Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về giáo dục sức khỏe 1. Giáo dục sức khoẻ và vai trò của giáo dục sức khoẻ trong chăm sóc sức khoẻ con người Theo Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa: Sức khỏe (SK) là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật[35]. Sức khoẻ của con người do 4 yếu tố quyết định, đó là: Di truyền, môi trường sống, các yếu tố về dịch vụ chăm sóc sức khỏe và hành vi cá nhân.
Giáo dục sức khỏe là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch vào tình cảm và lý trí của con người nhằm làm thay đổi hành vi SK cá nhân và tập thể trong cộng đồng[13]. Theo tổ chức y tế thế giới thì bản chất của GDSK là người làm việc với người để giải quyết các vấn đề và nâng cao chất lượng cuộc sống. Việc truyền thông giúp trang bị cho mọi người những sự kiện, những tư tưởng và những thái độ mà họ cần có để đề ra những quyết định về tình trạng SK của mình[32]. GDSK là một ngành khoa học xã hội mà rút ra từ các ngành khoa học sinh học, môi trường, tâm lý, thể chất và y tế để tăng cường SK và ngăn ngừa bệnh tật, tàn tật và tử vong sớm thông qua các hoạt động thay đổi hành vi tự nguyện giáo dục định hướng.
GDSK là sự phát triển của cá nhân, nhóm, tổ chức, cộng đồng và các chiến lược mang tính hệ thống để nâng cao kiến thức sức khỏe, thái độ, kỹ năng và hành vi. Mục đích của GDSK là gây ảnh hưởng tích cực đến hành vi SK của cá nhân và cộng đồng cũng như điều kiện sống và làm việc có ảnh hưởng đến SK của họ. Trong cộng đồng, GDSK là một phần của CSSK, nó liên quan tới việc thúc đẩy những hành vi lành mạnh. Hành vi của một người có thể là nguyên nhân chính gây ra một vấn đề SK, nhưng cũng có thể là giải pháp chủ yếu.
Thông qua GDSK, chúng ta giúp mọi người hiểu rõ hành vi của họ và biết được những hành vi đó có ảnh hưởng như thế nào đến SK của họ, chúng ta động viên mọi người tự mình lựa chọn một cuộc sống lành mạnh, nhưng chúng ta không ép buộc họ thay đổi[32]. 5 GDSK là quá trình tác động nhằm thay đổi kiến thức, thái độ và thực hành của con người. Phát triển những thực hành lành mạnh theo ý muốn, mang lại tình trạng SK tốt nhất có thể được cho con người. GDSK cung cấp các kiến thức mới làm cho đối tượng được giáo dục hiểu biết rõ hơn các vấn đề SK bệnh tật, từ đó họ có thể nhận ra các vấn đề SK bệnh tật liên quan đến bản thân, gia đình, cộng đồng họ đang sinh sống, dẫn đến thay đổi tích cực giải quyết các vấn đề bệnh tật.
Trong bệnh viện GDSK là một trong những nhiệm vụ quan trọng của NVYT trong chăm sóc NB. Tất NVYT đều liên quan đến việc giúp đỡ mọi người nâng cao kiến thức và kỹ năng bảo vệ SK, NVYT phải thực hành việc GDSK trong công việc của mình. Người ĐD là một mắt xích quan trọng trong thực hành GDSK vì họ là người gần gũi NB nhiều nhất, chăm sóc họ trong suốt quá trình nằm viện đến khi ra viện. Bên cạnh đó, các bác sĩ lâm sàng.
Khi thăm khám, theo dõi điều trị cho NB cũng đồng thời tư vấn, hướng dẫn, cung cấp cho họ những kiến thức về bệnh tật mà họ đang mắc cũng như cách phòng chống, điều trị, tập luyện, chế độ ăn uống hợp lý để phòng bệnh, nâng cao sức khỏe[42]. GDSK thực sự là nhiệm vụ của bất cứ người nào tham gia vào các hoạt động y tế và phát triển cộng đồng[32]. Theo Tổ chức y tế thế giới năm 1977 thì GDSK là "Một hoạt động nhằm vào cá nhân để đưa đến việc thay đổi hành vi". Theo Taskforce on HE, YN 1976: “bao gồm những hoạt động nhằm thông tin, động viên và giúp đỡ quần chúng chấp nhận và duy trì những hành vi có lợi cho sức khỏe”.
L W Green, 1980 cho rằng: "là sự kết hợp toàn bộ các kinh nghiệm rèn luyện có kế hoạch nhằm thúc đẩy sự thích nghi một cách tự nguyện những hành vi dẫn tới sức khỏe”. Bộ Y tế năm 1993 đã nêu: “đây là một quá trình nhằm giúp nhân dân tự thay đổi những hành vi có hại cho SK để chấp nhận thực hiện những hành vi tăng cường SK”. Nhận thức rõ tầm quan trọng trong tư vấn GDSK của ĐD, tại điều 4 Thông tư 07/2011/TTBYT, đã nêu rõ nhiệm vụ chuyên môn chăm sóc NB của ĐD là: Tư vấn, hướng dẫn GDSK, chăm sóc về tinh thần, chăm sóc vệ sinh cá nhân, chăm sóc dinh dưỡng, chăm sóc phục hồi chức năng, chăm sóc NB có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật, dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho NB, chăm sóc NB giai đoạn hấp hối và NB tử vong, thực hiện các kỹ thuật ĐD, theo dõi, đánh giá NB, bảo đảm an toàn và phòng 6 ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc NB và ghi chép hồ sơ bệnh án[8]. Có thể nhận thấy rằng các quan điểm trên đều nhấn mạnh đến 3 lĩnh vực của GDSK đề cập đến là:Kiến thức của con người về sức khỏe, thái độ của con người về sức khỏe, thực hành của con người về sức khỏe.
Vai trò của giáo dục sức khỏe: GDSK được đánh giá là có vai trò vô cùng quan trọng trong công tác CSSKBĐ. Nhờ có GDSK mà tất cả mọi người dân trong cộng đồng đều có cơ hội tiếp cận với những thông tin, những kiến thức và dịch vụ CSSK cho họ. Việt Nam là một trong các nước đã tham dự và cam kết thực hiện các mục tiêu của Tuyên ngôn Alma-Ata về CSSKBĐ năm 1978. Năm 1980 Chính phủ chỉ đạo ngành y tế triển khai thực hiện Chiến lược chăm sóc sức khỏe ban đầu.
Dưới sự chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, với nguyên tắc cơ bản là đảm bảo phục vụ nhân dân tốt nhất và có hiệu quả cao, các cơ sở y tế trong ngành y tế của nước ta đã có khả năng đáp ứng được nhu cầu CSSK thiết yếu cho nhân dân[13]. GDSK là một bộ phận hữu cơ, không thể tách rời của hệ thống y tế, là một chức năng nghề nghiệp bắt buộc của mọi cán bộ y tế và của mọi cơ quan y tế từ trung ương đến cơ sở. Nó cũng là một chỉ tiêu hoạt động quan trọng của cơ sở y tế. GDSK nhằm giúp cho mọi người có kiến thức tối thiểu và cơ bản nhất để họ có thể tự phòng bệnh cho mình, cho gia đình, người thân và cho xã hội, để họ có thể xử trí đúng khi bị ốm đau, bệnh tật và để họ thay đổi những cách nghĩ và nếp sống có hại cho sức khoẻ.
Trong Báo cáo Y tế Việt Nam năm 2006 chương 21 nhấn mạnh đến vai trò của truyền thông giáo dục sức khỏe (TT-GDSK) được coi là một biện pháp dự phòng có chi phí thấp nhưng hiệu quả cao và bền vững, đồng thời cũng là giải pháp quan trọng trong thực hiện các chính sách lớn về y tế. Hoạt động TT-GDSK có vai trò quan trọng trong thực hiện một chủ trương quan trọng của ngành y tế là thực hiện xã hội hóa các hoạt động y tế, tạo ra chuyển biến rõ rệt về nhận thức, trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, đồng thời cung cấp thông tin, trang bị kiến thức và kỹ năng để mỗi người, mỗi gia đình mỗi cộng đồng có thể tham gia tích cực các hoạt động bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho cộng đồng[7]. 7 TT-GDSK là một quá trình cần được tiến hành thường xuyên, liên tục, lâu dài, kết hợp nhiều phương pháp. Hoạt động TT-GDSK không phải chỉ đơn thuần là phát đi các thông tin hay thông điệp về SK, hay cung cấp thật nhiều thông tin về SK cho mọi người, mà là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch vào con người nhằm thay đổi kiến thức, thái độ và cách thực hành của mỗi người nhằm nghiên cứu sức khỏe cho họ và cho cả cộng đồng.
Hoạt động TT-GDSK thực chất là tạo ra môi trường hỗ trợ cho quá trình thay đổi hành vi SK của mỗi người nhằm đạt được tình trạng SK tốt nhất có thể được[7]. Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23 tháng 02 năm 2005 của Bộ Chính trị đã khẳng định công tác thông tin, truyền thông, giáo dục sức khỏe là một trong những nhiệm vụ quan trọng và giải pháp chủ yếu để bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới[4]. Bản chất của quá trình giáo dục sức khỏe GSSK là quá trình cung cấp thông tin sức khỏe, trao đổi, tương tác với đối tượng đích nhằm làm tăng kiến thức, thay đổi niềm tin, thái độ về SK, thay đổi hành vi sức khỏe theo hướng tích cực, duy trì hành vi, lối sống, hình thành tói quen có lợi cho sức khỏe. GDSK chính là quá trình truyền thông trong đó người làm GDSK cung cấp, truyền tải thông tin GDKS đến đối tượng được GDSK và tiếp nhận thông tin phản hồi từ đối tượng đích để có điều chỉnh thích hợp[13].(sơ đồ l) GDSK không chỉ cung cấp thông tin một chiều mà là quá trình tác động qua lại hai chiều và hợp tác giữa người GDSK với đối tượng được GDSK.
Thông điệp GDSK Người làm GDSK Đối tượng GDSK Phản hồi Sơ đồ 1. Quá trình truyền thông (thông tin hai chiều) Quá trình truyền thông khác với quá trình thông tin sức khỏe. Thông tin sức 8 khỏe chỉ đơn thuần là quá trình thông tin một chiều từ người phát tin hay nguồn phát tin đến đối tượng nhận tin[13]. Điểm khác nhau cơ bản giữa quá trình truyền thông và quá trình thông tin SK là việc thu thập các thông tin phản hồi.
Công việc này cho biết các đáp ứng thực tế của đối tượng GDSK (tức là hiệu quả của giáo dục). Nó cũng giúp cho người làm GDSK kịp thời điều chỉnh mục tiêu, nội dung và phương pháp GDSK cho thích hợp hơn với từng đối tượng nhằm làm thay đổi hành vi sức khỏe cũ có hại để hình thành hành vi sức khỏe mới có lợi cho SK. Đây là điều mong muốn của người làm GDSK. Như vậy, GDSK là một quá trình khép kín được khái quát hoá như sơ đồ 1.
Vấn đề sức khỏe Mục tiêu Nội dung Đối tượng Đánh giá GDSK GDSK chính Kết quả Sơ đồ 1.