phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về đánh giá viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập Chƣơng 2. Thực trạng đánh giá viên chức các phòng chức năng tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội Chƣơng 3. Quan điểm và giải pháp hoàn thiện công tác đánh giá viên chức các phòng chức năng tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ VIÊN CHỨC TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1.
Khái quát chung về viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập, viên chức Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Đảng, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tƣ cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nƣớc trong các lĩnh vực nhƣ giáo dục, đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học, văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, lao động - thƣơng binh và xã hội, thông tin truyền thông và các lĩnh vực sự nghiệp khác đƣợc pháp luật quy định (theo Điều 9 Luật Viên chức năm 2010). Điểm khác biệt giữa đơn vị sự nghiệp công lập và các đơn vị khác là nó đƣợc thành lập bởi các cơ quan có thẩm quyền của Đảng, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hoạt động của nó mang tính nghề nghiệp, không mang tính quyền lực nhƣ tổ chức hành chính công. Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập, gồm: Thứ nhất, đơn vị sự nghiệp công lập là đơn vị thuộc cơ quan nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, trong đó chủ yếu là các cơ quan nhà nƣớc; Thứ hai, đơn vị sự nghiệp công lập do nhà nƣớc đầu tƣ, xây dựng cơ sở vật chất để hoạt động.
Tùy từng loại đơn vị sự nghiệp mà Nhà nƣớc có sự hỗ trợ ngân sách ở những mức độ khác nhau; Thứ ba, đơn vị sự nghiệp công lập đƣợc thành lập nhằm cung cấp các dịch vụ sự nghiệp công trong những lĩnh vực Nhà nƣớc chịu trách nhiệm cung ứng chủ yếu cho nhân dân hoặc trong những lĩnh vực mà khu vực phi nhà 11 nƣớc không có khả năng đầu tƣ hoặc không quan tâm đầu tƣ. Việc cung ứng dịch vụ công không nhằm mục đích lợi nhuận. Thứ tư, cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập đang ngày càng đƣợc đổi mới theo hƣớng tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thực hiện hạch toán độc lập. Căn cứ vào cơ chế hoạt động, có thể phân loại đơn vị sự nghiệp công lập thành đơn vị sự nghiệp công lập đƣợc giao quyền tự chủ hoàn toàn, tự chủ một phần về tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự và đơn vị sự nghiệp công lập chƣa đƣợc giao quyền tự chủ hoàn toàn về tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự; Thứ năm, nhân sự tại đơn vị sự nghiệp công lập chủ yếu đƣợc tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc theo hợp đồng lao động, đƣợc quản lý, sử dụng với tƣ cách là viên chức.
Ngƣời đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập (và trong nhiều trƣờng hợp gồm cả thành viên trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị) là công chức (theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật CBCC và Luật viên chức thì từ 01/7/2020, ngƣời đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập không còn là công chức, mà là viên chức quản lý). Điều 10, Luật Viên chức thể hiện chính sách của Đảng và Nhà nƣớc về xây dựng và phát triển các đơn vị sự nghiệp công lập và đội ngũ viên chức với 4 nội dung cơ bản sau: - Nhà nƣớc tập trung xây dựng hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập để cung cấp những dịch vụ công mà Nhà nƣớc phải chịu trách nhiệm chủ yếu bảo đảm nhằm phục vụ nhân dân trong lĩnh vực y tế, giáo dục, khoa học và các lĩnh vực khác mà khu vực ngoài công lập chƣa có khả năng đáp ứng; bảo đảm cung cấp các dịch vụ cơ bản về y tế, giáo dục tại miền núi, biên giới, hải đảo vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. - Chính phủ phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền chỉ đạo việc lập quy hoạch, tổ chức, sắp xếp lại hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập theo 12 hƣớng xác định lĩnh vực hạn chế và lĩnh vực cần tập trung ƣu tiên phát triển, bảo đảm sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả, tập trung nguồn lực nhằm nâng cao chất lƣợng các hoạt động sự nghiệp. Không tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập chỉ thực hiện dịch vụ kinh doanh, thu lợi nhuận.
- Tiếp tục đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập theo hƣớng tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thực hiện hạch toán độc lập; tách chức năng quản lý nhà nƣớc của bộ, cơ quan ngang bộ với chức năng điều hành các đơn vị sự nghiệp công lập. - Nhà nƣớc ban hành chính sách xây dựng, phát triển đội ngũ viên chức có đạo đức nghề nghiệp, có trình độ và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của khu vực cung ứng dịch vụ công; phát hiện, thu hút, bồi dƣỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng đối với ngƣời có tài năng để nâng cao chất lƣợng phục vụ nhân dân. Những ngƣời tham gia hoạt động trong các đơn vị sự nghiệp thỏa mãn đƣợc những tiêu chí nhất định khác nhƣ về tuyển dụng, chế độ làm việc, nguồn hƣởng lƣơng thì đƣợc gọi là viên chức. Khái niệm viên chức đƣợc sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật thay đổi theo từng thời kỳ tùy thuộc vào quan điểm của Nhà nƣớc về đội ngũ này.
Hiến pháp 1992 sử dụng cụm từ “cán bộ, viên chức” để chỉ chung những ngƣời làm việc tại các cơ quan nhà nƣớc, đơn vị sự nghiệp công lập (Điều 8). Theo đó, viên chức là một khái niệm rất rộng, có khi dùng để chỉ một phạm vi rộng lớn những ngƣời làm việc trong cả bộ máy, tổ chức nhà nƣớc. Viên chức theo cách hiểu ở trên không đƣợc sử dụng nguyên nghĩa trong các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực thấp hơn. Tại Pháp lệnh cán bộ, công chức ban hành năm 1998, cụm từ đƣợc sử dụng là “cán bô, công chức”.
Khi Pháp lệnh này đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2003, lần đầu tiên viên chức đƣợc tách riêng thành một nhóm, phân biệt với công chức. Điểm d, Điều 1 Pháp lệnh quy định viên chức là “những 13 ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc đƣợc giao giữ một nhiệm vụ thƣờng xuyên trong đơn vị sự nghiệp của nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội”. Theo quy định này, viên chức là một nhóm nhỏ thuộc một tập hợp lớn hơn là cán bộ, công chức. Hai đối tƣợng công chức và viên chức tiếp tục có sự thay đổi tại hai luật mới ban hành là Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Luật Viên chức 2010.
Đối tƣợng công chức đƣợc liệt kê một cách rõ ràng hơn tại Nghị định 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ. Ngƣời lãnh đạo đơn vị sự nghiệp công lập trƣớc đây đƣợc xếp vào đối tƣợng viên chức thì nay đƣợc chuyển sang nhóm đối tƣợng công chức. Theo điều 2, Luật Viên chức số 58/2010/QH12 đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15/11/2010 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2012) thì Viên chức đƣợc quy định nhƣ sau: “Viên chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hƣởng lƣơng từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Về cơ bản, tác giả thống nhất và đƣa ra khái niệm viên chức nhằm làm rõ hơn và cho rằng:“Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý tương ứng làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan có thẩm quyền của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập, làm việc theo chế độ hợp đồng lao động, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
Vị trí, vai trò của viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập Trong tổng thể các yếu tố cần thiết cho sự phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH) của quốc gia nói chung và từng địa phƣơng nói riêng thì nhân tố con ngƣời luôn đƣợc xác định là yếu tố cơ bản, quan trọng, có tính chất quyết định 14 và giữ vai trò chi phối đối với các yếu tố khác. Điều này luôn đƣợc khẳng định và chứng minh bởi quá trình xây dựng và phát triển của nhiều quốc gia trong khu vực và thế giới. Ngày nay, sự giàu mạnh của một quốc gia không còn phụ thuộc quá nhiều ở diện tích lớn hay nhỏ, dân số đông hay ít và tài nguyên có phong phú, đa dạng hay không,…. Đội ngũ viên chức đơn vị sự nghiệp công là một bộ phận của nguồn nhân lực khu vực công - yếu tố cấu thành quan trọng của nguồn nhân lực xã hội mà những đóng góp của họ luôn có vai trò đặc biệt to lớn trong toàn bộ thành tựu phát triển chung về KT-XH, về cung ứng dịch vụ công của quốc gia và địa phƣơng.
Khẳng định vai trò của đội ngũ này trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”. Quan điểm này tiếp tục đƣợc nhấn mạnh trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ƣơng khóa VIII: Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nƣớc và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, mỗi quốc gia muốn phát triển và giữ đƣợc nhịp độ phát triển kinh tế đều không thể không chú ý đến sự ổn định, công bằng và tiến bộ xã hội.