 1: PHIẾU KHẢO SÁT ĐỐI TƯỢNG NHIỄM HIV ĐIỀU TRỊ TẠI OPC ĐÔNG ANH, HÀ NỘI NĂM 2017. 78 Phụ lục 2: BẢNG BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU. 85 Phụ lục 3: KINH PHÍ. 88 Phụ lục 4: KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU.
89 Phụ lục 5: BIÊN BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA CÁC KẾT LUẬN CỦA HỘI ĐỒNG SAU BẢO VỆ LUẬN VĂN/LUẬN ÁN. 91 iv DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT AIDS Acquired Immuno DeficiencySyndrome ARV Thuốc kháng vi-rút HIV CBYT Cán bộ y tế CSSK Chăm sóc sức khỏe ĐTNC Đối tượng nghiên cứu HIV Human Immuno-deficiency Virus KT-PBĐX Kỳ thị - Phân biệt đối xử MSM Nam có quan hệ tình dục với nam giới NTCMT Người tiêm chích ma túy (IDU) PBĐX Phân biệt đối xử PLHIV Người sống chung với HIV PNMD Phụ nữ mại dâm (FSW) OPC Phòng khám ngoại trú (PKNT) UNAIDS Chương trình phối hợp của Liên hợp quốc về HIV WHO Tổ chức Y tế Thế giới v DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 3. Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu. Thời gian kể từ khi phát hiện bệnh.
Tình trạng quan hệ tình dục tính đến thời điểm nghiên cứu. Tình trạng khuyết tật. Thành viên của các nhóm nguy cơ hiện tại và trước đây. Thu nhập trung bình hàng tháng của gia đình trong 12 tháng qua.
Tình trạng công khai thông tin nhiễm HIV của đối tượng với các nhóm xã hội khác (ngoài cán bộ y tế tại nơi điều trị). Những đối tượng xã hội nắm bắt được tình trạng nhiễm HIV của đối tượng nghiên cứu ngoài cán bộ y tế tại nơi điều trị (n=273). Cảm xúc tiêu cực mà người nhiễm HIV đã trải qua trong 12 tháng qua vì tình trạng nhiễm HIV (n=289). Hành vi của PLHIV trong 12 tháng qua vì tình trạng nhiễm HIV.
Những điều mà người nhiễm HIV lo sợ xảy ra với mình trong 12 tháng qua vì tình trạng nhiễm HIV. Tỷ lệ người nhiễm HIV tự kỳ thị trong nghiên cứu. Mức độ tự kỳ thị ở người nhiễm HIV (n=254). Mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân với mức độ tự kỳ thị trong 12 tháng qua.
Mối liên quan giữa các yếu tố hành vi nguy cơ với mức độ tự kỳ thị trong 12 tháng qua. Biểu hiện kỳ thị của gia đình và xã hội vì tình trạng nhiễm HIV. Đối tượng hành hung (n=20). Lý do bị kỳ thị và/hoặc bị phân biệt đối xử ngoài việc nhiễm HIV.
Mối liên quan giữa sự kỳ thị của gia đìnhvới mức độ tự kỳ thị ở người nhiễm HIV trong 12 tháng qua. Mối liên quan giữa sự kỳ thị của xã hội về các hoạt động cộng đồngvới mức độ tự kỳ thị ở người nhiễm HIV trong 12 tháng qua. Mối liên quan giữa sự kỳ thị của xã hội về giáo dụcvới mức độ tự kỳ thị ở người nhiễm HIV trong 12 tháng qua. Mối liên quan giữa sự kỳ thị của xã hội về việc làmvới mức độ tự kỳ thị ở người nhiễm HIV trong 12 tháng qua.
Mối liên quan giữa sự kỳ thị của xã hội về dịch vụ y tế với mức độ tự kỳ thị ở người nhiễm HIV trong 12 tháng qua. 54 vii TÓM TẮT NGHIÊN CỨU Trong khi kỳ thị và phân biệt đối xử đối với người nhiễm HIV/AIDS có thể giải quyết bằng nhiều rào cản pháp lý thì tự kỳ thị ngày càng được quan tâm vì sự khó khăn trong can thiệp. Theo Bộ Y tế, Hà Nội là 1 trong 5 tỉnh có số ca mắc tích lũy HIV nhiều nhất cả nước. Tại tuyến quận/huyện, phòng khám ngoại trú Đông Anh là nơi có số bệnh nhân đông nhất.
Trước yêu cầu bức thiết phải xác định thực trạng, các yếu tố liên quan nhằm giảm thiểu tình trạng tự kỳ thị, nghiên cứu “Thực trạng tự kỳ thị và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đang điều trị HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú huyện Đông Anh, Hà Nội năm 2017” được tiến hành. Nghiên cứu triển khai từ 11/2016 đến 09/2017, sử dụng phương pháp mô tả định lượng cắt ngang có phân tích. Bộ câu hỏi định lượng phỏng vấn trực tiếp 289 bệnh nhân nhiễm HIV đang điều trị tại phòng khám ngoại trú Đông Anh nhằm trả lời 2 mục tiêu của nghiên cứu: 1_Mô tả thực trạng tự kỳ thị của bệnh nhân đang điều trị HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú huyện Đông Anh, Hà Nội năm 2017; 2_Mô tả một số yếu tố liên quan đến tình trạng tự kỳ thị của nhóm bệnh nhân trên. Các kết quả chỉ ra, tỷ lệ người nhiễm HIV tự kỳ thị là 87,9%.
Trong đó, 18,9% đối tượng tự kỳ thị ở mức độ cao. Phần lớn đối tượng có ít nhất một trong số những cảm xúc, hành vi hoặc nỗi sợ hãi tiêu cực do nhiễm HIV mang lại. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng bước đầu chỉ ra sự kỳ thị của gia đình, cộng đồng, của các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, … là những yếu tố làm tăng tình trạng và mức độ tự kỳ thị. Ví dụ, những người bị quấy nhiễu/lạm dụng thân thể có nguy cơ tự kỳ thị ở mức độ cao gấp 5,29 lần những người chưa bao giờ bị như vậy.
Với những người có con cái bị đuổi hoặc ngăn cản đến trường, từng bị từ chối các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, từng bị từ chối các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục vì tình trạng nhiễm HIV nguy cơ này lần lượt cao gấp 8,06 lần, 6,69 lần và 3,26 lần. Tuy nhiên, như các nghiên cứu cắt ngang khác, nghiên cứu vẫn tồn tại những hạn chế như không có khả năng suy rộng, kết quả chỉ phản ánh thời điểm nghiên cứu, … Thời gian tới, ngoài việc huy động sự tham gia của toàn xã hội trong việc loại trừ tình trạng kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS, các cơ quan, ban ngành cũng cần tạo điều kiện, xây dựng chính sách hỗ trợ đặc thù về bảo hiểm y tế, vay vốn phát triển sản xuất, kinh doanh, đào tạo nghề, môi giới việc làm, v. để những người đang sống chung với HIV/AIDS có thể tự tin tham gia vào các hoạt động chung của toàn xã hội. Đặc biệt, gia đình cần tạo không khí đầm ấm, tình cảm, động viên người bệnh thực hiện tốt các quy định của pháp luật về phòng, chống lây truyền HIV/AIDS, giúp đỡ họ từ bỏ các tệ nạn xã hội để kéo dài thời gian khỏe mạnh.
1 ĐẶT VẤNĐỀ HIV/AIDS không còn là vấn đề xa lạ với nhân loại, nhưng vẫn là một vấn đề sức khỏe công cộng lớn của toàn cầu. Sau 35 năm từ khi được phát hiện vào năm 1981, HIV/AIDS lây lan nhanh chóng và trở thành một trong những đại dịch nguy hiểm nhất trong lịch sử loài người, đe dọa nhân loại từng giờ. Ước tính mỗi ngày có trên 6.800 người nhiễm HIV và trên 5.700 người tử vong vì AIDS. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, đến cuối năm 2015, toàn thế giới có 36,7 triệu người nhiễm HIV và 1,1 triệu người tử vong vì AIDS [50].
Mặc dù là quốc gia đầu tiên phát hiện bệnh nhưng hậu quả nặng nề mà HIV/AIDS để lại lại không xảy ra nghiêm trọng tại Mỹ mà rơi vào nhóm các nước nghèo, kém phát triển hoặc đang phát triển. Việt Nam nằm trong 12 quốc gia chiếm 90% số người sống chung với HIV và là nước có số người nhiễm HIV đứng thứ 5 trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương [1]. Tính đến 12/2015, cả nước có 227.154 người nhiễm HIV đang còn sống, 85.194 người nhiễm HIV đang ở giai đoạn AIDS và có trên 86.716 người nhiễm HIV đã tử vong [16]. Dù đã có nhiều nỗ lực phòng ngừa, tuy nhiên, hiện tại HIV vẫn là một thách thức lớn cho Việt Nam.
Đầu tư cho các hoạt động dự phòng HIV hướng tới các quần thể nguy cơ cao và độ bao phủ của các can thiệp giảm hại vẫn còn dưới mức kiểm soát được dịch, chưa đáp ứng hoàn toàn với nhu cầu của quần thể. Khoảng thiếu hụt giữa nhu cầu điều trị liệu pháp kháng retrovirus và độ bao phủ dịch vụ điều trị ngày càng tăng. Chưa kể tới những hình thái lây truyền mới và phức tạp hơn đã và đang xuất hiện [1]. Để cải thiện tình trạng trên, Việt Nam và các quốc gia hiện đang đầu tư nhiều nguồn lực trong công cuộc phòng, chống HIV/AIDS.
Trong tuyên bố chính trị của Liên hợp quốc năm 2016 đã khẳng định rằng toàn thế giới sẽ dồn tổng lực để kết thúc dịch AIDS vào năm 2030. Ba mục tiêu chung và 20 mục tiêu cụ thể đến năm 2020 đã được các nhà lãnh đạo thế giới cam kết thực hiện.